Thiền - thắc mắc & giải đáp

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề hakunang22
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

hakunang22

Senior Member
Chuyện là trước em có thiền hơi thở theo vipassana, nhưng nghỉ 2-3 năm. Nay muốn theo lại, nên muốn tạo thread cho anh chị em thảo luận.
  • thời gian và thời lượng phù hợp là gì?
  • giấc ngủ có cần điều chỉnh như nào không?
  • ace có thay đổi chế độ ăn không?
  • ace có gặp hiện tượng lạ khi thiền ko?
 
  • thời gian và thời lượng phù hợp là gì? => tùy cuộc sống, nâng dần thời gian lên tới 1 mức không ảnh hưởng cuộc sống quá, vì ông không thể như các thầy ngồi thiền cả ngày được, còn phải đi làm kiếm ăn, gia đình ba mẹ, etc... Tôi rảnh ra tôi lại ngồi thay vì lướt điện thoại.
  • giấc ngủ có cần điều chỉnh như nào không? => không, nhưng nên áp dụng thiền (quan sát hơi thở, chuyển động, tâm, suy nghĩ) ngay cả khi nằm chờ vào giấc.
  • ace có thay đổi chế độ ăn không? => không, riêng tôi thì ăn tùy duyên, tức là có gì ăn nấy, tôi không có suy nghĩ phải đi kiếm được đúng thứ này thứ kia để ăn
  • ace có gặp hiện tượng lạ khi thiền ko? => đau chân mỏi gối, ngồi nhiều thì quen. Bỏ không thiền nhiều ngày đầu óc bị kéo đi và có nhiều suy nghĩ tiêu cực, tập thiền lại thì đỡ hơn.
Tôi chưa đạt được gì tốt trong việc thiền này ngoài việc bỏ thời gian ngồi thiền, chấp nhận sự vô dụng (mà trước giờ luôn nghĩ mình phải làm gì đó để hữu dụng),
để đổi lại là ngủ ngon hơn và sâu giấc hơn.
 
vụ hiện tượng lạ khi thiền là em có đọc được mấy cmt nói kiểu cảm thấy có người xúi giục mình làm điều sai trái (thực chất đều là cái xấu trong tâm trỗi dậy), và kiểu có thấy ánh sáng trắng này nọ nữa
 
vụ hiện tượng lạ khi thiền là em có đọc được mấy cmt nói kiểu cảm thấy có người xúi giục mình làm điều sai trái (thực chất đều là cái xấu trong tâm trỗi dậy), và kiểu có thấy ánh sáng trắng này nọ nữa
ai xúi dc ô, chính cái tâm nó xúi đó
 
Thớt không quá cũ, hy vọng mod không ban vì đào mộ. Thiền là một môn rất thần bí với mình, đã nghe nói ngồi thiền sẽ đạt được những năng lực kỳ dị như nhìn thấy tiền kiếp, nhìn thấy tương lai gần, nhìn thấy sự việc ở xa, nghe thấy tiếng nói ở xa, hoặc đắc đạo hay giác ngộ gì đó.
Những cái công năng đặc dị kia thì mình còn hiểu là những gì, còn đắc đạo hay giác ngộ là gì vậy ace? Những cái đó người đã giác ngộ có thể miêu tả trên giấy được không? Từ xưa tới này có các phương pháp thiền nào? Nhà sư trong chùa nếu tu nghiêm túc họ có khả năng gì đặc biệt không?
 
Thớt không quá cũ, hy vọng mod không ban vì đào mộ. Thiền là một môn rất thần bí với mình, đã nghe nói ngồi thiền sẽ đạt được những năng lực kỳ dị như nhìn thấy tiền kiếp, nhìn thấy tương lai gần, nhìn thấy sự việc ở xa, nghe thấy tiếng nói ở xa, hoặc đắc đạo hay giác ngộ gì đó.
Những cái công năng đặc dị kia thì mình còn hiểu là những gì, còn đắc đạo hay giác ngộ là gì vậy ace? Những cái đó người đã giác ngộ có thể miêu tả trên giấy được không? Từ xưa tới này có các phương pháp thiền nào? Nhà sư trong chùa nếu tu nghiêm túc họ có khả năng gì đặc biệt không?

thiền thực ra là hành động soi xét kỹ hơn về tâm trí bản thân, không có gì thần bí cả.

bản chất tham lam trong tâm mong muốn những khả năng kì dị như bạn liệt kê, thì làm cho bạn tưởng là đạt được như vậy, nhưng thực ra là ảo tưởng (bạn nghĩ được thì là được, bạn nghĩ không được thì là không được, mọi sự bên ngoài là phản chiếu của tâm)

