Chế Lan Viên nhà thơ, nhà báo, nhà văn

https://dantri.com.vn/van-hoa/che-lan-vien-nha-tho-nha-bao-nha-van-20200603101327944.htm
"Xưa làm thơ, tôi hít hương trên ngọn cây, giờ làm báo tôi phải nếm cả rễ cây dưới đất" (Chế Lan Viên).
Chế Lan Viên, anh là ai?
Là một trong những nhà thơ hàng đầu nước Việt Nam thế kỷ XX. Nhận định ấy từ lâu đã nhận được sự đồng thuận của nhiều người, chẳng có gì phải bàn.
Chế Lan Viên nhà thơ, nhà báo, nhà văn - 1


Nhấn để phóng to ảnh
Nhà thơ Chế Lan Viên.
Qua hai thập niên đầu thế kỷ XXI, lại có thêm nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong nước hoặc sống tại nước ngoài, nghiên cứu sinh tiến sĩ quan tâm tìm hiểu, và hầu như đều không tiếc lời ca ngợi thơ Chế Lan Viên. Vậy là anh đã vượt qua cái nghiệt ngã của thời gian, ta có thể yên tâm loại nốt ba từ “thế kỷ XX”.
Chế Lan Viên là một trong số những nhà thơ hàng đầu của Việt Nam từ xưa tới nay.
Chế Lan Viên, anh là ai?
Là một nhà viết văn xuôi với phong cách độc đáo, nhiều người từng khen bút ký triết luận Chế Lan Viên.
Tôi nghĩ không phải lúc nào Chế Lan Viên cũng có chủ ý luận bàn triết học, và không riêng các thể loại văn chương như tùy bút, tiểu luận, tạp văn…, cả đến những bài phóng sự làm theo đơn đặt hàng của các báo, hay khi cần phải trả lời phỏng vấn một chủ đề thời sự, tức là công việc báo chí trăm phần trăm, cách diễn đạt của anh dù nóng hổi thời cuộc vẫn bàng bạc ít nhiều suy tưởng khiến người đọc liên tưởng đến những chuyện xa vời.
Chế Lan Viên nhà thơ, nhà báo, nhà văn - 2


