NDMan
Senior Member
[Hk01 ngày 8 tháng 8 năm 2026]
www.hk01.com
Cùng với việc Vương Hồng giành Huy chương Fields, cư dân mạng Trung Quốc, Mỹ và Pháp đồng loạt nhìn lại môi trường giáo dục của mình. Đặc biệt tại Trung Quốc, nhiều người nhắc đến lời chia sẻ của cô trong video giới thiệu sau khi nhận giải:
“Ở đại học, tôi đã dành rất nhiều nỗ lực và kỷ luật cho việc học toán suốt nhiều năm, nhưng vẫn cảm thấy hơi nản lòng.”
Nghe câu nói ấy, không ít người bất giác nhớ lại những “tổn thương” từng trải qua trong quãng thời gian học toán, dù dài hay ngắn.
Có lẽ một phần những đau khổ ấy không bắt nguồn từ việc chúng ta “không có năng khiếu”, mà do môi trường giáo dục mang tính chèn ép khiến quá nhiều người ngột ngạt, tự nghi ngờ bản thân rồi từ bỏ đấu tranh?
Cảm ơn Vương Hồng vì đã nói ra câu “feel discouraged”
Nhiều giảng viên trong nước thích nói: “Một khi đã nhận đề tài này, em phải là chuyên gia trong lĩnh vực đó.”
Hàm ý phía sau là: Em phải hiểu rõ mọi thứ, không chỉ tự giải quyết tốt vấn đề của mình mà khi tôi có bất cứ câu hỏi nào, tôi cũng có thể hỏi em.
Cách suy nghĩ ấy khiến sinh viên mỗi khi gặp khó khăn hoặc bế tắc thường tự hỏi liệu mình có phải “không nên mắc kẹt ở chỗ này” hay không. Từ đó, họ lo lắng, tự giày vò và nghi ngờ năng lực của bản thân quá kém.
Tuy nhiên, khi giải thích lý do “trở lại” Pháp giảng dạy, Vương Hồng lại kể một trải nghiệm hoàn toàn trái ngược. Cô nói về cách mình xây dựng sự tự tin với toán học tại đây, khiến nhiều người nghe xong không khỏi xúc động:
“Thầy nói với tôi rằng nếu có bất kỳ câu hỏi nào, tôi chỉ cần ghi lại rồi hỏi thầy trong lần gặp tiếp theo. Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra mình không cần phải đơn độc chiến đấu và tự hiểu mọi thứ — có người sẵn lòng giúp đỡ tôi. Điều đó mang lại cho tôi chút an ủi. Tôi trở nên kiên nhẫn hơn, bớt căng thẳng hơn; cuối cùng, tôi cũng có thể tự mình hiểu được phần lớn kiến thức toán học.”
Khoa Toán của Đại học Bắc Kinh quy tụ rất nhiều thiên tài, đồng thời cũng được xem là một trong những “trại điên” nổi tiếng nhất đối với sinh viên cả nước.
Mặc dù Vương Hồng thông minh, từng là thủ khoa kỳ thi đại học và có thành tích tốt ở các môn chuyên ngành, nhưng do chưa từng tham gia các kỳ thi học sinh giỏi và chuyển ngành vào Khoa Toán, cô vẫn khá mờ nhạt, ít nói. Chính cô cũng thừa nhận rằng sau khi vào Khoa Toán, mình luôn phải vật lộn:
Sống sót được đã là tốt lắm rồi.
Tạm chưa bàn đến sự kiên trì, sức bền hay những phẩm chất cần thiết cho nghiên cứu khoa học, trong các ngành khoa học cơ bản của Đại học Bắc Kinh, không ít sinh viên ngay khi nhập học đã có thể xem là “công thành danh toại”.
Cho dù họ hoàn toàn buông xuôi, không quan tâm đến việc học thì vẫn có thể sống bằng thành tích cũ: dạy kèm cho học sinh phổ thông, làm người luyện tập cùng các đội tuyển… Chỉ cần đưa ra vài tấm huy chương danh giá từng giành được trong các kỳ thi là đã không cần lo chuyện kiếm sống.
