Ngủ gật
Senior Member
Hàng chục cuộc chiến lớn trong chiến tranh giữa Ottoman với Nga đã để lại những hệ quả mang tính bước ngoặt đối với Ba Tư (nay là Iran). Vì Ottoman là mối đe dọa khủng khiếp đối với cả châu Âu lẫn thế giới Hồi giáo dòng Shia, Ba Tư đã chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao với các cường quốc Kitô giáo. Trong thế kỷ 16-17, Ba Tư (nhà Safavid) cử nhiều đoàn ngoại giao, muốn Nga và các nước liên minh châu Âu (như Đế quốc Áo Habsburg) đánh Ottoman từ phía Bắc và phía Tây, buộc Ottoman phải rút bớt quân ở biên giới phía Đông với Ba Tư. Nhờ có Nga kiềm chế phần lớn nguồn lực quân sự của Ottoman tại chiến trường Balkan và Biển Đen, Ba Tư đã nhiều lần thoát khỏi nguy cơ bị Ottoman nuốt chửng hoàn toàn. Nhưng thời thế thay đổi, sau đó mâu thuẫn giữa Ba Tư và Nga tăng lên. Vùng Nam Kavkaz (gồm Gruzia, Armenia, Azerbaijan ngày nay) vốn là vùng đệm tranh chấp khốc liệt giữa Ba Tư và Ottoman. Khi Nga và Ottoman đánh nhau, Ba Tư bị ảnh hưởng. Mỗi khi Nga thắng lớn trước Ottoman, vị thế của Nga ở Kavkaz lại tăng lên. Để ngăn chặn hai đế quốc Hồi giáo liên minh, Nga gây sức ép Ba Tư. Ba Tư liền chủ động tấn công Nga, nhưng bị thua Nga trong các cuộc chiến riêng rẽ (Chiến tranh Nga-Ba Tư). Kết quả là Ba Tư phải ký 2 hiệp ước mất toàn bộ vùng Nam Kavkaz vào tay Nga.
Đầu thế kỷ 19, Ottoman và Iran bắt tay nhau ngưng chiến và đàm phán phân định lãnh thổ. Đường biên giới Ottoman-Ba Tư ký năm 1847 tồn tại đến ngày nay.
Ba Tư và Ottoman đều đã từng là đế quốc lớn. Lịch sử chiến tranh giữa bọn này với Nga là chuỗi dài các cuộc xung đột đẫm máu kéo dài nhiều thế kỷ.
Chiến tranh 1651-1653: Nga XD các pháo đài phòng thủ dọc theo sông Sunzha (thuộc Chechnya ngày nay) khiến Ba Tư lo ngại sẽ tác động đến vai trò của mình ở vùng Dagestan và Georgia. Quân Ba Tư chủ động vượt biên tấn công pháo đài Sunzha của Nga vào năm 1651. Trải qua chiến dịch bao vây khốc liệt, năm 1653 quân Ba Tư thiêu rụi pháo đài và trục xuất hoàn toàn lực lượng đồn trú của Nga. Do Nga đang phải chuẩn bị chiến tranh với Ba Lan nên không gửi viện binh ứng cứu. Sa hoàng Alexei gửi sứ giả sang Isfahan cầu hòa. Ba Tư thắng lợi, củng cố vững chắc tầm ảnh hưởng tại vùng Kavkaz trong gần một thế kỷ tiếp theo.
Chiến tranh 1722-1723: Triều đại Safavid của Ba Tư khủng hoảng, nội loạn cướp bóc nổi lên. Sa hoàng Peter Đại đế chớp thời cơ Ba Tư suy yếu, lấy cớ "bảo vệ các thương nhân Nga bị cướp bóc" để đem quân xuống phía Nam. Hạm đội Nga nhanh chóng chiếm được cảng chiến lược Derbent (Dagestan). Năm 1723, một cánh quân Nga khác phối hợp cùng hạm đội hải quân chiếm tiếp thành phố cảng Baku (Azerbaijan) và vùng Gilan giàu tơ lụa ở phía nam Biển Caspian. Hiệp ước Saint Petersburg (1723) được ký kết. Ba Tư phải cắt nhượng toàn bộ bờ Tây và bờ Nam Biển Caspian cho Nga (bao gồm các vùng Derbent, Baku, Gilan, Mazandaran). Nhưng sau khi Peter Đại đế qua đời, do chi phí đồn trú quá tốn kém và dịch bệnh, Nga đã trả lại các vùng đất này cho Ba Tư vào những năm 1730, kèm đề nghị liên minh chống Đế quốc Ottoman.
