Vua chết uất vì hoàng hậu... 'cắm sừng'

hunggc

Member
Thực ra, vị hoàng đế này chết vì quá uất ức khi phát hiện ra bị người vợ yêu quý cắm sừng, mà kẻ cắm sừng ông lại chính là một gã hoạn quan.

Trong lịch sử Trung Quốc có một hoàng đế nổi tiếng là nhà cải cách, bậc “minh quân”, được ca ngợi, đưa cả vào sách giáo khoa trung học với đánh giá là một nhà cải cách thành công hiếm có thời cổ đại.

Thế nhưng, vị hoàng đế anh minh người dân tộc thiểu số đó lại đột ngột qua đời ở tuổi 32 khi sự nghiệp đang chói sáng khiến người đời thương tiếc. Trong chính sử chỉ chép đơn giản là ông chết vì bệnh mà không nói rõ đó là bệnh gì.

Vị hoàng đế cải cách thành công

Ngụy Hiếu Văn đế Thác Bạt Hoằng (467 – 499), người dân tộc Tiên Ti, quê Sơn Tây, tên gốc là Thác Bạt Hoành, sau đổi họ thành Nguyên Hoành vì muốn Hán hóa. Ông là con của Hiến Văn đế Thác Bạt Hoằng và Lý Phu nhân, là vị hoàng đế thứ 7 của thời kỳ Nam Bắc triều ở Trung Quốc.

Tượng Ngụy Hiếu Văn đế Thác Bạt Hoành

Tượng Ngụy Hiếu Văn đế Thác Bạt Hoành

Thác Bạt Hoành ra đời khi cha ông mới 13 tuổi; Lý Phu nhân là con gái Lý Huệ - một viên quan trong triều. Thác Bạt Hoành được lập làm Thái tử khi 2 tuổi và lên ngôi khi mới 5 tuổi. Khi ông được lập làm Thái tử thì bà mẹ cũng bị buộc phải tự sát theo truyền thống của triều đình Bắc Ngụy nhằm hạn chế sự can dự của ngoại thích vào triều chính.

Việc dạy dỗ Thái tử được giao cho Phùng Thái hậu – bà nội, người đã giữ quyền nhiếp chính cho Hiến Văn đế trước đây. Sau khi ông lên ngôi, Phùng Thái hậu lại giữ quyền nhiếp chính, mãi đến năm 490, khi Thác Bạt Hoành đã 24 tuổi mới được “thân chính”.

Sau khi nắm quyền, Thác Bạt Hoành đã cho thực thi một loạt biện pháp cải cách: Năm Thái Hòa thứ 19 (495) cho dời đô từ Bình Thành (Đại Đồng, Sơn Tây ngày nay) tới Lạc Dương; bắt những người Tiên Ti đổi họ thành họ người Hán:

Thác Bạt đổi thành Nguyên, Khâu Mục Lăng đổi thành Mục, Độc Cô đổi thành Lưu, Vật Nữ Vu đổi thành Vu, Uất Trì đổi thành Uất, Hạ Lại đổi thành Hạ, Bộ Lục Cô đổi thành Lục…tiếp đó bắt thay đổi phong tục, ngôn ngữ, trang phục; khuyến khích, cổ vũ việc thông hôn giữa người Hán với người Tiên Ti; phân tầng xã hội, ban chức quan theo vị thế gia tộc, tăng cường sự liên kết cai trị giữa các gia tộc Hán và Tiên Ti; đề ra chế định quan chức, lễ nghi triều đình; cải cách chế độ quan lại, ban chế độ phụng lộc để làm dịu mâu thuẫn xã hội; ban hành, thực thi các chế độ về phân bổ dinh điền, ruộng đất, thúc đẩy kinh tế phát triển.

Tranh vẽ Thác Bạt Hoành và Phùng hoàng hậu

Những cải cách của Thác Bạt Hoành được cho là “có tác dụng tích cực trong việc hòa đồng các dân tộc, làm ổn định xã hội”…

Khốn đốn vì những người đàn bà họ Phùng

Cả đời Thác Bạt Hoành gắn liền với những phụ nữ họ Phùng. Người đầu tiên là Phùng Thái hậu – tổ mẫu (bà nội). Vốn Phùng Thái hậu có thể yên ổn lui về sau để hưởng cuộc sống an nhàn, thế nhưng con trai bà – Hiến Văn đế Thác Bạt Hoằng - lại không muốn yên ổn làm hoàng đế.

Thác Bạt Hoằng chán ghét triều chính, thích trốn việc đời, muốn làm bạn với kinh sách, chuông mõ nên quyết dấn thân vào cửa Phật. Muốn trút được gánh nặng việc trần, ông phải có con trai để bắt nó gánh nợ thay mình.