đắc đạo/giác ngộ là nhận ra sự thật duy nhất: ngoài sinh, tử của bản thân ra thì không có gì quan trọng => tôn trọng/yêu thương hiện tại mà sống, xem nhẹ những thứ khác.

phương pháp thì nhiều, nhưng quan trọng là không chấp pháp (tức là phương pháp nào cũng được, miễn nhận ra và thực hành được sự thật duy nhất ở trên). Nói dễ nhưng thực hành không dễ vì kể cả khi giác ngộ xong, thì cuộc sống còn rất nhiều thứ sẽ lôi kéo tâm trí bạn đi ra khỏi sự thật ấy.
Sự xoay vòng giữa giác ngộ rồi bị lôi đi, rồi lại giác ngộ, thì là luân hồi, chứ luân hồi không phải là kiếp này kiếp khác.

tu nghiêm túc trong chùa (ở VN) thì học còn nhiều hơn cả trường đại học :D, chủ yếu học giáo lý để lấy bằng cấp.
người đắc đạo/giác ngộ chủ yếu là tu tâm mà ra chứ không tu chùa.
phần lớn giác ngộ xong thì họ sống ẩn giật, ẩn tu, hoặc sống giữa đời thường không nổi trội. Những vị đại giác khác đi thuyết pháp hay giảng giải thì lại là số ít.
 
Chuyện là trước em có thiền hơi thở theo vipassana, nhưng nghỉ 2-3 năm. Nay muốn theo lại, nên muốn tạo thread cho anh chị em thảo luận.
  • thời gian và thời lượng phù hợp là gì?
  • giấc ngủ có cần điều chỉnh như nào không?
  • ace có thay đổi chế độ ăn không?
  • ace có gặp hiện tượng lạ khi thiền ko?
Quan điểm của mình khi ngồi thiền theo vipassana:
  • thời gian và thời lượng phù hợp: sau khi ngủ dạy và trước khi đi ngủ vì lúc đó tâm khá ổn định. Thời gian thì phụ thuộc vào sự tinh tấn của bạn (khoảng 20-60 phút tùy người).
  • giấc ngủ có cần điều chỉnh như nào không: làm sao để tránh việc lúc ngồi thiền bạn có dễ bị dính hôn trầm hay không.
  • ace có thay đổi chế độ ăn không: ăn theo tam tịnh thịt(nhìn, nghe, nghi). Không ăn thịt gì nhìn thấy làm thịt con vật cho mình, không ăn thịt gì mà nghe có người làm thịt nó vì làm cho mình ăn, có sự nghi ngờ rằng người kia làm thịt cho mình ăn. Yếu tố này để tranh tâm bị ray rứt và tâm khó được an lúc ngồi thiền. Bạn nên tìm hiểu thêm ngũ giới nữa.
  • ace có gặp hiện tượng lạ khi thiền ko: lúc thiền bất kỳ hiện tượng gì trong tâm khởi lên về hình ảnh đều là tưởng và đừng chấp vào nó. Việc ngồi thiền với mục đích để truy tìm 1 trạng thái, 1 cảnh giới ... đã là 1 buổi thiền thất bại dễ bị tham, sân, si lôi đi
 
thiền thực ra là hành động soi xét kỹ hơn về tâm trí bản thân, không có gì thần bí cả.

bản chất tham lam trong tâm mong muốn những khả năng kì dị như bạn liệt kê, thì làm cho bạn tưởng là đạt được như vậy, nhưng thực ra là ảo tưởng (bạn nghĩ được thì là được, bạn nghĩ không được thì là không được, mọi sự bên ngoài là phản chiếu của tâm)

đắc đạo/giác ngộ là nhận ra sự thật duy nhất: ngoài sinh, tử của bản thân ra thì không có gì quan trọng => tôn trọng/yêu thương hiện tại mà sống, xem nhẹ những thứ khác.

phương pháp thì nhiều, nhưng quan trọng là không chấp pháp (tức là phương pháp nào cũng được, miễn nhận ra và thực hành được sự thật duy nhất ở trên). Nói dễ nhưng thực hành không dễ vì kể cả khi giác ngộ xong, thì cuộc sống còn rất nhiều thứ sẽ lôi kéo tâm trí bạn đi ra khỏi sự thật ấy.
Sự xoay vòng giữa giác ngộ rồi bị lôi đi, rồi lại giác ngộ, thì là luân hồi, chứ luân hồi không phải là kiếp này kiếp khác.