Trong khi đó, những “thí sinh bình thường” chưa có gì nổi bật vẫn đang khao khát tiếp thu kiến thức chuyên ngành thì bỗng nhận ra mình đã bị cả đàn anh lẫn bạn bè đồng khóa bỏ xa.
Dưới áp lực của những “thiên tài xuất phát trước”, đồng thời bị một hệ thống đánh giá tương đối đơn nhất thúc ép tiến lên, bất kỳ ai không có tâm lý cực kỳ vững vàng đều dễ cảm thấy tự ti vì không tìm được cảm giác thuộc về và bắt đầu nghi ngờ con đường của mình.
Có thể trước khi cơ hội thay đổi xuất hiện, họ đã tự phán xét rằng “mình không làm được”, sau đó đầu hàng trong sợ hãi và với tâm lý cầu may.
Có người cho rằng câu “I felt a little discouraged” của Vương Hồng chỉ là cách nói tương đối nhẹ nhàng về một “môi trường độc hại”.
Chúng ta thường cảm nhận được rằng, cho dù năng lực của bạn bè xung quanh không quá vượt trội như tại Khoa Toán Đại học Bắc Kinh, môi trường ấy vẫn tồn tại sự chèn ép đến ngột ngạt. Bất kể năng lực tốt hay kém, người ta luôn nơm nớp lo sợ bị tập thể gạt bỏ hoặc bị hệ thống đào thải.
Từ nhỏ đã sống trong trạng thái cạnh tranh quá mức, ngay cả những “người ngoài cuộc” hoàn toàn không liên quan đến vấn đề cũng có thể dựa vào địa vị xã hội cao hơn để tùy ý chất vấn:
“Tại sao chuyện đơn giản như vậy mà cậu cũng không làm được?”
“Rõ ràng người khác đều làm được, tại sao chỉ mình cậu là đặc biệt?”
Những học sinh có năng lực bình thường bị mỉa mai: “Đến cái này cũng không học được thì nên bỏ cuộc sớm đi.”
Học sinh có thành tích xuất sắc cũng bị cảnh báo: “Mới có thế này thôi, sau này còn rất nhiều chuyện khó khăn hơn.”
Bất kể người nói có ác ý hay không, trong lời họ luôn không thiếu những “đồng thuận” cũ kỹ, kinh nghiệm xã hội nghe kể lại và những định kiến được phóng đại. Tất cả thường được chế biến thành một thứ “nước bọt” dùng để khuyên bạn bỏ cuộc hoặc phá hủy lòng tự tin của bạn.
Một cư dân mạng trên Xiaohongshu từng tổng kết về “cuộc đời chán nản của một đứa trẻ Đông Á”. Mặc dù chủ ngữ là “tôi”, rất nhiều hành động trong đó lại do người khác gây ra:
Mầm non: bị so sánh, luôn bận rộn;
Tiểu học: liên tục bị kiểm tra;
Chuyển cấp lên THCS: bị xếp hạng;
Ba năm THCS: đầy thử thách, vật lộn, quá tải;
Ba năm THPT: căng thẳng, bị phi nhân hóa, tổn thương tâm lý;
Bốn năm đại học: nản lòng, hoang mang, tuyệt vọng, cảm thấy vô dụng;
Học cao học: đau khổ, môi trường độc hại;
Viết luận văn: bị hành hạ;
Bảo vệ luận văn: bị bỏ mặc;
Học tiến sĩ: mắc kẹt;
Tìm việc: bị từ chối;
Đi làm: kiệt sức;
35 tuổi: bị thay thế.
Thực ra, trong môi trường như vậy, những người bị tổn thương nặng nề nhất chưa chắc là “đa số” có năng lực bình thường. Có lẽ chính những sinh viên hay suy nghĩ, thường xuyên nghiền ngẫm và tự phản tỉnh quá nhiều mới là những người gục ngã đầu tiên.
