Terminator3
Senior Member
Giới thiệu với các bác đam mê vọc vạch điều hòa một phương pháp khá hay để kiểm tra xem điều hòa của mình có đang hoạt động hiệu quả hay không: đo COP (Coefficient of Performance) – hay còn gọi là hiệu suất làm lạnh.
//lưu ý COP là thuật ngữ thường dành cho chế độ làm nóng (heating), còn làm lạnh (cooling) thuật ngữ chuẩn là EER. Tuy nhiên để quen thuộc mình sẽ dùng thuật ngữ COP cho bài này.
Để đo COP, cần chuẩn bị một số thiết bị bao gồm:
Tiếp theo dùng máy đo tốc độ gió để đo vận tốc gió tại cửa gió. Nên đo ở nhiều vị trí khác nhau rồi lấy giá trị trung bình vì tốc độ gió trên khe cửa gió không đồng đều. Ví dụ, vận tốc trung bình của 10 điểm đo được là 2,2 m/s khi set quạt gió ở tốc độ medium 3/5.
Máy đo công suất được dùng để ghi nhận điện năng tiêu thụ của máy. Nên lấy số liệu khi công suất đã ổn định ít nhất khoảng 30 phút. Ví dụ, công suất lúc đo là 138W, nhiệt độ ngoài trời đang là 32.2°C, nhiệt phòng là 28.2°C.
Cuối cùng, đo kích thước cửa gió. Ví dụ cửa gió ftxm25xvmv, ftxm35xvmv có chiều dài 0,69 m và chiều rộng 0,10 m.
Khi đã có đủ dữ liệu, COP có thể được tính theo công thức:
COP = (ΔT × V × CD × CR × 1,2 × 1005) / P
Tất nhiên phương pháp này chỉ mang tính tương đối, do sai số có thể đến từ độ chính xác của thiết bị đo hoặc việc xác định diện tích cửa gió chưa hoàn toàn chính xác do còn có cánh đảo gió, lưới chắn và các kết cấu khác. Tuy nhiên phương pháp này vẫn phản ánh khá tốt khả năng làm lạnh thực tế của máy và rất hữu ích khi so sánh giữa các model khác nhau trong các điều kiện phòng ốc khác nhau.
Một điểm cần lưu ý là COP không phải giá trị cố định. Thông thường COP đạt cao nhất khi máy chạy ở công suất thấp và giảm dần khi công suất tăng lên. Ví dụ Daikin FTXM trong thử nghiệm có thể đạt COP tới 9.42 khi tiêu thụ 138W điện. Tức là 138 W điện tạo ra tới 1300W công suất lạnh. Tuy nhiên khi chạy gần công suất tối đa khoảng 1040W, COP giảm xuống chỉ còn khoảng 4.1, tương đương 1040W điện chỉ tạo ra được 4250W công suất lạnh.
Điều này cho thấy muốn tiết kiệm điện thì mục tiêu quan trọng là giữ cho điều hòa hoạt động ở công suất càng thấp càng tốt. Khi chạy duy trì ở mức tải thấp hiệu suất thường rất cao. Thực tế nhiều mẫu điều hòa phổ thông giá rẻ như comfee vẫn có thể đạt COP trên 6.5 khi công suất tiêu thụ dưới 200W. Ngược lại nếu điều hòa phải vận hành ở công suất cao liên tục do phòng quá nóng, cách nhiệt kém hoặc chọn máy không đủ công suất thì ngay cả những model cao cấp như Pana XZ, Daikin FTXM, Mitsu ZSS cũng khó đạt COP trên 4. Lúc này điện năng tiêu thụ tăng mạnh trong khi lượng lạnh tạo ra không tăng tương ứng. Vì vậy thay vì chỉ quan tâm máy nào tiết kiệm điện dựa vào CSPF, việc giảm tải cho điều hòa bằng cách cải thiện cách nhiệt, hạn chế nguồn nhiệt và chọn công suất phù hợp mới là yếu tố mang lại hiệu quả tiết kiệm điện rõ rệt nhất; và COP là một công cụ rất mạnh để chúng ta có thể kiểm chứng điều này.