tu nghiêm túc trong chùa (ở VN) thì học còn nhiều hơn cả trường đại học :D, chủ yếu học giáo lý để lấy bằng cấp.
người đắc đạo/giác ngộ chủ yếu là tu tâm mà ra chứ không tu chùa.
phần lớn giác ngộ xong thì họ sống ẩn giật, ẩn tu, hoặc sống giữa đời thường không nổi trội. Những vị đại giác khác đi thuyết pháp hay giảng giải thì lại là số ít.
Bạn cho hỏi đây có phải là trải nghiệm của bạn không? Tôi vẫn chưa hiểu lắm chuyện giác ngộ. Ví dụ như mình ngồi suy ngẫm rồi đồng ý với "ngoài sinh, tử của bản thân ra thì không có gì quan trọng" thì có được coi là giác ngộ không hay chỉ có thể như vậy khi thiền?
 
Thiền vipassana là dùng chánh niệm để ngồi thiền. Chánh niệm là 1 phần trong quá trình tu tập tứ niệm xứ. Bài viết này dành cho những ai đang trên còn đường luyện chánh niệm.

CHÁNH NIỆM – TỪ TIN VÀO Ý NGHĨ ĐẾN TRỰC TIẾP THẤY PHÁP ĐANG LÀ​

Lưu ý: Bài viết này trình bày quan điểm và cách hiểu cá nhân của tôi về chánh niệm dựa trên quá trình tìm hiểu và thực hành Phật pháp. Nội dung mang tính chất tham khảo, không phải một định nghĩa hay cách diễn giải duy nhất về giáo lý Phật giáo. Một số mô hình trong bài được sử dụng nhằm mục đích minh họa, giúp dễ hình dung cơ chế vận hành của tâm.

1. Chánh niệm là gì?​

Theo cách hiểu đơn giản, chánh niệm là sự ghi nhận rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại, mà không vội chạy theo, đồng hóa hay phản ứng với nó.

Khi có một cảm giác xuất hiện, biết rõ cảm giác đang xuất hiện.

Khi có một ý nghĩ xuất hiện, biết rõ ý nghĩ đang xuất hiện.

Khi có sự khó chịu, biết rõ sự khó chịu đang có mặt.

Khi có sự thích thú, biết rõ sự thích thú đang có mặt.

Điểm quan trọng ở đây là biết cái đang xảy ra trước khi tâm lập tức tạo ra câu chuyện về nó.

Ví dụ, khi nghe một người nói một câu khiến mình khó chịu, thông thường chúng ta không chỉ đơn giản là “nghe”.

Chúng ta nghe → cảm thấy khó chịu → suy diễn người kia có ý gì → nhớ lại những chuyện cũ → phân tích → phán xét → nghĩ cách đáp trả.

Toàn bộ quá trình diễn ra nhanh đến mức chúng ta thường không nhận ra từng bước.

Và cuối cùng, chúng ta có cảm giác:

“Tôi đang nghĩ.”
“Tôi đang tức giận.”
“Tôi đang bị xúc phạm.”
Nhưng liệu tất cả những thứ đó có thực sự là “tôi” hay không?

Muốn nhìn thấy điều này, trước hết cần hiểu một cách đơn giản về cơ chế phản ứng của một hệ thống sống.


2. Từ xúc đến phản ứng​

Ở mức độ rất đơn giản, một hệ thống động vật có thể được hình dung như:

Xúc → Thọ → Phản ứng

Có một kích thích tác động vào giác quan.

Kích thích được tiếp nhận.

Sau đó xuất hiện một cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính.

Tiếp theo hệ thống phản ứng.

Ví dụ, một con vật chạm phải vật nóng.

Nó cảm nhận kích thích → xuất hiện cảm giác khó chịu → rút chân lại.

Phản ứng này có tính chất rất nhanh và tự động.

Ở đây, chưa cần phải có một câu chuyện phức tạp:

“Tại sao vật này nóng?”
“Ai làm nó nóng?”
“Lần trước mình từng bị như thế này.”
“Có lẽ ngày mai mình cũng sẽ bị.”
Hệ thống chỉ đơn giản là nhận biết kích thích và phản ứng.

Con người cũng có những cơ chế phản ứng tự động như vậy.

Nhưng con người có thêm một hệ thống cực kỳ mạnh: hệ thống ý niệm, suy nghĩ và ngôn ngữ.

Và chính hệ thống này làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn rất nhiều.


3. Cơ chế của con người phàm phu: từ xúc đến ý nghĩ​

Có thể dùng một mô hình đơn giản để minh họa:

Xúc → Thọ → Ái → Hành → Ý nghĩ/ngôn ngữ → Phản ứng

Đây không phải là một công thức giáo lý được phát biểu nguyên văn theo đúng chuỗi trên, mà là một mô hình diễn giải để chúng ta dễ quan sát tâm mình.