Chiến tranh 1796: Vương triều Qajar lên nắm quyền ở Ba Tư, năm 1795 vua Ba Tư tiến hành cuộc viễn chinh tàn khốc vào vương quốc Georgia-vốn là chư hầu được Nga bảo hộ và tàn sát thủ đô Tbilisi (quê hương lãnh tụ LX Stalin). Catherine Đại đế nổi giận hạ lệnh phản công. Quân Nga tiến quân dọc theo Biển Caspian, dễ dàng chiếm lại Derbent, Baku và phần lớn vùng Azerbaijan ngày nay. Quân Nga thắng như chẻ tre, chuẩn bị cho mục tiêu tiến chiếm thủ đô Ba Tư. Tháng 11/1796, nữ hoàng Catherine bỗng nhiên đột tử, con trai lên ngôi. Sa hoàng Paul I là người cực kỳ lập dị và rất ghét mẹ mình nên làm ngược lại tất cả các chính sách của mẹ (Catherine định truyền ngôi cho cháu nội chứ không muốn truyền ngôi cho con trai lập dị). Ông lập tức hạ lệnh cho quân đội rút về nước, bỏ dở chiến dịch.
Cuộc chiến 1804-1813 là cuộc chiến định đoạt số phận vùng Nam Kavkaz. Năm 1801 Nga chính thức sáp nhập chư hầu Georgia vào lãnh thổ của mình. Ba Tư tận dụng thời cơ Nga đang phải lo đối phó với Ottoman và Pháp để tuyên chiến (Napoleon hỗ trợ Ottoman và Ba Tư bằng cách gửi sĩ quan huấn luyện, kỹ sư, vũ khí). Quân Ba Tư chủ động vượt biên tấn công, quân đồn trú Nga tại Kavkaz kiên cường kháng cự. Đến năm 1806 Nga phải căng mình trên 3 mặt trận: đánh nhau với Ba Tư ở Kavkaz, đánh với Ottoman ở Balkan và với Napoleon ở Trung Âu (sau khi Pháp đánh bại Phổ thì quân Pháp trực tiếp đánh nhau với Nga). Quân Nga may mắn có sỹ quan giỏi, ưu điểm về kỷ luật quân đội và kỹ năng chiến đấu, dần chuyển sang chủ động phản công. Năm 1807, Nga ký hòa ước với Pháp, chấp nhận nhiều nhượng bộ để rảnh tay đối phó với Ba Tư và Ottoman. Quân Ba Tư (được các sĩ quan Pháp huấn luyện, sau đó là sĩ quan Anh) đã chiến đấu ngoan cường nhưng liên tiếp thất bại trong các trận đánh lớn: Aslanduz (1812) và Lankaran (1813). Cuối cùng Ba Tư phải ký Hiệp ước 1813, vĩnh viễn cắt nhượng cho Nga toàn bộ các vùng lãnh thổ Georgia, Dagestan, phần lớn Azerbaijan và 1 phần Armenia. Ba Tư cũng mất quyền duy trì hạm đội quân sự trên Biển Caspian.