//lưu ý COP là thuật ngữ thường dành cho chế độ làm nóng (heating), còn làm lạnh (cooling) thuật ngữ chuẩn là EER. Tuy nhiên để quen thuộc mình sẽ dùng thuật ngữ COP cho bài này.
Để đo COP, cần chuẩn bị một số thiết bị bao gồm:
- 2 cảm biến nhiệt độ đầu dò
- Máy đo tốc độ gió
- Máy đo công suất điện
- Thước dây
Tiếp theo dùng máy đo tốc độ gió để đo vận tốc gió tại cửa gió. Nên đo ở nhiều vị trí khác nhau rồi lấy giá trị trung bình vì tốc độ gió trên khe cửa gió không đồng đều. Ví dụ, vận tốc trung bình của 10 điểm đo được là 2,2 m/s khi set quạt gió ở tốc độ medium 3/5.
Máy đo công suất được dùng để ghi nhận điện năng tiêu thụ của máy. Nên lấy số liệu khi công suất đã ổn định ít nhất khoảng 30 phút. Ví dụ, công suất lúc đo là 138W, nhiệt độ ngoài trời đang là 32.2°C, nhiệt phòng là 28.2°C.
Cuối cùng, đo kích thước cửa gió. Ví dụ cửa gió ftxm25xvmv, ftxm35xvmv có chiều dài 0,69 m và chiều rộng 0,10 m.
Khi đã có đủ dữ liệu, COP có thể được tính theo công thức:
COP = (ΔT × V × CD × CR × 1,2 × 1005) / P
Tất nhiên phương pháp này chỉ mang tính tương đối, do sai số có thể đến từ độ chính xác của thiết bị đo hoặc việc xác định diện tích cửa gió chưa hoàn toàn chính xác do còn có cánh đảo gió, lưới chắn và các kết cấu khác. Tuy nhiên phương pháp này vẫn phản ánh khá tốt khả năng làm lạnh thực tế của máy và rất hữu ích khi so sánh giữa các model khác nhau trong các điều kiện phòng ốc khác nhau.
Một điểm cần lưu ý là COP không phải giá trị cố định. Thông thường COP đạt cao nhất khi máy chạy ở công suất thấp và giảm dần khi công suất tăng lên. Ví dụ Daikin FTXM trong thử nghiệm có thể đạt COP tới 9.42 khi tiêu thụ 138W điện. Tức là 138 W điện tạo ra tới 1300W công suất lạnh. Tuy nhiên khi chạy gần công suất tối đa khoảng 1040W, COP giảm xuống chỉ còn khoảng 4.1, tương đương 1040W điện chỉ tạo ra được 4250W công suất lạnh.
Điều này cho thấy muốn tiết kiệm điện thì mục tiêu quan trọng là giữ cho điều hòa hoạt động ở công suất càng thấp càng tốt. Khi chạy duy trì ở mức tải thấp hiệu suất thường rất cao. Thực tế nhiều mẫu điều hòa phổ thông giá rẻ như comfee vẫn có thể đạt COP trên 6.5 khi công suất tiêu thụ dưới 200W. Ngược lại nếu điều hòa phải vận hành ở công suất cao liên tục do phòng quá nóng, cách nhiệt kém hoặc chọn máy không đủ công suất thì ngay cả những model cao cấp như Pana XZ, Daikin FTXM, Mitsu ZSS cũng khó đạt COP trên 4. Lúc này điện năng tiêu thụ tăng mạnh trong khi lượng lạnh tạo ra không tăng tương ứng. Vì vậy thay vì chỉ quan tâm máy nào tiết kiệm điện dựa vào CSPF, việc giảm tải cho điều hòa bằng cách cải thiện cách nhiệt, hạn chế nguồn nhiệt và chọn công suất phù hợp mới là yếu tố mang lại hiệu quả tiết kiệm điện rõ rệt nhất; và COP là một công cụ rất mạnh để chúng ta có thể kiểm chứng điều này.
Sửa lần cuối:
thì xử lý kiểu gì nhỉ.