Ban đầu, rất nhiều người có sự tò mò mãnh liệt và niềm yêu thích lớn đối với lĩnh vực mình theo học. Thế nhưng trước khi có cơ hội để niềm đam mê ấy tỏa sáng, họ đã bị những đề tài không có triển vọng, các công việc mang tính thủ tục vô nghĩa, sự chèn ép không hồi kết, thậm chí là sự sỉ nhục nhân cách, cộng với cảm giác thất bại từ bên trong làm cho tê liệt giữa đường.
Thậm chí, một số sinh viên ngay từ đầu đã không dám thể hiện sự say mê với một lĩnh vực nào đó, cũng không dám “quá cố gắng”.
Trong môi trường đánh giá thành bại dựa trên kết quả đầu ra ngắn hạn, nếu ai đó công khai bày tỏ niềm yêu thích với một môn học nhưng lại không có thành tích tương ứng để chứng minh, chắc chắn sẽ có người chỉ trích rằng họ giả vờ chăm chỉ, làm màu.
Ngược lại, nếu một người có kết quả khá tốt lại thể hiện mình quá “cày cuốc”, hoặc đơn giản chỉ làm việc nghiêm túc, cẩn thận, họ có thể bị gán mác “kiểu người thành công nhờ chăm chỉ” và bị ghét vì “cố gắng quá mức”.
Du học có phải là liều thuốc giải?
Những hồi ức được Vương Hồng kể lại một cách bình thản khiến rất nhiều người đồng cảm bắt đầu suy ngẫm: Liệu ở “nước ngoài” có thật sự tồn tại một môi trường học tập tích cực và vui vẻ hơn hay không?
Một số cư dân mạng cho biết những năm đi du học là quãng thời gian họ trở nên cởi mở nhất. Các bạn học của Vương Hồng tại Pháp cũng nhận xét cô là người vui vẻ, hoạt bát.
Người viết từng nghe nhiều sinh viên của các trường đại học danh tiếng trong nước kể rằng, những điều họ học suốt nhiều năm tại trường mà vẫn không hiểu, sau khi ra nước ngoài và được tiếp cận bằng một cách tư duy khác thì dường như “lập tức được giải thích rõ ràng”.
Thậm chí, những kiến thức trước đây trông quá cao siêu, khiến họ không dám đụng đến, cũng có thể được giảng theo cách bớt đáng sợ hơn; các kỳ thi cũng không đến mức khiến người ta tuyệt vọng.
Trong trải nghiệm học tập của chúng ta, cảm giác tội lỗi mang tính thói quen được tạo ra bởi sự áp đặt dường như không chuyển hóa thành khả năng nhìn nhận vấn đề của bản thân một cách hiệu quả và tự tin khắc phục khuyết điểm.
Ngược lại, nhiều người hình thành một “nỗi sợ tri thức”. Trước cả khi tiếp xúc, họ đã bị ảnh hưởng bởi quan niệm không rõ từ đâu rằng: “Cái này quá khó, mình không thể học được.” Dần dần, nó biến thành tâm lý sợ khó và phản kháng dai dẳng.
Những thứ tạm thời chưa hiểu được sẽ bị chúng ta vô hạn hóa và biến thành “quái vật” trong tâm trí, đến mức sợ cả khi nghe người khác nhắc đến.
Nhưng sau khi học được một kiến thức nào đó nghe có vẻ cao siêu, nhiều người lại quay sang coi thường người khác, chế giễu những người đang ở hoàn cảnh giống hệt mình cách đó không lâu.
Dường như chúng ta bị mắc kẹt trong một hệ thống phân cấp, nơi “người có năng lực khác nhau khinh thường lẫn nhau, các ngành học cũng coi thường nhau”.
Khi thất bại, chúng ta than phiền rằng một môn học nào đó “quá kinh khủng”, những cao thủ cạnh tranh trong lĩnh vực ấy quá “đáng sợ”. Nhưng đồng thời, chúng ta lại tận hưởng cảm giác một ngày nào đó bản thân có thể từng bước leo lên đỉnh kim tự tháp.
Trong khi đó, chỉ một số ít người có thể sớm bình thản chấp nhận rằng bản thân có những điểm không giỏi, nhưng đồng thời cũng sở hữu những thế mạnh riêng.