Một sự việc xảy ra.

Đầu tiên là xúc.

Sau xúc, có thọ: dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính.

Sau đó, nếu có ái, tâm không còn chỉ đơn giản ghi nhận sự việc nữa. Nó bắt đầu muốn giữ lại cái dễ chịu, đẩy ra cái khó chịu hoặc tìm kiếm thêm thông tin để củng cố điều mình muốn.

Từ đây, các hoạt động tâm lý phức tạp bắt đầu xuất hiện.

Tâm phân tích.

Tâm so sánh.

Tâm ghi nhớ.

Tâm suy diễn.

Tâm tưởng tượng.

Tâm phán xét.

Tâm tạo thành câu chữ.

Và cuối cùng những thứ đó có thể trở thành lời nói và hành động.

Điều đáng chú ý là:

cái chúng ta nghĩ không nhất thiết đồng nghĩa với sự thật đang xảy ra.

Bởi vì trên đường đi, thông tin đã có thể bị biến đổi bởi thọ, ái, ký ức, quan điểm, thành kiến và rất nhiều điều kiện khác.


4. Tại sao lời nói của người khác chưa chắc đã phản ánh chính xác sự thật?​

Hãy thử quan sát một tình huống rất bình thường.

Một người nói với bạn:

“Hôm nay tôi gặp một chuyện rất tệ.”
Bạn nghe câu nói đó.

Nhưng câu nói ấy không phải bản thân sự kiện.

Người kia đã trải qua một sự việc.

Sự việc đó tác động vào họ.

Họ có cảm giác.

Họ có cách nhìn.

Họ có ký ức.

Họ có thích và ghét.

Họ có những suy nghĩ riêng.

Sau đó tất cả những thứ ấy được chuyển thành ngôn ngữ.

Rồi từ ngôn ngữ đó mới đến tai bạn.

Vì vậy, thứ bạn nhận được không phải là toàn bộ sự kiện ban đầu.

Bạn nhận được một phiên bản của sự kiện đã đi qua hệ thống nhận thức của người kia.

Và ngay cả khi người kia hoàn toàn thành thật, điều đó cũng không có nghĩa là họ có thể truyền tải 100% kinh nghiệm của mình cho bạn.

Sau khi nghe, bạn lại tiếp tục diễn giải theo hệ thống của chính mình.

Do đó:

Sự kiện → kinh nghiệm của người A → ngôn ngữ của A → tai của B → kinh nghiệm của B → diễn giải của B

Thông tin có thể thay đổi qua rất nhiều tầng.

Điều này không có nghĩa là ngôn ngữ vô dụng.

Ngược lại, ngôn ngữ là một công cụ vô cùng quan trọng.

Nhưng ngôn ngữ có giới hạn.


5. Ví dụ về một quả vải​

Hãy tưởng tượng tôi cầm một quả vải, bóc vỏ và cắt nó làm đôi.

Tôi đưa một nửa cho người thứ nhất và một nửa cho người thứ hai.

Cả hai cùng ăn.

Sau đó tôi hỏi:

“Quả vải này có vị như thế nào?”
Người thứ nhất có thể nói:

“Rất ngọt.”
Người thứ hai có thể nói:

“Ngọt nhưng hơi chua.”
Hai người tiếp tục cố gắng mô tả.

“Nó nhiều nước.”
“Thịt mềm.”
“Có mùi thơm.”
Nhưng liệu hai người có thể dùng ngôn ngữ để truyền nguyên vẹn kinh nghiệm trực tiếp của quả vải từ tâm người này sang tâm người kia không?

Không.

Không thể truyền nguyên vẹn.

Không thể dùng câu chữ để truyền chính xác toàn bộ lượng nước trong quả vải, cấu trúc của thịt quả, mức độ ngọt mà người đó cảm nhận, cảm giác trong miệng, mùi hương và toàn bộ kinh nghiệm trực tiếp.

Ngôn ngữ chỉ là ký hiệu đại diện cho kinh nghiệm.

Nó không phải bản thân kinh nghiệm.

Nếu tôi chưa từng ăn quả vải, dù hai người kia có mô tả cho tôi rất nhiều lần, tôi vẫn chỉ có một khái niệm về quả vải.

Tôi nghe về quả vải.

Nhưng tôi chưa thấy và nếm quả vải.

Đây chính là ý nghĩa rất gần với câu nói quen thuộc:

“Trăm nghe không bằng một thấy.”

6. Một đứa trẻ và ngọn lửa​

Hãy tưởng tượng một đứa trẻ chưa từng biết lửa nóng.

