Với người Việt Nam xưa (và nay cũng vậy) cái ăn là rất quan trọng và có ý nghĩa. Mỗi khi có cái ăn, bạn không được ăn một mình mà phải chia sẻ với những người xung quanh, mà trước hết là những người gần gũi và thân thiết nhất với bạn (nếu chưa mời họ mà bạn đã ăn thì bạn bị coi là vô lễ ngay).
Người Việt Nam hết sức trân trọng và không bao giờ lãng phí cái ăn, dù chỉ là hạt cơm (mà họ gọi là "ngọc thực"). Với họ, có cái ăn đã là quý rồi, thế nên họ chẳng bao giờ làm một việc như cao giọng dạy bảo người khác rằng chỉ được ăn cái này mà không được ăn cái kia, đặc biệt khi nó thuộc sở hữu và là tài sản của người ấy, rồi khi bị phản đối thì mạt sát người ta. Người Việt Nam không hơi đâu làm chuyện vô lý như thế. Đấy không phải là văn hóa của người Việt Nam.
Nếu người Việt Nam từ xưa đã không ăn thịt chó vì lý do quan trọng như đạo đức thì chúng ta đã thấy việc này xuất hiện trong kho tàng văn học dân gian của Việt Nam, qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ... những lời răn dạy mà người Việt Nam để lại cho các thế hệ sau. Nhưng không. Trong đó, chúng ta chỉ thấy người Việt Nam ăn thịt chó một cách hết sức tự nhiên, cũng như ăn thịt trâu bò lợn gà vậy, thậm chí họ còn khen ngợi nó với tần suất nhiều hơn bất cứ món nào khác, rằng nó là món ngon nhất trên đời.
Việc không ăn thịt chó vì lý do đạo đức (của một thiểu số) đã xuất hiện cách đây không quá lâu (so với lịch sử của dân tộc Việt Nam), và đặc biệt nở rộ trong thời gian gần đây khi, nói chung, cuộc sống đã trở nên khấm khá hơn. Với tôi, việc này, như người Việt Nam từ xưa vẫn nói, là một dạng "phú quý sinh lễ nghĩa". Và tôi xin nhắc lại là nó vốn không phải là văn hóa của Việt Nam, dù bạn có muốn thế hay không.