Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới

Đế chế Ottoman đã gây ảnh hưởng trên toàn bộ khu vực châu Á - Âu - Phi, tạo ra một diện mạo chính trị mới của thế giới kể từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 17.

Đế chế Ottoman theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nghĩa là "Đế chế Ottoman Tối cao" tồn tại suốt 624 năm (1299 - 1923), là một trong những đế chế lớn nhất và tồn tại lâu nhất trong lịch sử nhân loại. Cũng như các đế chế khác, muốn thành công thì Ottoman đã tuân thủ những giá trị cốt lõi.

Bất kì một đế chế nào, nếu muốn duy trì sự phát triển bền vững cần tạo dựng cho mình không chỉ sức mạnh quân sự mà cần một nền tảng tri thức vững chắc.
Trong khi các đế chế khác nhanh chóng lụi tàn vì không cai quản được một diện tích lãnh thổ quá rộng lớn, đa dạng sắc tộc, văn hóa,… thì Ottoman giữ được sự cường thịnh bền vững trong hàng trăm năm. Ottoman có những biện pháp cai trị đất nước rất hữu hiệu.
Đế chế này học hỏi và hợp nhất chính sách trị dân của hoàng đế La Mã với chính sách trị dân của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ. Nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, các Sultan (nhà vua) có quyền lực tối cao. Nhưng triều đình cũng tạo ra một thể chế pháp lý millet – khu vực tự trị, các dân tộc và tôn giáo có sự độc lập đáng kể dưới quyền kiểm soát của trung ương. Các thái tử và hoàng thân cũng được chia khu vực để cai trị.
Dưới sự cai trị của các Sultan, nhiều thư viện, trường học đã được xây dựng. Các quan viên được huấn luyện bài bản để đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính do lãnh thổ đế quốc càng lúc càng mở rộng. Thanh thiếu niên ở các giáo khu Thiên Chúa giáo, tù binh 10-15 tuổi cũng bắt buộc phải đến trường học. Chương trình học kéo dài 10-12 năm, bao gồm các môn như ngữ văn, văn học, nhạc, pháp luật, thần học, quân sự, toán, triết học Hồi giáo, quản lý học… Những học sinh nào không qua được các kỳ kiểm tra sẽ bị đuổi học ngay.
Để nâng cao chất lượng giáo dục, các Sultan cho mời nhiều học giả nổi tiếng trong giới Hồi giáo cũng như tại châu Âu thời đó về giảng dạy. Trường học và các khu thực hành cũng được đầu tư phát triển liên tục. Các Sultan cũng thường xuyên đến các trường học để quan sát và đích thân truyền đạt kiến thức cho học sinh. Chính sách giáo dục triệt để đã nâng cao nhận thức dân tộc, tạo nên một khối sức mạnh thống nhất, đồng thời thúc đẩy sự phát triển cực thịnh, bền vững của đế chế Ottoman.
Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới - ảnh 7
Bên cạnh đó, chính sách tự trị nhưng vẫn hợp nhất trong một chính thể quân chủ giúp cho Ottoman có thể dễ dàng cai trị lãnh thổ rộng lớn, mọi nguồn lực quân sự, tài nguyên… vẫn quy về một mối tạo nên sự cường thịnh cho đế chế Ottoman.
Phần lớn người Ottoman theo đạo Hồi giáo, nhưng nhà nước cho phép giáo hội Thiên Chúa, giáo hội Do Thái giáo và giáo hội Hy Lạp được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật của đế quốc Ottoman. Luật Ottoman cũng chú ý đến việc cải thiện đời sống và địa vị của những rayah (người không theo đạo Hồi). Họ được đối xử tốt hơn so với các đế chế cũ, điều này thu hút nhiều nông nô ở châu Âu sang Ottoman sống để được làm rayah.
Người Thổ đã hợp nhất một loạt các tôn giáo và dân tộc vào đế quốc Ottoman của mình, nên họ có thể giữ cho lãnh thổ gần như luôn hòa bình, ổn định suốt hơn 600 năm.
Nguồn gốc và sự ra đời của đế chế Ottoman được chuyển tải qua bộ phim