Cuối cùng, năm Hoàng Hưng thứ nhất (467), Lý Phu nhân – một người phi tần đã sinh được con trai, đặt tên là Thác Bạt Hoành. Thác Bạt Hoằng vui mừng vì được giải thoát, nhưng con trai ông lại khốn khổ vì lâm vào cảnh mất mẹ vì theo truyền thống hủ tục của đế quốc Bắc Ngụy: phi tần nào có con được lập làm Thái tử để nối ngôi thì người đó sẽ bị giết để tránh hậu họa “hậu cung thứ hai” về sau.

Bởi vậy, Thác Bạt Hoành mồ côi mẹ khi mới 2 tuổi. Không còn mẹ, chỉ được nuôi dạy bới các cung phi nhưng Thác Bạt Hoành lại rất ngoan ngoãn, thông minh, hiếu thuận. Năm ông 4 tuổi, trên người vua cha có một chiếc nhọt lớn rất đau, Thác Bạt Hoành đã dùng miệng hút hết máu, mủ trong nhọt khiến nó mau lành. Mọi người trong triều hay chuyện đều trầm trồ ca ngợi, Thác Bạt Hoằng rất hài lòng, một năm sau liền hạ chiếu truyền ngôi cho con trai rồi chính thức lui về ở ẩn trong chùa.

Thác Bạt Hoành dù có thông minh, chín chắn trước tuổi đến mấy, rốt cuộc vẫn là đứa trẻ, sao cai quản được thiên hạ? Thế là Phùng Thái hậu lại buông rèm nhiếp chính lần nữa. Thời gian trôi qua, Hiếu Văn Đế trưởng thành hơn, ông từng bước nắm giữ được nhiều quyền lực hơn.

Một khoảng thời gian trong quá trình này, Phùng Thái hậu đã trở nên lo sợ về khả năng của ông và do đó đã giam giữ Hiếu Văn Đế và tính đến việc phế truất ông rồi đưa người em là Thác Bạt Hi lên thay, song sau khi được các thân cận thuyết phục, Phùng Thái hậu không thực hiện việc này.

Dần dà, Thác Bạt Hoành vào khuôn phép, tỏ ra ngoan ngoãn nhất nhất làm theo ý bà. Phùng Thái hậu yên tâm, bắt đầu ra tay cài cắm những người tình của mình vào các vị trí để trở thành Lã Hậu như thời Hán. Thời gian trôi đi, Thác Bạt Hoành đã trưởng thành, Phùng Thái hậu lại ra tay cưới vợ cho. Cô dâu không phải ai khác, chính là Phùng Thanh, một người cháu con em trai bà, theo thứ bậc Thác Bạt Hoành phải gọi là cô.

Tuy cuộc hôn nhân do sắp đặt, nhưng Thác Bạt Hoành yêu say đắm Phùng Thanh, sau khi lập làm hoàng hậu rất quan tâm, thề “bạch đầu giai lão”, hai người trở thành cặp “ân ái phu thê”…

Chân dung Ngụy Hiếu Văn đế

Mùa hè năm 495, Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành ban hành một số chiếu chỉ mà theo đó thì trang phục và ngôn ngữ Tiên Ti bị cấm, và người Tiên Ti phải mặc trang phục và nói tiếng của người Hán. Đầu năm 496, ông ra lệnh cho người Tiên Ti phải đổi sang họ của người Hán, ông đổi họ của hoàng tộc (Thác Bạt) sang Nguyên.

Ông cũng tăng cường sự phân tầng xã hội đã được tiến hành trong một thời gian trước đó, phong cho tám gia tộc Tiên Ti và năm gia tộc Hán vinh dự đặc biệt, và tất cả các chức quan sẽ được ban dựa theo vị thế gia tộc, chứ không phải do tài năng, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ một số đại thần.

Ông thậm chí còn bắt sáu người em trai phải giáng những chính thất hiện thời của họ làm thiếp, và lấy các con gái của những quan lại xuất thân từ năm gia tộc người Hán làm chính thất mới, một hành động bị các sử gia chỉ trích nặng nề.

Mùa thu năm 496, do ý của hoàng hậu Phùng Thanh, Thác Bạt Hoành đã đưa chị gái của bà là Phùng Nhuận vào hoàng cung. Phùng Nhuận cho rằng mình là chị gái nên không chịu kém cạnh Phùng hoàng hậu, bà ta bắt đầu tìm cách để làm suy yếu vị trí của em gái. Dần dà, Hiếu Văn Đế phế truất Phùng Thanh rồi lập Phùng Nhuận làm hoàng hậu.