Cuộc chiến phục hận của triều đại Qajar 1826 – 1828: Lợi dụng việc Sa hoàng Alexander I chết năm 1825 và nội loạn tại Saint Petersburg, Ba Tư bất ngờ xua quân tràn qua biên giới mà không tuyên chiến nhằm đánh úp quân Nga. Giai đoạn đầu, quân Ba Tư vây hãm pháo đài Shusha và tiến sâu vào lãnh thổ Nga. Sa hoàng Nicholas I cử Thống chế Ivan Paskevich (một thiên tài quân sự) đến tiếp quản mặt trận Kavkaz. Paskevich tổ chức phản công bão táp, đánh bại hoàn toàn quân Ba Tư tại Ganja. Quân Nga thừa thắng xông lên, vượt sông Aras, đánh chiếm các thành phố chiến lược ở Armenia là Echmiadzin, Yerevan và tràn xuống chiếm luôn thành phố cổ Tabriz nằm sâu trong đất Ba Tư. Đòn đánh này buộc triều đình Ba Tư phải quỳ gối xin hàng để cứu thủ đô Tehran. Ba Tư ký hiệp ước 1828 nhượng nốt phần đất còn lại của Armenia (bao gồm Hãn quốc Yerevan), nộp khoản tiền bồi thường chiến phí khổng lồ bằng vàng, và trao cho các thương nhân Nga quyền miễn trừ pháp lý tuyệt đối trên đất Ba Tư. Nga cũng được quyền bảo hộ và đưa những người Armenia muốn di cư sang lãnh thổ Nga. Hiệp ước này đã ấn định đường biên giới hiện đại giữa Iran và khối các quốc gia hậu Xô Viết (Azerbaijan, Armenia). Kể từ sau năm 1828, Ba Tư hoàn toàn mất khả năng thách thức quân sự với Nga, rơi vào thế bị động và trở thành vùng đệm địa chính trị chịu sự thao túng nặng nề của hai cường quốc Nga và Anh trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Vụ tấn công ĐSQ Mỹ 1979 không phải là lần đầu xảy ra ở Tehran. Năm 1829 xảy ra vụ giáo sĩ kích động đám đông bạo loạn thảm sát ĐSQ Nga ở Iran. Đại sứ Nga và gần như toàn bộ nhân viên ngoại giao Nga thiệt mạng. Thấy Sa hoàng nổi giận muốn chinh phạt (sau khi đánh bại Ottoman và Napoleon, quân Nga lúc đó đang ở vị thế rất mạnh với quân số lớn nhất châu Âu và giàu kinh nghiệm thực chiến), vua Ba Tư cử hoàng tử Khosrow Mirza dẫn đầu phái đoàn ngoại giao mang theo thư xin lỗi chân thành và nhiều lễ vật ngoại giao mang tính biểu tượng, trong đó có viên kim cương Shah nổi tiếng thế giới (biểu tượng của quyền lực hoàng gia Ba Tư và đế chế Mughal của Ấn Độ). Viên kim cương đó là 1 trong những bảo vật nổi tiếng của Điện Kremlin ngày nay. Ba Tư đã hết sức thể hiện sự nhún nhường trước Nga để tránh cuộc chiến. Phái đoàn Khosrow Mirza được tiếp đón rất long trọng và được Nga tặng lại nhiều tặng vật quý, vì Sa hoàng Nicholas I muốn thể hiện rằng Nga không chỉ là một đế quốc chinh phục mà còn là một cường quốc có sự khoan hòa. Việc Nga nhận lời xin lỗi và đón tiếp long trọng giúp giữ thể diện cho Ba Tư, duy trì quan hệ láng giềng ổn định và bỏ qua hận thù quá khứ. Hoàng tử Khosrow Mirza trở về nước được triều đình đánh giá rất cao về thành tích ngoại giao, được bổ nhiệm làm thống đốc Kerman và có cơ hội nhòm ngó kế vị ngôi vua. Nhưng khi anh trai ông là Mohammad Mirza lên ngôi Shah đã trừ hậu họa bằng cách ra lệnh làm mù mắt các em trai của mình để họ hết cơ hội nhòm ngó ngôi vua.
Trong lịch sử, nhiều quốc gia đã từng bị diệt vong. Nga cũng đã nhiều lần suýt bị nuốt chửng bởi những cuộc xâm lược của Litva, Mông Cổ, Ba Lan, Thụy Điển, Ottoman, Đức, Napoleon... Thằng Nga may mắn là nó đã kháng chiến thành công, không những thu hồi đất bị chiếm mà còn mở rộng thêm.