Nguồn gốc và sự ra đời của đế chế Ottoman được chuyển tải qua bộ phim "Islam Empire of Faith" – một trong những bộ phim thuộc tủ phim Nền Tảng đổi đời do Nhà sáng lập - Chủ Tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ tâm huyết, cẩn trọng tuyển chọn
Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới - ảnh 9
Đế chế Ottoman lúc mới hình thành chỉ là một tiểu vương quốc của một bộ lạc theo đạo Hồi, tồn tại trong giai đoạn liên tiếp diễn ra các cuộc thánh chiến, tranh giành sự ảnh hưởng giữa các tôn giáo. Nhưng dần dần, người Ottoman đã đồng hóa các dân tộc xung quanh, tạo nên một đế chế mới có sức ảnh hưởng mạnh mẽ cho đến ngày nay.
Theo truyền thuyết, một đêm nọ Osman I - vị Sultan (nhà vua) đầu tiên của vương quốc Ottoman mơ thấy một vầng trăng lưỡi liềm đi qua bầu trời từ Đông sang Tây chiếu sáng khắp trần gian. Osman I tin rằng đây là điềm lành báo rằng đế quốc do ông tạo dựng sẽ trở thành một đế chế vĩ đại. Những người Ottoman cũng cùng một niềm tin Osman I là người được lựa chọn và có đầy năng lực để chinh phục một đế quốc đã được báo trước.
Osman I liền chọn trăng lưỡi liềm làm biểu tượng và quốc kỳ của đế quốc Ottoman, đồng thời phát động những cuộc chinh phạt khắp các châu lục. Người Ottoman với niềm tin vào người được chọn, đã hợp thành một khối thống nhất, cùng một đức tin, cùng một sứ mạng. Họ trở thành đội quân có sức mạnh không thể bị suy suyển, kiên cường và bách chiến bách thắng trong chiến tranh. Chỉ trong 10 năm, tiểu vương quốc Ottoman vừa hình thành đã trở thành bá chủ châu Á, Âu, Phi.
Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới - ảnh 10
Các đời Sultan của đế chế Ottoman luôn giữ sứ mạng thống nhất các quốc gia, dân tộc khác về cùng một tôn giáo. Mục tiêu của các Sultan đa phần là thành trì quan trọng của các tôn giáo khác. Dù gặp nhiều thất bại do sự chênh lệch về lực lượng chiến đấu, nhưng người Ottoman chưa từng bỏ cuộc. Bốn đời Sultan Ottoman dẫn quân đánh quân Ba Tư, hơn 1 thế kỷ đánh chiếm La Mã, là những biểu hiện rõ nét của lòng quyết tâm mở rộng lãnh thổ, đồng thời truyền bá đạo Hồi ra khắp thế giới.
Sự bành trướng của đế chế Ottoman đi liền với quá trình đồng hóa các dân tộc khác và sự gia tăng của các tín đồ Hồi giáo. Một số Sultan được xưng tôn là minh chủ tối cao của thế giới Hồi giáo, hoặc Padishah-i-Islam tức "Hoàng đế của Hồi giáo".
Ottoman trở thành đế chế của Đức Tin. Dưới thời Ottoman, đạo Hồi phát triển mạnh mẽ, hệ tư tưởng Hồi Giáo – Arab chi phối và ảnh hưởng lên cả phương Đông lẫn phương Tây. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của đế chế Ottoman lại không phụ thuộc vào sức mạnh quân sự mà nhờ vào chính sách khuyến khích tinh thần yêu thương, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo.
Tinh thần yêu thương gắn kết dân tộc Ottoman, thu hút các dân tộc khác chấp nhận sáp nhập và trở thành một phần của đế chế Ottoman. Tinh thần yêu thương cũng đã giữ cho Ottoman hòa bình, phát triển bền vững trong hơn 600 năm, bất chấp sự khác biệt văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, bất chấp cho các đế chế khác đang trên đường suy tàn.
Cho đến nay, trên vùng đất mà Ottoman từng cai trị, nhiều quốc gia vẫn sử dụng vầng trăng lưỡi liềm làm biểu tượng, bởi đức tin duy nhất từ thời khởi sinh đế chế Ottoman đã, đang và sẽ trường tồn.
Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới - ảnh 11
Đế chế Ottoman - Từ không chốn dung thân đến bá chủ thế giới - ảnh 12

