thảo luận Chuyện cà phê của người anh em Đông Đức với Việt Nam

Jzi307

Junior Member
Nhắc đến lịch sử cà phê ở Việt Nam mọi người thường nghĩ tời Pháp bởi Pháp là nước đã đem cây cà phê đến Việt Nam. Tuy vậy nhiều người chưa biết tới quan hệ của Đông Đức và Việt Nam trong ngành cà phê.

Năm 2016, Đức là nước nhập khẩu cà phê số 1 của Việt Nam. Sau năm 1990, Việt Nam dần trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới sau Brazil. Năm 1980 – trước đó 10 năm, thỏa thuận đã được kí giữa Việt Nam và Đông Đức, Đông Đức sẽ đầu tư cơ sở vật chất máy móc để mở rộng vùng trồng cà phê, đào tạo nông dân kĩ thuật canh tác để đổi lại là 1/2 sản lượng cà phê trong 20 năm sau. Điểm khởi đầu của chuỗi sự kiện này là: cuộc khủng hoảng cà phê 1977 – EAST GERMANY COFFEE CRISIS.

Bài này e có đăng ở page Cotero Roastery nhưng những phần ở đây sẽ nói thêm về chính trị :D

Câu chuyện cà phê giữa Đông Đức và Việt Nam

Phần 1: Bối cảnh Đông Đức

Theo nhiều khía cạnh, Chiến tranh Lạnh đã xác lập trật tự quyền lực thế giới bấy giờ. Trong tình hình đó Đông Đức đã cố gắng xoay sở nhưng cuối cùng tự tạo ra cuộc khủng hoảng cho chính họ. Sự cạnh tranh chính trị giữa Tây Đức và Đông Đức như là một mô hình thu nhỏ của cuộc chiến lý tưởng giữa 2 thế lực cường quốc Soviet và Mỹ. Khi mà Tây Đức công bố chính sách ngoại giao Hallstein, với mục đích cô lập Đông Đức khỏi cộng đồng quốc tế bằng cách tư phong cho mình quyền đại diện duy nhất cho nước Đức trên lãnh thổ Đức và đe dọa sẽ xóa bỏ quan hệ ngoại giao vs giao thương với bất kì quốc gia nào (trừ Soviet) công nhận Đông Đức là 1 quốc gia chính thức. Cho đến khi 2 miền nước Đức kí Thỏa Thuận Nền Tảng năm 1972, Đông Đức vô cùng hạn chế trong giao thương, làm cho Đông Đức dành hầu hết nỗ lực ngoại giao để được quốc tế công nhận.

Sự cạnh tranh này còn tác động trực tiếp đến chính sách đối nội và sự xung đột chính sách của Đông Đức khi mà Đông Đức ngày càng muốn cạnh tranh trực tiếp với sự phát triển kinh tế thịnh vượng của Tây Đức. Sau những năm 50, hàng lương thức thực phẩm đã gia tăng , năm 1958, Đông Đức đạt được ngưỡng dinh dưỡng cần thiết cơ bản cho mỗi người dân kết thúc 20 năm thiếu hụt lương thực. Áp lực cạnh tranh với phía Tây càng tăng sau những năm 50, một phần để chống việc Phía Tây tự phong là đại diện duy nhất cho toàn nước Đức và hơn hết là để chống lại suy nghĩ Đông Đức đang bị Tây Đức bỏ rất xa trong khía cạnh chất lượng cuộc sống. Bởi sự thính vượng giàu có của Phía Tây, rất nhiều người rời bỏ Phía Đông, tạo nên 1 cuộc di cư khổng lồ “Flight from Republic”, gần 3,5 triệu người đã từ di cư từ Phía Đông sang Phía Tây trong những năm 50, trong đó có rất nhiều các chuyên gia trẻ. Hội nghị Đảng lần thứ 5 tháng 7 năm 1958 kế hoạch “Main Economic Task” (Nhiệm vụ Kinh tế trọng tâm) được đề ra: Tăng lượng tiêu thụ trên đầu người vượt qua mức trung bình của Tây Đức vào năm 1961. Cải thiện cung cấp thực phẩm như cà phê là một trong những cách mà chính quyền cố làm cho Đông Đức trở nên là một nơi hấp dẫn để sinh sống và cải thiện cuộc sống của công nhân giai cấp trong nhìn nhận của SED – đảng cầm quyền Đông Đức là những nhân tố tiên phong trong Văn hóa của cuộc Chiến Tranh Lạnh toàn cầu. Tuy nhiên chiến lược này gắn chặt tín nhiệm chính trị của SED với khả năng thực hiện trọn vẹn lời hứa. Và để duy trì sự cung cấp này là gánh nặng khổng lồ với một nước lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường cà phê thế giới, đặc biệt là khi giá cà phê gấp 4 lần bình thường vào năm 1977.

Sự thiếu hụt cà phê thúc đẩy GDR (đông đức) kết nối với các nước sản xuất trên thế giới. Và kết quả của những thương vụ cho thấy mục đích của GDR bằng việc tiếp cận với các nước sản xuất cà phê GDR xây dựng hình ảnh của họ như 1 nước tiến bộ và toàn cầu hóa. Những thương vụ này là 1 điểm đặc biệt trong bối cảnh lớn của thế giới lưỡng cực vẫn được nhắc đến trong lịch sử Chiến trạnh lạnh thường được nhắc tới như show diễn sức mạnh của các cường quốc. Những giao thường này còn cho thấy một ví dụ về khả năng của GDR thúc đẩy thành công quan hệ song phương với các nước yếu thế trong trật tự quyền lực ở cuối Cold War.
 
Top