Về tài nguyên đất hiếm, Mỹ ko thua kém. Mỹ có mỏ Mountain Pass ở California, từng là trung tâm cung ứng đất hiếm lớn nhất thế giới vào thập niên 1960-1980.
Mỹ từ cuối thế kỷ 20 đã rút khỏi lĩnh vực này vì chi phí cao, rủi ro môi trường và quy định an toàn phóng xạ ngặt nghèo, thì Trung Quốc lại đi theo con đường khác. Năm 1927, nhà địa chất học Ding Daoheng (Đinh Đạo Hằng/ Hanh) phát hiện ra rằng Baiyun Obo có khả năng là một quặng sắt khổng lồ.
Sau khi thành lập nước, nhóm địa chất 241 do nhà nước cử đến phát hiện ra rằng không chỉ có hơn 800 triệu tấn quặng sắt ở đây, mà quan trọng hơn, tổng trữ lượng đất hiếm là hơn 1.830 triệu tấn, và trữ lượng tiềm năng lên tới 145 triệu tấn, chiếm 80% tổng lượng đất hiếm của thế giới khi đó!
Nhưng 1 người đàn ông trượng phu từ trên trời xuất hiện - Xu Guangxian (Từ Quang/ Hứa Quảng Điền). Ông ban đầu nghiên cứu nhiên liệu hạt nhân, nhưng vào năm 1972, ông được lệnh nghiên cứu công nghệ tinh chế đất hiếm. Phương pháp lắc phễu rõ ràng ko hợp với TQ, và vì cũng cần chiết xuất dung môi để điều chế nhiên liệu hạt nhân, Xu Guangxian đã bắt đầu với điều này. Do đó, ông đề xuất một khái niệm mới: tỷ lệ chiết xuất hỗn hợp không đổi.
Tháng 9/1974, Xu Guangxian đã đưa lý thuyết mới này đến Nhà máy Gang và Thép Baotou để tiến hành khai thác thử nghiệm cấp công nghiệp, đây là một thành công, cho phép công nghệ khai thác của Trung Quốc vươn lên hàng đầu thế giới.
Theo truyền miệng, ngay sau khi công nghệ khai thác của Xu Guangxian được phát minh, Tokyo, Nhật Bản tình cờ tổ chức một cuộc họp trao đổi công nghệ đất hiếm Trung-Nhật. Tại cuộc họp, Nhật Bản đã nói thế này: Xin lỗi, chúng tôi sẽ không bao giờ cung cấp công nghệ tách đất hiếm tiên tiến cho Trung Quốc. Sau khi đề xuất phương pháp trích xuất nối tiếp, Xu Guangxian vẫn tiếp tục nghiên cứu, lần lượt đưa ra các khái niệm ‘ba lối ra’, ‘mở rộng một bước’ và ‘ghép’, giúp công nghệ khai thác đất hiếm của Trung Quốc tiếp tục phát triển nhảy vọt.
Đến 1986, sản lượng đất hiếm hằng năm của Trung Quốc đã vượt Mỹ. Sang thập niên 1990, Trung Quốc gần như “vô đối”, chiếm 2/3 sản lượng toàn cầu. Với lợi thế công nghệ và chi phí thấp, Trung Quốc liên tục đẩy giá đất hiếm xuống, giảm 3 lân chỉ trong 1 thập kỷ. Năm 1993, giá đất hiếm toàn cầu chỉ còn bằng 1/5 đến 1/3 so với năm 1984, khiến các tập đoàn lớn ở Mỹ, Nhật, Pháp phải thu hẹp sản xuất, đóng cửa nhà máy, thậm chí phá sản.
Đến năm 2005, xuất khẩu đất hiếm của TQ đã tăng 9 lần so với năm 1990. Thế nhưng giá lại rơi thảm hại: giảm tới 55%, với mức xuất khẩu trung bình chỉ khoảng 5,5 USD mỗi kg. Molycorp, “ông lớn” đất hiếm của Mỹ, đóng cửa sản xuất trong nước, chuyển sang TQ khai thác và tinh chế.
Từ năm 2014, Trung Quốc bắt đầu tái cấu trúc đất hiếm. Chỉ trong 2 năm, đến 2016, hàng trăm doanh nghiệp đất hiếm rải rác trên khắp đất nước đã được sáp nhập lại thành 6 tập đoàn lớn. Quá trình tập trung hóa này tiếp tục diễn ra, và đến 2023, sáu tập đoàn đó lại được tái tổ chức thành chỉ còn hai “ông lớn” chuyên ngành: China Rare Earth Group (Đất hiếm Trung Quốc) và Northern Rare Earth Group (Đất hiếm phía Bắc).
Trung Quốc hiện là quốc gia duy nhất sở hữu một chuỗi công nghiệp đất hiếm hoàn chỉnh, bao phủ toàn bộ các nguyên tố từ khai thác, tinh luyện đến chế tạo vật liệu ứng dụng. Ở bên ngoài Trung Quốc, năng lực còn rất hạn chế: nhà máy tách đất hiếm quy mô lớn duy nhất là Lynas tại Malaysia, nhưng mãi đến tháng 5 năm nay họ mới tuyên bố làm chủ công nghệ tinh chế đất hiếm nặng – và ngay cả công nghệ tinh chế đất hiếm nhẹ vốn đã trưởng thành hơn, độ tinh khiết sản phẩm của họ vẫn kém Trung Quốc 2 bậc. Tại Mỹ, công ty MP Materials, chủ mỏ Mountain Pass, đã đầu tư gần 1 tỷ USD từ năm 2020 nhưng vẫn chưa thể xử lý đất hiếm nặng.
Ngược lại, các công ty nước ngoài thường bỏ cuộc khi muốn tham gia khâu luyện kim, bởi lợi nhuận quá thấp. Điều này khiến việc nắm giữ cả chuỗi công nghiệp trở thành điều kiện gần như bắt buộc, đồng thời chi phí tái thiết lập chuỗi ngoài Trung Quốc ngày càng cao.
Cả khai thác lẫn luyện đất hiếm đều dễ gây ô nhiễm nghiêm trọng, và nhiều nước phương Tây đã phải “đẩy ô nhiễm ra ngoài” thông qua hình thức friend-shoring (chuyển hoạt động gây ô nhiễm sang các nước khác). Trong khi đó, Trung Quốc đã xây dựng cơ chế kiểm soát môi trường khá chặt chẽ: tỷ lệ sử dụng tổng hợp chất thải rắn đạt tới 85%, lượng nước thải và khí thải trong quá trình tách đất hiếm có thể giảm 60% nhờ công nghệ mới, và một số khâu thậm chí đạt mức phát thải bằng không.