Từ thế kỷ X, bộ lạc người Tây Đột Quyết (Gokturk) vốn sống cuộc đời du mục tại vùng Trung Á, vì không chịu sống dưới ách thống trị của nhà Đường, họ bắt đầu di cư đến lãnh thổ Ba Tư và khu vực Tiểu Á. Lịch sử gắn liền với những cuộc thiên di và xâm chiếm đất đai của các dân tộc khác làm cho dòng máu người Tây Đột Quyết mang nặng tư tưởng bành trướng.
Vào thế kỷ thứ XI, khi đã trở thành một tiểu quốc nhỏ ở tận cùng phía Tây Tiểu Á, những người cầm quyền đã bộc lộ tham vọng muốn vươn lên làm bá chủ vùng Trung Cận Đông, mà trước hết là nhằm vào lãnh thổ La Mã - đế quốc lớn mạnh bậc nhất châu Âu bấy giờ.
Khát vọng mở rộng lãnh thổ này đã dẫn đến mâu thuẫn của Ottoman với đế quốc Byzatine - từng là một thế lực chính trị nổi trội tại khu vực miền Đông Địa Trung Hải. Năm 1071, với chiến thắng lịch sử trước đế quốc Byzatine tại trận Manzikert đã thành lập nên nhà Seljuk ở Tiểu Á.
Dưới quyền bá chủ của nhà Seljuk ở Tiểu Á, một vài bộ tộc người Hồi giáo có nguồn gốc Thổ, Oğuz đã tạo ra một thể chế mà cuối cùng đã trở thành vương quốc Ottoman tại miền tây Tiểu Á. Thủ lĩnh người Kay là Ertuğrul Gazi đã nhận vùng đất Seljuk trong cuộc va chạm biên giới nhỏ. Hệ thống Seljuk tạo cơ hội cho sự bảo vệ vương quốc từ bên ngoài và cũng cho phép nó phát triển cấu trúc nội tại của nó. Nhà nước Seljuk cho phép họ xây dựng lực lượng quân sự của mình thông qua sự hợp tác với các dân tộc khác sống tại miền tây Tiểu Á, nhiều trong số đó là những người theo Ki-tô giáo.
Trước sự xâm lăng của người Mông Cổ vào thế kỷ thứ XIII, triều đại Seljuk sụp đổ và lãnh thổ của họ đã bị phân chia. Các bộ lạc đã tìm kiếm cơ hội để lật đổ những thế lực cuối cùng của người Thổ Seljuk và tiêu bố chủ quyền của họ một cách công khai. Trong số đó, có một bộ tộc Sogut được thành lập dưới sự dẫn dắt của Ertirul định cư tại thung lũng sông Sakaraya.
Năm 1068, hơn 70.000 quân sĩ của Đế quốc La Mã thực hiện cuộc thảo phạt người Thổ Seljuk. Tuy nhiên, 30.000 quân Thổ đã đánh bại hoàn toàn đội quân La Mã và bắt hoàng đế Romanos IV làm tù binh. Sau cuộc chiến, quyền lực của La Mã suy yếu, tiến trình "Đột Quyết hóa" diễn ra nhanh chóng, dòng người Thổ di cư vào Tiểu Á ngày càng đông.

https://thanhnien.vn/van-hoa/de-che-ottoman-tu-khong-chon-dung-than-den-ba-chu-the-gioi-1271209.html
 

bobbychinn

Member
chính ra cái vùng Lưỡng Hà Địa Trung Hải cũng là một trung tâm khởi nguồn nhiều nền văn minh trong lịch sử, cơ mà giờ bung bét cả ra
 

Hacker.Nobody

Đã tốn tiền
Nhìn cái tiêu đề thôi là mười phần chắc tám là do thằng Qua Ngáo Trung Nguyên ị ra. Lần trước đã đập một bài chửi nó về vụ La Mã, lần này để tôi đập thêm vài phát vô mặt.