Chết vì bị vợ “cắm sừng”

Vào mùa thu năm 497, Thác Bạt Hoành đã mở một cuộc tấn công lớn vào Nam Tề đang nổi lên cát cứ. Tuy nhiên, trong khi hoàng đế vắng mặt, Phùng Hoàng hậu đã bí mật rồi ngang nhiên dan díu với một tên thái giám giả là Cao Bồ Tát và buộc em gái ông là Bành Thành công chúa kết hôn với em trai bà ta là Bắc Bình công Phùng Túc.

Bành Thành công chúa trốn khỏi Lạc Dương chạy đi tìm Thác Bạt Hoành tố cáo tội thông gian của Phùng Hoàng hậu. Thác Bạt Hoành quay về Lạc Dương bắt Cao Bồ Tát, Phùng Hoàng hậu và phụ tá của bà là Song Mông thẩm vấn. Phùng Hoàng hậu vừa nhìn thấy chồng đã ra sức khóc lóc kêu oan, Thác Bạt Hoành bịt tai lại không nghe và kết luận rằng hoàng hậu đã thực sự phạm tội thông dâm.

Tuy nhiên, do không muốn gia tộc họ Phùng phải hổ thẹn, ông đã không phế truất bà ngay mà ra lệnh tống giam. Nhưng việc hoàng hậu ngoại tình với hoạn quan đã giáng đòn chí tử vào Thác Bạt Hoành, quá uất ức vì bị phản bội, ông suy sụp không gượng lại nổi rồi qua đời ở tuổi 32.

Sơ đồ thiên đô thời Thác Bạt Hoành

Trước khi chết, ông để lại di chúc ban cho hoàng hậu chết và chôn theo mình để giữ danh tiếng. Khi rượu độc được mang tới, hoàng hậu Phùng Nhuận khóc lóc, không chịu uống, các quan phải banh miệng ra đổ vào để kết liễu cuộc đời bà hậu dâm đãng này.

https://doanhnghiepvn.vn/kham-pha/vua-chet-uat-vi-hoang-hau-cam-sung/20200826094132074
 

Loser.Lesor

Member
Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.



Hồng Bàng là tổ nước ta.

Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

Thiếu niên ta rất vẻ vang,

Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.

Tuổi tuy chưa đến chín mười,

Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.

An Dương Vương thế Hùng Vương,

Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

Triệu Đà là vị hiền quân,

Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.

Nước Tàu cậy thế đông người,

Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.

Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,

Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

Hai Bà Trưng có đại tài,

Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,

Ra tay khôi phục giang san,

Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.

Tỉnh Thanh Hoá có một bà,

Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,

Tài năng dũng cảm hơn người,

Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.

Phụ nữ ta chẳng tầm thường,

Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,

Kể gần sáu trăm năm giời,

Ta không đoàn kết bị người tính thôn.

Anh hùng thay ông Lý Bôn,

Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,

Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.

Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.

Vì Lý Phật Tử ngu hèn,

Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.

Thương dân cực khổ xót xa,

Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,

Vì dân đoàn kết chưa sâu,

Cho nên thất bại trước sau mấy lần.



Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

Đến hồi Thập nhị sứ quân,

Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.

Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,

Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.

Ra tài kiến thiết kinh dinh,

Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.

Lê Đại Hành nối lên ngôi.

Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.

Vì con bạo ngược hoành hành,

Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.

Công Uẩn là kẻ phi thường,

Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.

Mở mang văn hoá nước nhà,

Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.

Lý Thường Kiệt là hiền thần,

Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.

Tuổi già phỉ chí công danh,

Mà lòng yêu nước trung thành không phai.

Họ Lý truyền được chín đời,

Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.



Nhà Trần thống trị giang san,

Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,

Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:

Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,

Tung hoành chiếm nửa Âu châu,

Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,

Lăm le muốn chiếm nước ta,

Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,

Hải quân theo bể kéo đi,

Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.

Dân ta nào có chịu hèn,

Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.

Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,

Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,

Mênh mông một giải Bạch Đằng,

Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,

Hai lần đại phá Nguyên binh,

Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.

Quốc Toản là trẻ có tài,

Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,

Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,

Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.

Thật là một đấng anh hùng,

Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.

Đời Trần văn giỏi võ nhiều,

Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.

Mười hai đời được hiển vinh,

Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.



Cha con nhà Hồ Quý Ly,

Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.

Tình hình trong nước không yên,

Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,

Bao nhiêu của cải trân châu,

Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.



Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,

Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.

Mấy phen sông Nhị núi Lam,

Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.

Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,

Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.

Mười năm sự nghiệp hoàn thành,

Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.

Vì dân hăng hái kết đoàn,

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.

