Đánh giá ASUS GeForce GTX 1050 Ti Expedition

at 2017.01.17
With 0 Comments

2016d399095e-93ae-4fc1-8b98-1894b921e8d3

Ngôi sao chính của ngày hôm nay là chiếc card GTX 1050 Ti mang thương hiệu ASUS. Thoạt trông bạn có thể nghĩ đây là bản custom. Nhưng thực tế thì [NVIDIA không làm ra bản reference REF cho bộ đôi này (chỉ có phần partner gallery ở trang chủ sản phẩm). Hãng để cho các đối tác tự do chế biến theo ý thích của mình. Do đó nếu bạn là một fan “hardcore” của NVIDIA và muốn tìm mua bản Founder Edition dựa trên GTX 1050 Ti, câu trả lời lần này là KHÔNG!

Và vì không có bản REF, nên thực tế mức tiêu thụ điện cũng như nhiệt độ của GTX 1050 Ti sẽ tuỳ thuộc đối tác AIB. Chiếc card mà ASUS cung cấp cho chúng tôi hôm nay có thông số kỹ thuật khớp với những gì NVIDIA cung cấp. Do vậy từ đây về sau, chúng tôi sẽ xem kết quả của GTX 1050 Ti Expedition tương đương như bản REF (nếu có) của NVIDIA.

Là một sản phẩm phổ thông với giá thành không cao, nhìn chung GTX 1050 Ti Expedition chỉ có những đặc điểm mà… mọi chiếc card đồ hoạ đều có. Nó có thiết kế dual-slot, full-height với chiều dài 212 mm. Khi gắn vào thùng máy, chiếc card này sẽ chiếm thêm một phần không gian dài hơn chiều dài khe PCIe khoảng 3 đốt ngón tay (thường sẽ nằm ở phía trên chipset của mainboard).

Ở phía đuôi chiếc card, bạn sẽ có 3 cổng tín hiệu HDMI, DisplayPort và DVI. Cần lưu ý AMD lẫn NVIDIA đã chính thức bỏ chuẩn analog từ 2015 nên cổng DVI này là DVI-D (digital). Có nghĩa rằng nếu vẫn sử dụng màn hình chỉ có cổng D-Sub thì bạn hãy mua ngay màn hình khác hoặc nói lời chia tay với những chiếc card mới. Và tại sao chi tiết này quan trọng thì có hiện có rất nhiều cafe Internet vẫn còn dùng những màn hình cũ, một số trong chúng vẫn “trung thành” với cổng D-Sub 15 chân “truyền thống”. Còn nếu đi mua (lại) màn hình (cũ) thì bạn hãy check xem nó có bị giới hạn loại cổng giao tiếp hay không.

Mặt sau của chiếc card cũng không có gì nổi bật. Ngoài 4 con ốc trắng để giữ khối tản nhiệt với GPU và một số ốc đen để bắt vỏ nhựa vào PCB thì chúng ta không còn gì đặc biệt ở đây. Ngoại trừ việc tinh ý một tý, bạn sẽ thấy có 6 lỗ hàn để gắn thêm đầu bổ sung nguồn PCIe. Song các lỗ này được bỏ trống cho thấy ASUS có dự định sử dụng chung PCB cho cả bản stock và bản OC (có thể là Strix) về sau này. 2 vị trí hàn đèn LED được bỏ trống ở phía trên cho thấy rõ điều đó. Song đây là bản có thông số y hệt REF nên các chi tiết trên không cần thiết tại thời điểm này.

Hãy thử gỡ bỏ khối tản nhiệt ra và xem chúng ta có gì.

Bên dưới 2 chiếc quạt làm mát 80 mm và khối tản nhiệt bằng nhôm che gần hết sản phẩm, PCB của chiếc card lộ diện. Có mức TDP chỉ 75 W, rõ ràng ASUS không cần phải dùng đến các đường điện thật hoành tráng. Tổng số phase điện chúng ta có ở đây là 3 + 1 (3 cho GPU, 1 cho VRAM). Soi kỹ hơn một chút, vẫn còn 1 phase điện cho GPU chưa được gắn linh kiện. Rất có thể với bản Strix, ASUS sẽ bổ sung thêm các chi tiết còn thiếu này.

Thông số kỹ thuật – Cấu hình test

Trước khi đào sâu vào phần chính của bài viết, bạn hãy điểm qua cách chúng tôi đánh giá các sản phẩm đồ hoạ.