Ottoman có những biện pháp cai trị đất nước rất hữu hiệu. Đế chế này học hỏi và hợp nhất chính sách trị dân của hoàng đế La Mã với chính sách trị dân của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ. Nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế, các Sultan (nhà vua) có quyền lực tối cao. Nhưng triều đình cũng tạo ra một thể chế pháp lý millet – khu vực tự trị, các dân tộc và tôn giáo có sự độc lập đáng kể dưới quyền kiểm soát của trung ương. Các thái tử và hoàng thân cũng được chia khu vực để cai trị.


Thứ nhất, biện pháp cai trị Ottoman nói trắng ra là đéo có gì mới. Cụ thể, cái chính sách millet là ăn cắp lại từ bọn Abbasid, bọn này ăn cắp từ Ummayad, bọn Ummayad ăn cắp của Sassanid, Sassanid ăn cắp của Parthia, Parthia ăn cắp của Selucid, Selucid ăn cắp của Achaemenid. Từ thời Achamenid các vị Shah đã đề ra mô hình Satrap: Trung ương phân quyền cho địa phương, địa phương thích làm gì thì làm miễn là tụi bay đóng thuế + đóng góp quân + trung thành với Shah. Tôn giáo thích thờ đạo gì thì thờ, sắc tộc muốn dân Armenia hay dân Bactria hay dân Nabatea hay dân Maccabee kiểu gì thì kệ tụi mày. Căn bản lãnh thổ đế quốc quá rộng lớn, muốn quản quản không hết nổi, nên mới phân quyền. Và chính mô hình này làm bọn Ba Tư và lũ sau nó rất yếu: bởi vì thằng địa phương nào cũng tự lo thân nên hễ có biến là tụi nó kệ vua nghĩ gì cứ lo cứu mạng trước đã. Alexander đánh Ba Tư dễ như bỡn bởi vì bọn Satrap, sợ mất ghế và đất, đã vội vã cống nạp bán đứng Darius trước khi hai bên đập nhau. Về sau bọn Ummayad, bọn Mông Cổ, bọn Thổ đánh cho te tua bọn Ba Tư cũng nhờ thế. Và chính vì sự phân quyền này mà bọn Ottoman không thể nào tập trung quyền lực như phương Tây để thúc đẩy phát triển, dẫn đến lụi tàn

Bọn Ottoman có cơ chế cai trị quyền lực cực kỳ ngu chứ không có khôn hay cải tiến gì hết. Ngay cả chuyện vua chọn người kế nhiệm cũng làm méo ra hồn. Ở Ottoman khi Sultan chết thì các con của Sultan tranh giành giết nhau làm Sultan. Sultan thường sẽ cho con mình đi quản lý các tỉnh, ổng ưng thằng nào nhất thì cho nó ở gần thủ đô để nó là người đầu tiên biết tin ổng chết. Việc này gây ra một lô vấn đề

1-Kiểu méo nào cũng có đánh nhau. Chưa từng có một lão Sultan nào trong lịch sử lên ngôi mà không đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Nhiều khi đánh nhau riết nên suy tàn dần.

2-Đám con cháu thì mỗi thằng có một đám hầu cận đi theo từ lúc nhỏ. Nhỏ quá thì làm sao biết trị một tỉnh ? Nên chúng nó phải dựa vào đám hầu cận này để rồi bọn hầu cận thao túng mà làm loạn

3-Nó giao quyền cho đám canh giữ kinh đô. Bọn này chính là bọn Janissary. Bọn này biết rõ là khi vua chết thì thằng nào nhận được tin Sultan chết trước là sẽ thắng nên tụi nó tận dụng điều đó mà can thiệp vào việc ai làm Sultan mới. Kết quả là thêm một thế lực dựng và thao túng triều chính như loạn kiêu binh Tam phủ

Và đó còn chưa tính đến hàng loạt các vấn đề khác nhau.

Dưới sự cai trị của các Sultan, nhiều thư viện, trường học đã được xây dựng. Các quan viên được huấn luyện bài bản để đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính do lãnh thổ đế quốc càng lúc càng mở rộng. Thanh thiếu niên ở các giáo khu Thiên Chúa giáo, tù binh 10-15 tuổi cũng bắt buộc phải đến trường học. Chương trình học kéo dài 10-12 năm, bao gồm các môn như ngữ văn, văn học, nhạc, pháp luật, thần học, quân sự, toán, triết học Hồi giáo, quản lý học… Những học sinh nào không qua được các kỳ kiểm tra sẽ bị đuổi học ngay.