Người lớn nói:

“Lửa nóng đấy, đừng chạm vào.”
Đứa trẻ có thể nghe.

Nhưng trong tâm nó vẫn có thể xuất hiện câu hỏi:

“Có thật sự nóng không?”
Đó là bởi vì nó mới chỉ tiếp nhận thông tin bằng ngôn ngữ.

Một ngày nào đó, nó chạm vào lửa và bị bỏng.

Khi ấy, không cần ai giải thích thêm.

Kinh nghiệm trực tiếp đã xuất hiện.

Không còn là:

“Người khác nói lửa nóng.”
Mà trở thành:

“Chính mình đã trực tiếp biết cảm giác nóng và đau.”
Kinh nghiệm trực tiếp có một sức thuyết phục hoàn toàn khác với thông tin được truyền đạt bằng ngôn ngữ.

Tuy nhiên, ở đây cần hiểu rằng ví dụ này chỉ nhằm minh họa sự khác biệt giữa nghe và trực tiếp kinh nghiệm, chứ không có nghĩa phải tự mình thử mọi thứ nguy hiểm để có “trực nghiệm”.


7. Nước biển và ông già Noel​

Một người chưa từng nhìn thấy biển có thể nghe hàng trăm người kể:

“Biển rất rộng.”
“Biển có vị mặn.”
“Sóng rất lớn.”
Nhưng tất cả những mô tả đó vẫn chỉ là thông tin.

Khi chính người đó đứng trước biển, nhìn thấy đường chân trời, nghe tiếng sóng và nếm một giọt nước biển, kinh nghiệm đã chuyển sang một cấp độ hoàn toàn khác.

Tương tự với câu chuyện về ông già Noel.

Một đứa trẻ có thể nghe cha mẹ kể:

“Ông già Noel sống ở Bắc Cực.”
Đứa trẻ có thể tin.

Nhưng sự tin tưởng đó vẫn dựa trên thông tin được truyền đạt.

Khi lớn lên và tự mình quan sát, tìm hiểu, nó có thể nhận ra rằng câu chuyện về ông già Noel không giống như điều mình từng tin.

Điều thay đổi không phải là thế giới đột nhiên thay đổi.

Điều thay đổi là cách nó biết về thế giới.


8. Vấn đề lớn hơn: chúng ta cũng đang làm điều tương tự với chính tâm mình​

Đây mới là điểm quan trọng nhất.

Chúng ta thường nghĩ rằng:

“Tôi đang suy nghĩ nên tôi biết mình.”
Nhưng có thể điều đang xảy ra là:

Xúc → Thọ → Ái → các hoạt động tâm → ý nghĩ → rồi tâm lại tin ý nghĩ đó là “tôi”.

Ví dụ, một người nói một câu khiến tôi khó chịu.

Ban đầu chỉ có âm thanh.

Sau đó có cảm giác khó chịu.

Rồi tâm bắt đầu tạo ra:

“Anh ta coi thường mình.”
“Anh ta cố tình.”
“Lần trước anh ta cũng như vậy.”
“Mình phải đáp trả.”
Tôi có thể hoàn toàn tin rằng:

“Tôi biết anh ta đang nghĩ gì.”
Nhưng thực tế tôi chỉ đang biết một chuỗi diễn giải do tâm mình tạo ra.

Đáng chú ý hơn nữa, chúng ta thường không nghi ngờ những suy nghĩ xuất hiện trong chính đầu mình.

Người khác nói với mình một điều, ta có thể nghi ngờ:

“Có thật không?”
Nhưng khi một ý nghĩ xuất hiện trong đầu:

“Tôi đúng.”
“Người kia sai.”
“Tôi đang bị xúc phạm.”
“Chuyện này chắc chắn sẽ xảy ra.”
chúng ta lại rất dễ lập tức tin:

“Đó là sự thật.”
Thậm chí còn đi xa hơn:

“Đó là tôi.”
Đây chính là chỗ chánh niệm trở nên quan trọng.


9. Chánh niệm: từ “nghe” sang “thấy”​

Nếu tâm không có chánh niệm, khi một cảm xúc xuất hiện, ta lập tức bước vào câu chuyện của nó.

Nhưng khi có chánh niệm, ta bắt đầu nhận ra:

“Đây là cảm giác khó chịu.”
“Đây là một ý nghĩ.”
“Đây là sự muốn.”
“Đây là sự không muốn.”
“Đây là sự sợ hãi.”
“Đây là sự thích thú.”
Ta không cần lập tức tin nó.

Ta cũng không cần lập tức chống lại nó.

Chỉ biết nó đang có mặt.

Đây là một sự thay đổi cực kỳ quan trọng.