Hệ thống phần cứng

  • – CPU : Intel Core i7-6700K @ 4 GHz (turbo đến 4,2 GHz)
  • – Mainboard : Chipset Intel Z170, socket LGA 1511
  • – RAM : 2 x 8 GB DDR4-3000 Dual Channel
  • – SSD : Intel SSD 750 400 GB
  • – PSU : SeaSonic SS-1050XM2
  • – Monitor : LG 24MP88HM Full HD
  • – VGA : ASUS GTX 1050 Ti Expedition, ASUS Strix RX 460 OC (chạy ở xung REF), ASUS Strix RX 470 OC (chạy ở xung REF), ASUS Strix RX 480 OC (chạy ở xung REF)

Phần mềm sử dụng

  • – OS : Windows 10 Pro 64-bit Anniversary Edition
  • – Driver : Crimson 16.9.2, ForceWare 357.57
  • – Futuremark 3DMark (2013) Fire Strike, Fire Strike Extreme, Time Spy (DirectX 12)
  • – Futuremark 3DMark 11 Performance, Extreme
  • – MAXON Cinebench R15 OpenGL
  • – FinalWire AIDA64 GPGPU Single Precision, Double Precision, AES-256, SHA-1
  • – Sid Meier Civilization VI max setting, low setting
  • – Square Enix Final Fantasy XIV max setting, high (desktop) setting
  • – Capcom Resident Evil 6 medium setting (no AA), high setting (FXAA3HQ)
  • – Capcom Lost Planet 2 (DirectX 11) medium setting (no AA), high setting (4x MSAA)
  • – Capcom Monster Hunter Online no AA, 4x AA
  • – Ubisoft Far Cry 4 medium setting (no AA), ultra setting (SSBC, 4x MSAA)
  • – Rockstar Games Grand Theft Auto V normal setting (no AA, shadow OFF), max setting (4x MSAA, shadow ON)
  • – Rockstar Games Max Payne 3 normal setting (no AA, SSAO), very high setting (4x MSAA, HDAO)
  • – Rebellion Sniper Elite V2 medium setting, max setting
  • – 4A Games Metro Redux (No PhysX) medium setting (SSAA OFF, 4x AF, Motion OFF, Tessellation OFF) , max setting (SSAA ON, 16x AF, Motion ON, Tessellation ON)
  • – Unigine Heaven (DirectX 11) medium setting (Tessellation Moderate, no AA), max setting (Tessellation Extreme, 4x AA)

Thông số card đồ hoạ

2016e0792dd3-7a95-4d14-9460-acf2cea2ae42

Kết quả benchmark

Kết luận

Dù nhân vật chính của hôm nay là GTX 1050 Ti, cũng như chúng tôi không có ý định đi sâu vào hoạt động kinh doanh của AMD lẫn NVIDIA, song nếu chỉ nhìn các con số thì ta khó lòng hiểu được tại sao chiếc card này lại cho hiệu năng game ngang ngửa với RX 470, ít nhất là với các phép thử ở trên.

Chi tiết đầu tiên là độ phân giải sử dụng. Bạn có thể thấy Full HD (1080p) không phải là độ phân giải lớn nhất hiện tại, song đây là độ phân giải mà *90% game thủ Việt Nam đang sử dụng*. Các con số khác như Quad HD (1440p) hay 4K UHD (2160p) hiện có rất ít người dùng sở hữu được. Một vấn đề khác nữa là các sản phẩm mà chúng tôi test hôm nay đều nhắm vào phân khúc phổ thông với giá thành dưới 200 USD (tại Mỹ). Do vậy khả năng có người dùng chúng với màn hình độ phân giải cao hơn trong thực tế là rất ít. Tất nhiên có thể ở 4K UHD thì card AMD sẽ mạnh hơn, nhưng ở mức < 24 fps thì điều đó cũng không có ý nghĩa thực tiễn gì. Chúng tôi đánh giá một chiếc card chơi được khi mức fps trung bình phải > 24.

badge300__silver

Chi tiết tiếp theo (có lẽ là nguyên nhân chính) chúng tôi xem xét là tình hình của AMD (lẫn NVIDIA). Trong vài năm qua, AMD đã có nhiều lần tái cấu trúc tập đoàn và cắt giảm nhân sự. Các hoạt động đó ít nhiều ảnh hưởng tới các dự án và sản phẩm tương lai của hãng. Tình trạng thiếu nhân lực chắc chắn sẽ khiến cho một số công việc bị đình trệ mà cụ thể ở đây là việc tối ưu cho các game. NVIDIA thì ngược lại. Từ lâu phe xanh đã có tiếng quan hệ tốt với các studio game và hãng này luôn có một bộ phận nhân sự chỉ để tối ưu hiệu năng card cho game. Hệ quả là driver của NVIDIA thường ổn định hơn còn driver AMD phải mất một thời gian mới chạy tốt.

Nếu đấy là nguyên nhân thực sự, thì bạn có thể nói rằng những chiếc card Polaris của AMD hiện vẫn chưa phát huy được tối đa sức mạnh của chúng. “Cơ bắp” của chúng có thể khoẻ, nhưng “kinh nghiệm” thì vẫn thiếu sót. Còn NVIDIA tuy “cơ bắp” không cường tráng nhưng “kỹ năng” được trau dồi liên tục. Và GTX 1050 Ti của hôm nay là minh chứng cho điều đó. Một chiếc card có TDP 75 W không cần tới nguồn phụ, vẫn cho sức mạnh ngang ngửa chiếc card TDP 120 W dù có giá thành cao hơn và nhiều nhân xử lý hơn. Rõ ràng các kỹ sư của NVIDIA đã làm rất tốt, ít nhất là ở trận đấu này.

Leave a Reply

You must be logged in to post a comment.