Đoạn này đọc nghe như là bọn Ottoman thương người đến nỗi kẻ thù truyền kiếp cũng cho đi học. Méo có đâu. Dưới thời Ottoman, không có cái hệ thống giáo dục rộng khắp. Bọn Sultan rất sợ dân bản địa khôn lên lật tụi nó, nhưng tụi nó cần nha lại trung thành phục vụ. Giải pháp là chế độ Devrishme: bắt các gia đình ngoại đạo phải cống nạp con mình để đào tạo. Một mũi tên trúng ba con nhạn:

1-Sultan có một nguồn nhân lực có tay nghề cao. Thằng nào khát máu thì làm Janissary, thằng nào giỏi văn cho làm quan lại

2-Bọn này vì là người cải đạo, lại là dân xứ khác, nên không có ủng hộ trong lòng Ottoman mà làm loạn mà phải dựa vào Sultan

3-Đây là một cách để đồng hóa các khu vực khác thành dân Thổ theo đạo Hồi.

Có điều đen cho các anh Ottoman, vì chính sách này mà dân thì ngày càng ngu đi còn đám ngoại lai thì ngày càng mạnh. Triều đình vì thế dần mất khỏi tay người Thổ. Thêm nữa, chính sách này càng khiến cho dân xứ khác đặc biệt là đám dân châu Âu sống dưới ách cai trị Ottoman nổi khùng và đứng lên chống lại Sultan ác liệt.

Phần lớn người Ottoman theo đạo Hồi giáo, nhưng nhà nước cho phép giáo hội Thiên Chúa, giáo hội Do Thái giáo và giáo hội Hy Lạp được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật của đế quốc Ottoman. Luật Ottoman cũng chú ý đến việc cải thiện đời sống và địa vị của những rayah (người không theo đạo Hồi). Họ được đối xử tốt hơn so với các đế chế cũ, điều này thu hút nhiều nông nô ở châu Âu sang Ottoman sống để được làm rayah.

Người Thổ đã hợp nhất một loạt các tôn giáo và dân tộc vào đế quốc Ottoman của mình, nên họ có thể giữ cho lãnh thổ gần như luôn hòa bình, ổn định suốt hơn 600 năm.


Quả này chém gió đéo đâu tả cho hết. Đúng là trong giai đoạn đầu bọn Ottoman có đối xử tốt với người ngoại đạo (ít ra dân ngoại đạo không bị thiêu sống như ở châu Âu) nhưng tốt hơn đế chế cũ ? Madness. Quên bọn La Mã rồi à. Trừ cái giống dân thiên chúa cố tình chống đối thì người La Mã cực kỳ giỏi trong việc đồng hóa các bộ tộc khác họ xâm lấn. Và từ TK17 trở đi, bọn Ottoman trở nên cực kỳ bài ngoại, kỳ thị khi so sánh với các quốc gia phương Tây nên lụi tàn là vì thế. Và đếu có chuyện nông nô châu Âu đi sang Ottoman, thằng nào thở ra câu này được cũng hay vl.

Thứ nhất, nông nô bị cấm di chuyển khỏi nơi lưu trú. Thằng nào đi lạng quạng bị chặt giò như chơi. Thêm nữa, di chuyển sang ottoman mà dễ ? Ngày đó phải lội bộ, phải băng rừng, phải trốn tránh giặc giã. Chưa kể dân khi ấy làm méo gì biết về cuộc sống "tuyệt vời" ở Ottoman mà chạy. Họ chỉ biết về Ottoman qua sách báo đương thời hay từ miệng mấy người có học (mà thường là tu sĩ). Việc này dẫn đến yếu tố thứ hai là dân rất ghét Ottoman. Chuyện một người Thiên chúa mà bỏ sang hàng ngũ kẻ địch là không thể tưởng. Họ biết rõ làm như thế sẽ xuống âm phủ, và họ cực kỳ sợ âm phủ. Đó là chưa kể nhiều nông nô sống ở khu vực gần bọn Ottoman thường xuyên bị bọn này tấn công, tra tấn vô cùng ác độc nên cũng cực kỳ ghét bọn Ottoman. không phải không có lý do mà đến bây giờ bọn Balkan và Đông Âu, Trung Á nó thù bọn Thổ đâu