Vua hiền có Lê Thánh Tông,

Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.



Trăm năm truyền đến cung hoàng,

Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.

Bấy giờ trong nước lôi thôi,

Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,

Bảy mươi năm nạn can qua.

Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.

Từ đời mười sáu trở đi,

Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.

Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,

Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.



Dân gian có kẻ anh hùng,

Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,

Đóng đô ở đất Quy Nhơn,

Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.

Nhà Lê cũng bị mất quyền,

Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,

Ông đà chí cả mưu cao,

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

Cho nên Tàu dẫu làm hung,

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.

Tướng Tây Sơn có một bà,

Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,

Tay bà thống đốc ba quân,

Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.

Gia Long lại dấy can qua,

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.

Tự mình đã chẳng có tài,

Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.

Nay ta mất nước thế này,

Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,

Khác gì cõng rắn cắn gà,

Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.

Từ năm Tân Hợi trở đi,

Tây đà gây chuyện thị phi với mình.

Vậy mà vua chúa triều đình,

Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.

Nay ta nước mất nhà tan

Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.

Năm Tự Đức thập nhất niên,

Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.

Hăm lăm năm sau trận này,

Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,

Ngàn năm gấm vóc giang san,

Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

Tội kia càng đắp càng đầy,

Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.



Nước ta nhiều kẻ tôi trung,

Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.

Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,

Cùng thành còn mất làm gương để đời.

Nước ta bị Pháp cướp rồi,

Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;

Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng

Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.

Mấy năm ra sức Cần Vương,

Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,

Giang san độc lập một miền,

Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.

Anh em khố đỏ, khố xanh,

Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,

Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.

Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An

Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.

Nam Kỳ im lặng đã lâu,

Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.

Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!

Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.



Xét trong lịch sử Việt Nam,

Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.

Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,

Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.

Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,

Vì ta chỉ biết lo yên một mình.

Để người đè nén, xem khinh,

Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!

Bây giờ Pháp mất nước rồi,

Không đủ sức, không đủ người trị ta.

Giặc Nhật Bản thì mới qua,

Cái nền thống trị chưa ra mối mành.

Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,

Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.

Ấy là nhịp tốt cho ta,

Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.

Người chúng ít, người mình đông

Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.

Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!

Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.

Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,

Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.

Người giúp sức, kẻ giúp tiền,

Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.

Trên vì nước, dưới vì nhà,

Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.

Chúng ta có hội Việt Minh

Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh

Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng

Dân ta xin nhớ chữ đồng:

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!
 

Markynaz

Junior Member
Hình như là thời ngũ hồ thì phải. Đúng là thời này, đám người Hán biến thành nô lệ, máy đẻ cho người Hồ mà vẫn coi đó là những hoàng đế trung hoa được. Công nhận về khoản nhận giặc làm cha, cẩu khựa nhân số 2 ko ai dám nhận số 1
Thời này là nam bắc triều, sau ngũ hồ, trước tùy đường
 
cứ thằng nào tốt thì y như rằng sẽ bặp vào con chẳng ra gì , còn những thằng chẳng ra gì sẽ hốt đc nhưng con ngon , con người có xu hướng thích những thứ mình ko có , nên các vâu dơ suốt ngày chê đĩ sau này sẽ lấy ... về làm vợ :LOL:
 

Fire

Đã tốn tiền
Đây là tự mình Hán hoá dân tộc mình phải không?
Bắt người Tiên Ti đổi sang họ Hán?!
 

goodbyevinh

Đã tốn tiền
Thời ngũ hồ có 5 dân tộc hồ , mà bây giờ còn mỗi tộc khương . 4 tộc còn lại bầy giờ là người bắc hán chứ đâu
 

The Script

Member
Đây là tự mình Hán hoá dân tộc mình phải không?
Bắt người Tiên Ti đổi sang họ Hán?!
Đây là kết cục của đa số dân tộc mọi rợ khi xâm lược chiếm đóng một dân tộc có văn minh và văn hóa cao hơn mình, giai cấp thống trị sẽ không muốn tiếp tục ăn lông ở lỗ, họ muốn nghi vệ như thiên tử Trung Hoa, muốn con cái học hành thay vì rong ruổi trên lưng ngựa, muốn mặc những bộ đồ xa hoa thay vì đồ du mục, không muốn mù chữ, họ tiếp thu chữ Hán, muốn học cách cai trị, họ tiếp thu Nho giáo, và sau khi hấp thu văn minh và văn hóa xong, họ bị đồng hóa ngược
VN nằm trong số ít quốc gia kém văn minh hơn TQ mà không bị TQ đồng hóa dù sách lược đồng hóa của TQ khá khôn ngoan, chúng ta nên tự hào vì điều đó
 
Top