Litva từng là đế quốc sở hữu sức mạnh khổng lồ. Vào thế kỷ 13, lợi dụng nước Nga Kiev bị quân Thành Cát Tư Hãn đánh tơi tả, Litva tranh thủ bành trướng về phía Đông và phía Nam (chiếm được vùng đất Belarus, Ukraine và cả vùng Smolensk, Bryansk của Nga hiện nay) để trở thành quốc gia có diện tích lớn nhất châu Âu thời Trung Cổ (bao gồm cả 1 phần Ba Lan, Moldova, Latvia). Quý tộc Litva cai trị nhưng tôn trọng văn hóa bản địa, không thay đổi phong tục, cho phép quý tộc Rus giữ nguyên tước vị, chấp nhận tiếng Nga làm ngôn ngữ luật pháp và hành chính chính thức. Thậm chí phần lớn giới quý tộc Litva thời ấy đã cải đạo sang Chính thống giáo, tiếng Nga được sử dụng trong triều đình. Lãnh thổ này thường được sử dụng thuật ngữ lịch sử là Lithuania-Rus. Tước hiệu của các đại công tước là Đại công tước của Litva và Rus. Thế kỷ 14, Đại công quốc Litva đã 3 lần đem quân đến tận Kremlin, đốt phá toàn bộ ngoại ô Moscow để ép vương công Moscow phải thần phục. Nhiều công quốc Rus đã làm chư hầu hoặc chịu sự cai trị trực tiếp của Litva nhiều thế kỷ. Cuối thế kỷ 15, công quốc Moskva mạnh lên, lật đổ ách đô hộ của Mông Cổ rồi dần dần thống nhất lại các công quốc Rus để lập ra Russia.
Thụy Điển từng là một đế quốc sở hữu quân đội thiện chiến hàng đầu châu Âu và đã nhiều lần xâm lược Nga. Thế kỷ 17 lợi dụng lúc Nga suy yếu và bị Ba Lan xâm lược, Thụy Điển tràn vào chiếm đóng toàn bộ miền Bắc nước Nga, chiếm cố đô Novgorod, cắt đứt hoàn toàn đường ra biển duy nhất của Nga ở phía Bắc. Để đổi lấy hòa bình nhằm phục quốc, Nga phải ký Hiệp ước Stolbovo (1617), nhường toàn bộ vùng đất Ingria và Kexholm (Saint Peterburg) cho Thụy Điển. Nga trở thành một quốc gia nội lục, không có biển. Thế kỷ 18, Vua Charles XII đem quân chiếm Moscow. Nga đốt sạch mọi kho lương và đồng ruộng trên đường rút lui để bỏ đói quân xâm lược. Mùa đông năm đó hàng vạn lính tinh nhuệ Thụy Điển chết rét và ốm trên đất Nga. Peter Đại đế phản công, bao vây và tiêu diệt hoàn toàn quân Thụy Điển trong trận Poltava (nay thuộc Ukraine). Charles XII phải bỏ chạy sang lánh nạn ở Đế quốc Ottoman. Cuộc xâm lược thất bại thảm hại, mở đầu cho sự trỗi dậy của Đế quốc Nga và sự sụp đổ vị thế bá chủ của Thụy Điển. Năm 1741, tận dụng thời cơ Nga đang có sự tranh giành quyền lực ở triều đình sau khi Sa hoàng chết, Thụy Điển tấn công nhằm đánh chiếm vùng Saint Petersburg và các vùng đất dọc vịnh Phần Lan. Quân Nga không những bẻ gãy các mũi tấn công mà còn phản công ngược lại, chiếm đóng toàn bộ vùng Phần Lan (lúc đó thuộc Thụy Điển). Thụy Điển phải ký hòa ước nhường thêm đất cho Nga. Năm 1788, khi Nữ hoàng Catherine Đại đế đang dồn toàn lực xuống phía Nam đánh nhau với Đế quốc Ottoman, tận dụng sườn phía Bắc của Nga ở Saint Petersburg hoàn toàn trống trải, Thụy Điển đánh úp. Vua Gustav III phát động tấn công bất ngờ bằng cả đường bộ lẫn đường biển, áp sát thủ đô Saint Petersburg của Nga, gây ra nhiều thiệt hại kinh hoàng cho hải quân Nga nhờ đánh úp bất ngờ. Tình thế nguy kịch đến mức Catherine Đại đế phải tự mình gom cả ngự lâm quân và dân quân ra tiền tuyến. Nga phản công thắng lợi, bảo vệ vẹn toàn thủ đô Saint Petersburg, xóa tan tham vọng của Thụy Điển để rảnh tay dồn toàn lực hạ gục Đế quốc Ottoman ở phía Nam và xử lý nốt Ba Lan ở phía Tây.