Osman I liền chọn trăng lưỡi liềm làm biểu tượng và quốc kỳ của đế quốc Ottoman, đồng thời phát động những cuộc chinh phạt khắp các châu lục. Người Ottoman với niềm tin vào người được chọn, đã hợp thành một khối thống nhất, cùng một đức tin, cùng một sứ mạng. Họ trở thành đội quân có sức mạnh không thể bị suy suyển, kiên cường và bách chiến bách thắng trong chiến tranh. Chỉ trong 10 năm, tiểu vương quốc Ottoman vừa hình thành đã trở thành bá chủ châu Á, Âu, Phi.


Cùng một đức tin ? Cùng một sứ mạng ? Ờ cùng ghê. Lại còn 10 năm thành bá chủ nữa. Bọn Ottoman nói riêng và cái dân Thổ (aka Đột Quyết) nói chung là một mớ hỗn độn, đánh lẫn nhau như cơm bữa. Chúng nó từng có một đế quốc sau bị bọn Tàu mà cụ thể là nhà Đường đánh cho te tua. Nhà Đường, biết rõ bọn Thổ này bằng mặt không bằng lòng, đã dụ chúng nó tự xé nhau ra thành mấy nước để mà dễ thao túng. Một nhóm chạy sang phía Tây tạo thành nước Seljuk. Bọn này thì ôi thôi đánh nhau với bên ngoài nhiều như tự nội chiến và rồi bị tan rã. Bọn Ottoman là một chi nhỏ của đám này và về sau trỗi dậy. Cơ mà phải mất gần 150 năm bọn này mới có thể gọi là "cường quốc" đừng nói chi là bá chủ. Và bọn nó đếu có thống nhất, đếu có sứ mạng gì cả. Khi cần chúng nó vẫn xé nhau ra, vẫn sẵn sàng rước ngoại bang vào giày mả tổ miễn là lên nắm quyền. Tụi nó còn mời cả đám thiên chúa không đội trời chung qua cứu nữa

Vậy tại sao bọn này ngoi lên được ?

Đơn giản là ăn may và địa chính trị.

Thằng Ottoman là đế quốc ăn may thuộc hàng có số má trong lịch sử. Chúng nó mò được tới Trung Đông vào thời buổi loạn lạc, không có một bá chủ nắm quyền: bọn Byanztine và đám caliphate thì hấp hối, các bộ tộc du mục quậy phá tưng bừng một thời thì đã lập quốc và chịu nằm yên, các đoàn quân xâm lăng du mục đã đi qua và tàn phá mọi thứ nhưng không tàn phá bọn Ottoman. Nhờ thế chúng nó tiếm quyền vô cùng dễ dàng. khi bọn nó ngoi lên thì bọn nó không gặp nhiều đối thủ mạnh. Bọn châu Âu thì mãi mê đập lẫn nhau và quá thiếu thống nhất để đập thằng Thổ, bọn Ba Tư thì là một loạt các vương quốc yếu kém cho đến tận mãi thời Safavid thì mới đập vài trận (và lúc đó là lúc bọn Ottoman đang ở đỉnh cao). Phải đến tận thời Nader Shah thì bọn Ba Tư mới đút hành được cho bọn Thổ

Không có kẻ địch, bọn này lại hưởng vị thế quá trời tốt. Tụi nó nằm ngay con đường buôn bán đông tây nên tha hồ mà thổi giá lên trời để mà phát triển. Việc bọn Ottoman quản lý Ai Cập bảo đảm nguồn cung lương thực đều đặn Phần châu Âu của bọn này là đồi núi, bán đảo Anatolia là đồi núi, các vùng bên ngoài là sa mạc rộng lớn, các vùng giáp ranh với các cường quốc như Nga hay Ba Tư là núi non nên tụi nó có một hàng phòng ngự tự nhiên chống lại kẻ thù. Vị thế tốt như thế mà không làm được nghiệp lớn thì chỉ có là một lũ bất tài
 
Last edited:
Top