Bởi vì thay vì sống hoàn toàn bên trong hệ thống diễn giải, ta bắt đầu quay trở lại với pháp đang thực sự hiện hữu trong thân và tâm ngay lúc đó.

Ví dụ:

Thay vì:

“Tôi đang tức giận vì người kia cố tình xúc phạm tôi.”
Chánh niệm có thể bắt đầu từ:

“Đang có cảm giác nóng trong thân.”
“Đang có sự khó chịu.”
“Đang có ý nghĩ cho rằng mình bị xúc phạm.”
“Đang có sự muốn phản ứng.”
Lúc này, ta bắt đầu phân biệt được:

cái đang xảy ra



câu chuyện mà tâm tạo ra về cái đang xảy ra.


10. Hệ thống ý nghĩ không cần phải bị loại bỏ​

Điều này không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ suy nghĩ, ngôn ngữ hay phân tích.

Không.

Con người cần suy nghĩ.

Cần ngôn ngữ.

Cần phân tích.

Cần đọc kinh.

Cần học giáo pháp.

Cần suy ngẫm.

Vấn đề không nằm ở việc có suy nghĩ.

Vấn đề nằm ở việc:

chúng ta có nhận ra suy nghĩ chỉ là suy nghĩ hay không?
Một người chưa tu tập có thể để hệ thống ý niệm làm trung tâm.

Mọi thứ đi qua:

nghe → suy nghĩ → diễn giải → phán xét → phản ứng.

Nhưng khi tu tập chánh niệm, dần dần một hệ thống khác được phát triển.

Đó là:

thấy trực tiếp → biết rõ → không vội phản ứng.

Hệ thống ý nghĩ vẫn còn.

Nhưng nó dần trở thành công cụ hỗ trợ, thay vì ông chủ.

Khi đọc một bài kinh, ta có thể dùng suy nghĩ để hiểu nghĩa.

Khi nghiên cứu giáo pháp, ta có thể phân tích.

Khi giải quyết công việc, ta có thể suy luận.

Nhưng khi một cảm giác tham muốn, sân hận hay sợ hãi xuất hiện, ta không nhất thiết phải để hệ thống ý niệm lập tức dẫn mình đi.

Ta quay về:

“Cái gì đang xảy ra ngay bây giờ?”

11. Chuyển từ hệ thống “ý niệm” sang hệ thống “chánh niệm”​

Có thể hình dung con người đã sử dụng hệ thống ý niệm trong hàng chục năm.

Từ nhỏ, chúng ta học thế giới thông qua:

  • tên gọi;
  • khái niệm;
  • ký ức;
  • ngôn ngữ;
  • suy luận;
  • đánh giá;
  • so sánh.
Nhờ đó chúng ta xây dựng một “bản đồ” về thế giới.

Nhưng bản đồ không phải là lãnh thổ.

Tên gọi “lửa” không phải là ngọn lửa.

Từ “biển” không phải là biển.

Từ “quả vải” không phải là vị của quả vải.

Và câu:

“Tôi đang tức giận”
cũng không phải bản thân kinh nghiệm tức giận.

Nó là một ý niệm về kinh nghiệm đang xảy ra.

Chánh niệm giúp chúng ta quay từ bản đồ trở lại với lãnh thổ.

Từ:

“Tôi đang tức giận.”
sang:

“Đang có cảm giác khó chịu.”
Từ:

“Tôi ghét người này.”
sang:

“Đang có sự không ưa.”
Từ:

“Tôi rất sợ.”
sang:

“Đang có cảm giác sợ hãi.”
Từ:

“Tôi muốn cái này.”
sang:

“Đang có sự muốn.”
Chỉ một sự thay đổi rất nhỏ trong cách nhận biết nhưng nó tạo ra một khoảng cách rất lớn.


12. Khi có chánh niệm, chúng ta bắt đầu thấy điều gì?​

Khi chánh niệm được duy trì, ta bắt đầu nhận ra một sự thật rất đơn giản:

Pháp sinh lên rồi diệt đi.

Cảm giác đến rồi đi.

Ý nghĩ đến rồi đi.

Sự thích thú đến rồi đi.

Sự khó chịu đến rồi đi.

Sự sợ hãi đến rồi đi.

Ham muốn đến rồi đi.

Ngay cả những ý nghĩ mà trước đây ta tưởng là:

cũng chỉ xuất hiện rồi biến mất.

Nếu một ý nghĩ có thể xuất hiện mà ta không tạo ra nó theo ý muốn, rồi nó cũng tự biến mất dù ta không muốn nó biến mất, thì liệu có thể đơn giản đồng nhất nó với:

hay không?