Ba Lan từng là 1 đại ca đầu gấu, đem quân xâm lược hầu hết các láng giềng xung quanh (Đức, Nga, Thụy Điển, Latvia, Estonia, Séc và Slovakia). Ba Lan đã cai trị suốt nhiều thế kỷ các vùng đất Prussia (Phổ), Malo-russia và Belo-russia (tức Ukraine và Belarus hiện nay) và 1 phần Veliko-russia (Nga). Có dạo Balan suýt biến Nga thành 1 tỉnh của mình. Balan chiếm đóng thủ đô Moscow nhiều năm và dựng bù nhìn lên làm vua Nga. Quân Balan đưa vua bù nhìn về cai quản Nga từ 1605-1610, sau đó Balan chính thức chiếm đóng Moscow từ 1610-1612, ép hội đồng quý tộc Nga phải chấp nhận hoàng tử Ba Lan là Władysław làm Sa hoàng Nga từ năm 1610-1634. Nhưng việc vua Ba Lan (cha của Władysław) bắt dân Nga phải từ bỏ đạo Chính thống giáo để chuyển sang Công giáo là giọt nước tràn ly, xúc phạm nghiêm trọng lòng tự tôn dân tộc và tôn giáo của người Nga, châm ngòi cho cuộc nổi dậy của toàn dân Nga. Năm 1612, một thương nhân liên kết với 1 quý tộc Nga tập hợp đội dân quân vùng dậy. Nghĩa quân được dân nô nức hưởng ứng, bao vây tấn công Moscow. khiến quân Balan phải đầu hàng, rút lui khỏi Moscow vào ngày 4/11/1612. Ngày kỷ niệm giải phóng Moscow khỏi quân xâm lược Balan 4/11 trở thành ngày đại lễ quốc gia của Nga suốt hơn 300 năm phong kiến. Nhưng đến CMT10 Lenin bãi bỏ ngày lễ này. Năm 2004, Putin ra sắc lệnh khôi phục ngày lễ Đoàn kết Dân tộc Nga 4/11 là ngày quốc lễ, thay thế cho ngày lễ 7/11 (ngày kỷ niệm CMT10). Đảng CS Nga phản đối dữ dội nhưng khi đem ra bỏ phiếu ở Hạ viện thì ĐCS bị thua. Bây giờ hàng năm ĐCS Nga vẫn tổ chức biểu tình ngày 7/11 để kỷ niệm CMT10. Việc Putin xóa sổ ngày nghỉ lễ kỷ niệm CMT10 Nga (7/11) và thay bằng ngày Đoàn kết Dân tộc 4/11 đã ghi dấu ấn ý thức hệ sâu sắc, nuôi dưỡng ngọn lửa phản kháng của khối cánh tả, ươm mầm Cách mạng Tuyết: mùa đông 2011, khi Nga bầu cử Quốc hội và Tổng thống, đảng CS Nga đã dồn toàn bộ lực lượng, nguồn lực và hệ thống tổ chức của mình đổ ra đường phố, cầm đầu phe đối lập biểu tình dữ dội với các biểu ngữ "Putin cút đi", "Nga không có Putin", "Hãy trả lại ngày 7/11 – Ngày lịch sử vĩ đại của chúng tôi!"... Đám đông còn rước cả hình nộm Putin đội bao cao su trên đầu. Nước Nga rung chuyển bởi nhiều cuộc biểu tình lớn. Tuy nhiên đa số dân Nga vẫn bầu cho Putin (đạt 63% số phiếu), Chủ tịch ĐCS Zyuganov về nhì với 17,2% phiếu, tỷ phú Prokhorov đạt 8%, chủ tịch đảng cực hữu Dân chủ tự do Zirinovsky đạt 6%, Mironov đạt 4%. Kết quả bầu quốc hội: đảng Nước Nga Thống nhất (thân Putin) đạt 52% ghế quốc hội, ĐCS Nga đạt 20% ghế, đảng Nước Nga Công lý đạt 15% và đảng cực hữu Dân chủ tự do đạt 13% ghế. Đến nay ĐCS Nga vẫn là đảng cầm đầu phe đối lập cánh tả trong Hạ viện Nga, nhưng số ghế ngày càng giảm trong các kỳ bầu cử. Thế hệ trẻ Nga có xu hướng bầu cho các đảng cánh hữu chứ không ủng hộ cánh tả như các cụ già (đảng thân Putin là đảng trung hữu, còn đảng của Zirinovsky là đảng cực hữu).