Nhấn để phóng to ảnh
Từ trái sang: các nhà thơ Nông Quốc Chấn, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông.
Phong cách văn xuôi của Chế dựa trên hai nền tảng: cái gen di truyền đã trở thành truyền thống, và nghị lực không ngừng vươn tới cái đẹp hơn, hay hơn. Cái nền trước tạo môi trường, cái nền sau bồi bổ và nâng cao; nhìn từ góc độ khác, có thể nói đó là số thành của quá trình đọc, học, suy ngẫm, thực hành không ngưng nghỉ.
Chất triết luận trong văn Chế Lan Viên bàng bạc ở mọi thể loại là kết tinh của đầu óc sáng tạo, khát khao hiểu biết, thường xuyên bồi bổ tri thức của mình, từ đó tìm cho mình một lối đi riêng khi cần giải lòng với công chúng - từ những sự kiện trọng đại đến những việc nhỏ trong cuộc sống ngày thường, “các vụ cãi nhau trong gia đình và ở Quốc hội Mỹ, những vụ nổ ngoài đường và vụ nổ trên mặt trời” (CLV, 1988), nhờ vậy tạo cho mình một văn phong khó lẫn với ai.
Đối với Chế Lan Viên, đọc là học. “Đọc để thấy cái yếu của mình”. Từ những ngày xông xáo ở chiến trường đến những đêm thui thủi trong bệnh viện nước ngoài, nơi “anh sợ đêm khuya lòng ở một mình”, Chế Lan Viên không ngừng đọc sách và suy ngẫm.
Anh có lần tâm sự với tôi qua một bức thư viết năm 1957 từ bệnh viện ấy: “... Để khỏi phí thì giờ, Hoan vẫn ghi vẫn học... Pablo Neruda càng đọc càng thích... Nếu Neruda phản ánh sự đấu tranh bên ngoài thì (Paul) Eluard nói lên sự đấu tranh bên trong... Đỗ Phủ tính nhân văn, tính hiện thực cao độ... Hoan đọc sách, nhưng cố gắng không để cho sách vở che lấp cuộc sống. Hoan đọc và suy nghĩ thêm (về những điều vừa đọc). Hiện thực nếu chỉ nhờ bằng con mắt và lỗ tai, voir (thấy) mà không savoir (biết), thì rồi viết ra cũng sẽ bôi hồng hay tô đen thôi... Hoan không thích những nhà văn viết ra tác phẩm như con kiến bò lên cột nhà mà leo; cố nhiên là Hoan cũng không thích những con kiến không bò, giơ chân lên mà hỏi là chân thứ mấy… Hoan thích những nhà văn luôn đặt vấn đề về cuộc sống, về nghệ thuật, luôn luôn tự hỏi mình và trả lời mình, hỏi giúp người khác và trả lời giúp người khác...”.
Chế Lan Viên, anh là ai?
Có phải là nhà văn thuộc trường phái tượng trưng, siêu hình…? Có và không.
Chất triết học siêu hình trong văn xuôi Chế Lan Viên thể hiện ở một số bài, không phải tất cả, trong tập Vàng sao (Nhà xuất bản Tân Việt, 1942), và đặc biệt tại bài Con kiến (Tạp chí Sáng tạo, Liên Khu IV, 1948).
Tập Vàng sao, mà tác giả ghi là “Tạp văn 1937-1942” chỉ có tám bài, dày chừng 50 trang sách, trong đó có bài là những kỷ niệm đẹp về tuổi thiếu niên. Gần đến Giao thừa, cha anh - “người già quá rồi” - chờ con trai ra cùng cha làm lễ dâng sao giải hạn, đón mừng năm mới, và mẹ anh, “mẹ sầu đau ngiêng xuống bên mình”, đánh thức con dậy.
Sợ con trai cứ thế chạy luôn ra sân đã thắp sáng hai mươi tám cây nến, mẹ “một lần nữa ngọt ngào: Thau rửa mặt đã có đây rồi, rửa muối lại cho sáng mắt. Nước súc miệng cũng múc sẵn cho con kia. Rồi mẹ đưa cho con mấy chiếc quần áo mới. Đường ủi () quá thẳng khiến tôi ngập ngừng tự hỏi, mình sẽ mở ra sao?”. Sau những kỷ niệm ấy, chàng trai 17 tuổi băn khoăn: “Ai thử giảng cho tôi vì sao giữa buổi ngọt ngào mùa xuân đi đến kia, vẫn có những ánh sao rơi... Muôn vàn ý buồn tuôn theo suối sáng muôn sao”.
Chế Lan Viên nhà thơ, nhà báo, nhà văn - 3


Nhấn để phóng to ảnh
Từ trái: Họa sĩ Văn Bình, nhà thơ Chế Lan Viên, nhà báo Phan Quang, nhà thơ Gia Ninh (Ảnh chụp tháng 10/1949 tại Đô Lương, Nghệ An trước khi nhà thơ Chế Lan Viên và nhà báo Phan Quang lần lượt lên đường vào chiến trường Bình Trị Thiên).
Đọc bức thư anh gửi tôi năm 1957, tôi trầm ngâm tự hỏi: “Con kiến” nào vậy? Phải chăng đó là con kiến mà mùa hè năm 1948, khi tôi vừa từ vùng địch hậu Bình Trị Thiên ra Thanh Hóa rồi đến nhận việc tại báo Cứu quốc, Chế Lan Viên đưa số tạp chí vừa mới in xong, mở sẵn trang có đăng bài “Con kiến” của anh, bảo tôi đọc.
Tôi đọc cẩn thận bài ấy, nhưng không hiểu anh muốn nói gì và hoàn toàn không thích, cứ lẳng lặng đưa trả lại anh số tạp chí. Phải chăng đó chính là “con kiến giơ chân lên mà hỏi” nhà thơ sẽ nhắc tới mười năm sau, trong bức thư gửi bạn?
Chế Lan Viên sinh ra trong một gia đình đậm cuộc sống tâm linh như phần đông các gia đình người Việt Nam ta thời trước, coi việc thờ cúng tổ tiên, lễ bái thần linh là nhu cầu và nghĩa vụ tại cuộc đời trần thế.
Tuổi thiếu niên cậu Hoan trôi qua trong một gia đình sùng đạo Phật, đêm đêm thân phụ anh ngồi trước bàn thờ nguyện cầu Đức Phật tổ Như lai, tiếp đó thân mẫu anh xong công việc nội trợ trong ngày lại đến bàn thờ gõ mõ tụng kinh, tụng thuộc lòng vì bà không biết đọc. Đến dịp Tết cổ truyền, gia đình anh lại lập đàn “dâng sao giải hạn”. Thế nhưng suốt cả năm, ngày lại ngày, đều đặn hơn, uy nghi hơn, hùng tráng hơn, vào lúc sáng tinh mơ và trước khi mọi người đi ngủ, lại dõng dạc ngân vang tiếng chuông nhà thờ Thiên chúa giáo ở gần đâu đấy, nhắc con chiên đọc kinh cầu xin Đức Chúa Trời và Mẹ Đồng Trinh xá tội.
Khi chàng trai lớn lên, đêm đêm một mình dạo bước trong thành Bình Định, mơ hồ nhìn ngắm các Tháp Chăm xa xa, chàng lại gặp nàng Chiêm nương đôi mắt mở to trên tòa tháp cổ:
Chiêm nương ơi…
Nhìn chi em chân trời xa vời vợi
Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta.