Chánh niệm không cần phải trả lời câu hỏi ấy bằng suy luận.

Nó cho phép ta quan sát trực tiếp.

Đây chính là sự khác biệt giữa:

nghĩ về vô thường



trực tiếp thấy sự sinh diệt.

Giữa:

nghĩ rằng cảm xúc không phải là mình



trực tiếp thấy cảm xúc sinh lên rồi biến mất mà không cần ta điều khiển.


13. Từ chánh niệm đến tuệ tri​

Khi chỉ suy nghĩ về giáo pháp, ta có thể biết:

“Mọi pháp đều vô thường.”
Nhưng đây vẫn có thể chỉ là một mệnh đề.

Khi có chánh niệm và tỉnh giác, ta bắt đầu quan sát chính thân tâm mình.

Một cảm giác xuất hiện.

Ta biết nó.

Nó thay đổi.

Ta biết nó thay đổi.

Nó biến mất.

Ta biết nó biến mất.

Một ý nghĩ xuất hiện.

Ta biết nó.

Nó tồn tại một lúc.

Nó biến đổi.

Rồi nó biến mất.

Ta biết tất cả những điều đó.

Lúc này, kiến thức không còn chỉ nằm trong ngôn ngữ.

Nó trở thành kinh nghiệm trực tiếp.

Từ đây có thể hiểu quá trình:

Chánh niệm → Tuệ tri → Thấy như thật

theo nghĩa ngày càng trực tiếp nhận biết pháp đang xảy ra đúng như nó đang xảy ra, thay vì chỉ biết nó thông qua khái niệm.


14. Thấy như thật và sự thay đổi của tâm​

Khi một người liên tục thấy một pháp sinh lên rồi diệt đi, thấy nó không nằm trong quyền kiểm soát, thấy nó không đem lại sự thỏa mãn bền vững, thì cách nhìn về pháp ấy bắt đầu thay đổi.

Điều trước đây rất hấp dẫn có thể không còn hấp dẫn như trước.

Điều trước đây khiến ta nổi giận dữ dội có thể không còn sức mạnh như trước.

Không phải vì ta dùng ý chí để ép mình:

“Không được thích.”
“Không được ghét.”
“Không được sân.”
Mà bởi vì cái thấy đã thay đổi.

Khi thấy rõ hơn, tâm tự nhiên bớt bị cuốn vào.

Từ đó có thể hình dung tiến trình tu tập:

Chánh niệm

Tuệ tri

Thấy như thật

Nhàm chán

Ly tham

Giải thoát


Ở đây, “nhàm chán” không nên hiểu là chán đời hay tuyệt vọng.

Nó gần với ý nghĩa nibbidā trong giáo pháp: khi thấy rõ bản chất của các pháp hữu vi, tâm không còn mê đắm chúng như trước.

Từ sự thấy rõ đó, ái và sự bám chấp dần yếu đi.

Và khi ái, thủ được đoạn giảm, con đường đi đến giải thoát mới thực sự mở ra.


15. Chánh niệm không phải là nghĩ đúng​

Một điểm cuối cùng rất quan trọng:

Chánh niệm không phải là nghĩ ra một câu đúng rồi tự nhắc mình câu đó.

Ví dụ:

“Cơn giận này vô thường.”
Nếu chỉ nói câu ấy trong đầu, đó vẫn là một ý nghĩ.

Chánh niệm là:

đang có cơn giận → biết rõ cơn giận đang có mặt.
Sau đó quan sát.

Nó mạnh hay yếu?

Nó nằm ở đâu?

Nó thay đổi thế nào?

Nó có tồn tại mãi không?

Có thể khiến nó xuất hiện đúng lúc mình muốn không?

Có thể khiến nó biến mất ngay lập tức không?

Khi quan sát đủ sâu, những điều này không còn cần phải được tin.

Ta thấy.

Và cái thấy trực tiếp có sức chuyển hóa rất khác với việc chỉ tin một mệnh đề.


Kết luận​

Con người chúng ta đã quá quen với việc sống bằng hệ thống ý niệm.

Chúng ta nghe, suy nghĩ, diễn giải, phân tích và rồi tin vào những gì mình vừa nghĩ ra.

Ta làm điều đó với thế giới bên ngoài.

Nhưng nguy hiểm hơn, ta cũng làm điều đó với chính thân tâm mình.

Một cảm giác xuất hiện, tâm lập tức tạo ra câu chuyện.

Một ý nghĩ xuất hiện, ta lập tức tin đó là mình.