Nga giải phóng Moscow năm 1612, nhưng Balan còn chiếm đất và tiếp tục đánh nhau với Nga nhiều năm. Năm 1613 quý tộc Nga bầu Romanov làm Sa hoàng, sau đó ký hòa ước với Thụy Điển, chấp nhận cắt cho Thụy Điển vùng Karelia, Ingria (chỉ giữ lại cố đô Novgorod), để tập trung sức chống Balan. Giai đoạn 1617-1618, hoàng tử Balan là Władysław (người từng làm Sa hoàng) dẫn quân đánh đến sát tường thành Moscow một lần nữa, nhưng bị Nga đánh bật. Năm 1632 Władysław lên ngôi vua Ba Lan, Nga tấn công lấy lại các vùng đất đã mất, nhưng thua trận nên phải ký hòa ước 1634, không chỉ thừa nhận quyền cai trị của Balan ở Malorussia, Belorussia mà còn chịu mất thêm vùng Smolensk (thành trì quan trọng che chắn cho thủ đô Moscow) và vùng Chernihiv và Seversk (các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc Ukraine hiện nay). Nga cũng trả cho Balan 20.000 rúp bằng vàng để đổi lấy việc vua Władysław từ bỏ danh hiệu Sa hoàng Nga và trao trả các ấn tín hoàng gia chiếm giữ từ năm 1610. Về sau nước Nga mạnh dần lên, giành lại được nhiều vùng đất từ tay Balan, khôi phục quyền kiểm soát đối với phía đông Malorussia (Tiểu Nga). Giữa thế kỷ 18, nữ hoàng Nga Catherine liên kết với Phổ và Áo, hợp sức tiêu diệt Balan. Đất nước Balan bị xóa sổ, lãnh thổ bị phân chia cho 3 nước thắng trận: Nga lấy phần phía Đông, trong đó có Belorussia (Bạch Nga), Chyornaya-Russia (Hắc Nga) và phần còn lại của Malo-russia (Tiểu Nga). Phổ lấy phần phía Tây và Bắc Ba Lan, còn Áo lấy phần phía Nam (gồm các tỉnh Lviv, Ternopil và Ivano-Frankivsk của Ukraine hiện nay). Balan bị xóa sổ trên bản đồ thế giới suốt 123 năm, đến cuối WW1, khi cả 3 vương quốc Nga, Phổ, Áo đều sụp đổ, dân Balan mới chớp cơ hội tái lập quốc gia. Balan hòa hoãn với Đức để dồn sức đánh LX khi ấy còn non yếu, chiếm được vùng đất tây Ukraine và Belarus. Đến 1939 thì LX và Đức lại chia đôi Balan, Đức lấy phía tây, còn LX lấy phía Đông (gồm các vùng tây Ukraine và Belarus). Sau đó Stalin lấy thêm mấy tỉnh của Hungary, Rumani đem ghép vào cho Ukraine. Sau WW2 Stalin ghép thêm vùng phía đông của Chervonaya-Russia (Hồng Nga) vào Ukraine, còn phần phía tây của Chervonaya-Russia được chuyển cho Balan. Nếu bây giờ chia tay đòi quà thì Nga lấy lại mấy tỉnh miền Đông (mà ngày xưa Lenin và các lãnh tụ LX cắt cho Ukraine), còn Balan và Hungary, Rumani lấy lại mấy tỉnh miền tây là Ukraine hết mẹ đất.