(CLV, Điêu tàn, 1937)
Môi trường tâm linh ấy khiến chàng trai phải thốt lên: “Thích Ca! Jésus! Khổng Khâu! Lão Tử! Tôi đều thành tâm cúi đầu trước uy linh huyền diệu của các Ngài” (CLV, Vàng sao, 1942).
Mặt khác, trong khoảng thời gian chưa tới tám năm, từ sau thành công của “Điêu tàn” năm 1937 đến trước ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhất là những ngày anh rời Quy Nhơn vào Sài Gòn làm báo hay ra Hà Nội học thêm, nhà thơ gặp và say mê các trường phái tượng trưng, siêu hình, đa đa (dadaisme) cùng bao nhiêu thứ isme khác nối chân nhau xuất hiện như thời trang, đến người Pháp chỉ một thời gian sau đó cũng chẳng mấy ai buồn nhớ đến.
Dù vậy cả tam - tứ giáo Đông phương cũng như các học thuyết tượng trưng, siêu thực siêu hình Tây phương vẫn không giải tỏa được nỗi niềm của chàng trai:
Từ trước khi cách mạng đến, tôi đã đi về xứ sở siêu hình. Khá xa.”
Tuy nhiên điều đó chỉ đậm nét một thời gian.
Nhìn lại cả sự nghiệp văn xuôi của anh, tập Vàng sao chỉ dày có hơn 50 trang sách, nếu cộng thêm bài Con kiến nữa thì văn xuôi triết luận được anh công bố trước sau cũng chỉ vào khoảng 60-70 trang sách là cùng, so với gần 3000 trang văn xuôi trong Chế Lan Viên toàn tập[1]!
Chừng ấy thôi ẫn là sức cản nặng nề, khiến cuộc đời và sự nghiệp của anh từng
Đi nhanh mà về chậm
Biết bao là nhiêu khê

(CLV, 1961)
Chế Lan Viên không phải là con người quá nặng cuộc sống tâm linh, anh luôn chê trách hủ tục mê tín dị đoan, căm ghét những kẻ lợi dụng tôn giáo làm những điều không đẹp. Tâm tư của anh thể hiện qua thơ, những dòng thơ dưới dạng phác thảo, những ý thơ vọt tự đáy lòng.
Ngày 21-12-1985, Hội Nhà văn tổ chức lễ tiễn đưa nhà thơ Xuân Diệu về cõi vô cùng. Xúc động trước lời than của Hà Xuân Trường bên quan tài Xuân Diệu: “…Mái tóc anh vốn ưa gội gió trời, vầng trán anh ưa va đập với bầu trời của trăm quê vạn nẻo, sao bây giờ anh lại dừng bước? Một cây lớn nằm xuống, cả khoảng trời trống vắng. Diệu ơi! Anh còn nghe không anh, anh có thấy không anh?”, Chế Lan Viên cũng thốt lên nhưng chỉ mình nói với mình:
Diệu đi trước rồi chúng mình đi tiếp
Diệu nằm trong thơ chứ đâu ở quan tài