Khách quan mà nói:
Việc học toán một cách nghiêm túc có ngưỡng tiếp cận không hề thấp. Ngay cả những thiên tài hàng đầu cũng không thể mãi không gặp thất bại hay nản lòng. Việc Vương Hồng thẳng thắn thừa nhận những khó khăn trong quá trình học tập nhắc chúng ta phải nhìn nhận rằng phương pháp giảng dạy toán tại các trường đại học trong nước thực sự tồn tại vấn đề.
Đối với những người có niềm yêu thích với toán nhưng tiếp thu chậm, không giỏi dùng những “mẹo thông minh” để nhanh chóng nhập cuộc và chiếm ưu thế, môi trường học thuật quá chú trọng vào tiểu tiết kỹ thuật khi vấn đề cốt lõi còn chưa được hiểu rõ, đồng thời quá say mê những thủ thuật cầu kỳ và khác lạ, rất dễ làm họ mất đi nhiệt huyết.
Xét từ kinh nghiệm thực tế, ở “nước ngoài” quả thực có thể tìm thấy không ít phong cách giảng dạy sẵn sàng tiến từng bước vững chắc, không chạy theo việc tạo ra thành tích theo tiêu chí “nhanh, nhiều, tốt và tiết kiệm”. Có lẽ cũng vì nền giáo dục “bắt buộc” ở giai đoạn đầu chưa phổ cập sâu rộng, nên trong điều kiện tự nhiên, những người vừa có hứng thú vừa có năng lực không nhiều; bởi vậy, các học giả càng đặc biệt trân trọng nhân tài.
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, trong hệ thống đào tạo trong nước, có những người buộc phải học một số môn toán cơ bản nhưng nghe giảng vẫn mơ hồ, khó hiểu và nhận ra giữa mình với sinh viên chuyên ngành Toán tồn tại một “bức tường” ngăn cách. Không thể chỉ đổi sang cách giảng tận tình, từng bước hơn và cách ra đề đơn giản, dễ hiểu hơn là tất cả mọi người đều lập tức thông suốt và hài lòng.
Việc phần trước đề cập rằng ở nước ngoài có thể tìm thấy một môi trường phù hợp hơn với sự phát triển học thuật của mỗi cá nhân không có nghĩa là muốn cổ súy cho quan niệm “trăng nước ngoài tròn hơn”.
Nghệ sĩ hài độc thoại người Mỹ gốc Hoa Joe Wong từng có một câu đùa rằng yêu cầu phổ cập kiến thức khoa học tự nhiên ở phương Tây quá thấp, cộng thêm nền giáo dục khuyến khích toàn dân, khiến vô số người “không biết 5 + 3 bằng bao nhiêu vẫn lớn lên với sự tự tin quá mức, thậm chí còn trở thành tổng thống”.
Một số người lại dựa vào lời kể của Vương Hồng để tự “thêm kịch” cho câu chuyện của mình. Họ đồng cảm sâu sắc, nhớ lại những khoảnh khắc bản thân từng chịu ấm ức rồi đem trải nghiệm ấy so sánh với cô, sau đó quy mọi thất bại của mình cho hoàn cảnh bên ngoài.
Phương pháp giáo dục của phương Đông và phương Tây đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Thành tựu của Vương Hồng quả thực không thể tách rời nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi mà cô đã gặp trong cuộc đời.
Điều chúng ta nên làm là ngưỡng mộ sự may mắn của cô, học cách cô tìm được vị trí phù hợp với bản thân và kiên trì theo đuổi nó. Thay vì thấy mình từng có những tổn thương tương tự một nhân vật xuất chúng rồi vội đồng nhất bản thân với họ, tự lừa dối chính mình và không dám tiến về phía trước.
菲爾茲獎|王虹稱讀北大時感沮喪 為何亞洲學生總要留學才開竅?
隨着王虹獲得菲爾茲獎(Fields Medal),中美法三國網友集體反思,尤其是中國,很多人會借用王虹在獲得菲爾茲獎的宣傳短片裏,提到自己上大學時「
Sửa lần cuối:



