Theo dấu thương cảng cổ: Hội An, thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á

bobbychinn

Senior Member

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây.​

Theo dấu thương cảng cổ: Hội An, thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á

Thương cảng Hội An đầu thế kỷ XVIII​

Thương cảng lớn nhất Đàng Trong
Hội An là mảnh đất có vị trí địa lý thuận lợi, vì thế từ rất sớm, hoạt động giao thương, buôn bán nơi đây đã rất phát triển. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra hai đồng tiền cổ của Trung Quốc thời Hán là Ngũ Thù và Vương Mãng. Đây là phát hiện quan trọng cho thấy Hội An đã trở thành thương cảng từ cách đây 2000 năm trước.
Tuy nhiên thời kỳ thịnh vượng đầu tiên của Hội An phải đến thế kỷ IX và X dưới thời vương quốc Chăm Pa. Khi đó mảnh đất này có tên gọi là Lâm Ấp Phố. Các thương gia từ Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc kéo đến nơi đây để buôn bán và trao đổi vật phẩm.
Có một khoảng thời gian dài, Lâm Ấp Phố là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn.
Từ giữa thế kỷ XVI, chúa Nguyễn tập trung phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài, Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó.
Đặc biệt, khi triều đình nhà Minh của Trung Quốc ban lệnh cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản khiến các Mạc phủ Nhật Bản mở rộng quan hệ ngoại thương với Đông Nam Á để mua lại hàng hóa Trung Quốc.
Nơi các thuyền Châu Ấn của Nhật Bản đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An. Trong vòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây. Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng… và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương… Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ XVII.
Lúc bấy giờ, Ấn Độ và Trung Quốc là hai vựa nguyên liệu lớn nhất thế giới và cũng là hai đầu mối quan trọng của con đường tơ lụa, gốm sứ nổi tiếng trên thế giới, và Hội An lại nằm ở trung tâm của con đường di chuyển giữa hai đầu mối quan trọng này. Cùng với những chính sách mở rộng giao thương của triều Nguyễn, thương cảng Hội An đã thu hút nhiều thuyền buôn của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc, Xiêm…tập nấp đến giao thương.
Theo các tài liệu lịch sử, số lượng thuyền vào thương cảng đông đến nỗi buồm của chúng được ví “như rừng tên xúm xít” (trích trong Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán), còn hàng hóa thì “không thứ gì không có” và số lượng thì “cả trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được” (trích từ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn).
Hội An nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại quốc tế bậc nhất cả nước và cả khu vực Đông Nam Á. Đây được xem là trung tâm điều phối cho các thương cảng miền Trung như Thanh Hà (Huế), Thị Nại (Bình Định) và cùng với các cảng Đồng Nai, Sài Gòn, Hà Tiên… trở thành những thương cảng trọng yếu ở Đàng Trong.
Không những thế, với vai trò là trung tâm liên vùng, Hội An đã cùng với Goa (Ấn Độ), Ayuthaya (Siam), Malacca (Malaysia), Batavia (Indonesia), Lyzon (Philippin)…nối kết với Formosa (Đài Loan), Macao, Hạ Môn (Trung Quốc), Pusan (Hàn Quốc) tạo nên một hệ thống thương mại hoàn chỉnh của châu Á.
Thời kỳ này, Hội An là cơ sở kinh tế quan trọng cho các vua chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Nửa cuối thế kỷ XVIII, vùng Quảng Nam là một chiến trường trọng điểm trong cuộc chiến giữa vương triều Nguyễn (do Nguyễn Ánh đứng đầu) với nhà Tây Sơn. Bên cạnh đó, quân Tây Sơn và quân Trịnh ở Đàng Ngoài cũng diễn ra nhiều cuộc giao tranh ác liệt. Năm 1775, quân Trịnh đã tràn vào tàn phá dữ dội, làm cho thương cảng Hội An ngưng trệ mọi hoạt động; nhà cửa, phố xá đổ nát hoang tàn. Thương cảng Hội An chững lại trên đường phát triển.
Sau khi quân Trịnh rút về Đàng Ngoài, nhà Tây Sơn đã dốc sức khắc phục hậu quả của chiến tranh và dần dần phục hồi nền kinh tế thương nghiệp, thương cảng Hội An có những hồi sinh nhất định.
Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX, do cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp, khiến các thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An. Cùng với một số yếu tố bất lợi như chính sách bế quan tỏa cảng của vua Nguyễn, sự xuất hiện của Đà Nẵng và đầu tư của Pháp vào thương cảng này đã khiến cho Hội An suy thoái dần và đánh mất đi vị thế của mình.

https://vietnamfinance.vn/theo-dau-...nhat-khu-vuc-dong-nam-a-20180504224247853.htm
 
Top