(CLV, 1985)
Nhà văn Vũ Thị Thường người bạn đời của Chế Lan Viên có dịp kể lại qua một bức thư gửi kẻ viết bài này hai câu chuyện: “Chuyện thứ nhất: năm 1979, cậu ruột tôi mất, chúng tôi tới viếng. Khi nhà sư bắt đầu gõ mõ tụng kinh, mọi người ngồi xuống kính cẩn chắp tay cúi đầu, tôi cũng định ngồi xuống theo thì anh ấy níu tay tôi cản lại, chứng tôi cứ đứng như thế hơn nửa giờ mỏi nhừ cả chân, sau này nhớ lại, tôi vẫn thấy mình lúc ấy đúng là "quá tả". Mà anh ấy lại rất yêu quý cậu tôi chứ có không đâu! Chuyện thứ hai: vào những năm cuối 1980, mỗi khi ra Hà Nội họp về, nhà tôi thường chán ngán kể những chuyện mê tín cầu cúng lăng nhăng, mà những năm ấy thì đã thấm gì so với những chuyện “nhân danh tâm linh buôn thần bán thánh” bây giờ!”.
Họ giết tôn giáo mà lại tạo ra thần linh
Hay giết thần linh và tạo ra tôn giáo
Lâu lâu lại đổi thần linh
Như người ta đổi tiền
Hay đổi nhân tình, cà vạt…

(CLV, 1988)
Đến những ngày cuối cùng chuẩn bị đi xa, anh tâm sự:
Tôi thu dọn người mình như người sắp về quê cũ
Chả cần gì thêm
Chừng này đã đủ
Chừng này thương, chừng này giận dữ
Chừng này hoa, chừng này bão tố
Đi bình yên…
Nam mô A-di-đà Thượng đế Amen!

(CLV, 1988)
Nhưng đấy là thơ, đâu có phải là văn xuôi triết luận!
Chế Lan Viên, anh là ai?
Là một nhà báo năng động, gắn bó gần cả đời cầm bút với cái nghề “hèn mọn mà lại cao cả, cái nghề cũ và là nghề chính của tôi trong thời kỳ chống Pháp” (CLV, 1988). Anh là người thầy dẫn dắt kẻ viết bài này bước vào nghề báo, “cái nghề bạc bẽo mà chúng tôi rất trung thành”, lại là làm báo hằng ngày, “vất vả như nuôi con mọn, nó khóc, nó quấy, nó đòi ăn”.
Anh dạy tôi, ít lâu sau khi hòa bình vừa lập lại trên một nửa nước, cần say mê với nghề báo nhưng phải biết hài hòa tác động qua lại giữa báo và văn; nên hăng hái đi thực tế tại các địa phương xa, chớ có tự nhốt mình trong Hà Nội dù đất Hà thành có quyến rũ đến mấy.
Hồi ấy tôi đang thời “tím ngát tuổi hai mươi”, nuôi nhiều ảo mộng văn chương lắm, đã có lúc nghĩ tới chuyện chia tay chàng báo về với nàng văn, anh chia sẻ với bạn qua bức thư viết dưới dạng tâm tình với chính anh: “... Hoan sợ nghề báo như nước lụt ngập hết cả công việc sáng tác, nhưng nếu nó là một mức nước ngấm chân cây lúa, giữ ta trong những nhiệm vụ lớn, giúp ta gần với phong trào, vui buồn đau khổ chung thì nó chẳng hại mà có ích cho nghề văn...” (CLV, 1957).
Nhiều năm sau, trả lời thư bạn đọc báo Văn Nghệ, tác giả “Ánh sáng và phù sa” qua bút hiệu Chàng Văn, khái quát: “Bài báo khác bài văn. Cách làm việc của nhà báo cũng khác nhà văn. Nhưng nhà báo đồng thời có thể là nhà văn, hơn thế, nhà văn nên làm cả một nhà báo” (CLV, 1962).
Chế Lan Viên nhà thơ, nhà báo, nhà văn - 4
 
Top