Một ham muốn xuất hiện, ta lập tức nghĩ:

“Tôi muốn.”
Một sự khó chịu xuất hiện, ta lập tức nghĩ:

“Tôi ghét.”
Chánh niệm mở ra một cách biết khác.

Không phải lập tức tin.

Không phải lập tức chống lại.

Không phải lập tức phân tích.

Mà trước hết:

Biết rõ cái đang xảy ra.
Từ đó, thay vì chỉ “nghe” về pháp qua kinh sách, qua lời nói, qua suy nghĩ của chính mình, ta bắt đầu trực tiếp thấy pháp đang sinh khởi và diệt đi trong chính thân tâm này.

Giống như người chưa từng ăn quả vải chỉ nghe người khác mô tả về vị của nó.

Đến một lúc nào đó, người ấy tự mình nếm quả vải.

Không cần thêm một người thứ ba xác nhận.

Không cần thêm một câu mô tả.

Kinh nghiệm trực tiếp đã tự nó trở thành sự hiểu biết.

Có lẽ đây cũng là một trong những ý nghĩa sâu sắc của việc tu tập chánh niệm:

từ biết bằng khái niệm → sang biết bằng trực nghiệm;
từ tin vào ý nghĩ → sang thấy pháp;
từ thấy pháp → tuệ tri;
từ tuệ tri → thấy như thật;
từ thấy như thật → ly tham;
và từ ly tham → con đường giải thoát.
 
Quan điểm của mình khi ngồi thiền theo vipassana:
  • thời gian và thời lượng phù hợp: sau khi ngủ dạy và trước khi đi ngủ vì lúc đó tâm khá ổn định. Thời gian thì phụ thuộc vào sự tinh tấn của bạn (khoảng 20-60 phút tùy người).
  • giấc ngủ có cần điều chỉnh như nào không: làm sao để tránh việc lúc ngồi thiền bạn có dễ bị dính hôn trầm hay không.
  • ace có thay đổi chế độ ăn không: ăn theo tam tịnh thịt(nhìn, nghe, nghi). Không ăn thịt gì nhìn thấy làm thịt con vật cho mình, không ăn thịt gì mà nghe có người làm thịt nó vì làm cho mình ăn, có sự nghi ngờ rằng người kia làm thịt cho mình ăn. Yếu tố này để tranh tâm bị ray rứt và tâm khó được an lúc ngồi thiền. Bạn nên tìm hiểu thêm ngũ giới nữa.
  • ace có gặp hiện tượng lạ khi thiền ko: lúc thiền bất kỳ hiện tượng gì trong tâm khởi lên về hình ảnh đều là tưởng và đừng chấp vào nó. Việc ngồi thiền với mục đích để truy tìm 1 trạng thái, 1 cảnh giới ... đã là 1 buổi thiền thất bại dễ bị tham, sân, si lôi đi
Vậy lúc thiền mà gặp một ý nghĩ hay một hình ảnh, hoặc một kỷ niệm gì thì mình sẽ làm gì bạn? Kệ nó, hay đuổi nó đi? Ngồi thiên Vipassana mà đúng thì sau này mình sẽ được gì?
 
Bạn cho hỏi đây có phải là trải nghiệm của bạn không? Tôi vẫn chưa hiểu lắm chuyện giác ngộ. Ví dụ như mình ngồi suy ngẫm rồi đồng ý với "ngoài sinh, tử của bản thân ra thì không có gì quan trọng" thì có được coi là giác ngộ không hay chỉ có thể như vậy khi thiền?
Theo kinh nghiệm đã học và thực hành của mình thì nghĩa của từ "giác ngộ" được giải thích như sau:
Người thường:
1 suy nghĩ khởi lên -> tôi đang nghĩ
1 cảm giác khởi lên -> tôi cảm thấy
1 cơn giận khởi lên -> tôi bị xúc phạm, tôi đúng ...
Người giác ngộ:
1 suy nghĩ khởi lên -> có suy nghĩ xuất hiện (hiện tượng)
1 cảm giác khởi lên -> có cảm giác xuất hiện (hiện tượng)
1 cơn giận khởi lên -> cảm giác căng cứng ở ngực ở thân..., tim đập nhanh này đang xuất hiện, hơi thở không đều xuất hiện (hiện tượng)
Người giác ngộ không còn trải nghiệm cái tôi nữa vì họ đã thấy được rằng không hề có cái tôi nào. Tất cả nhưng trải nghiệm xuất hiện cái tôi chỉ là 1 loại ảo giác do sự chấp niệm
 
Vậy lúc thiền mà gặp một ý nghĩ hay một hình ảnh, hoặc một kỷ niệm gì thì mình sẽ làm gì bạn? Kệ nó, hay đuổi nó đi? Ngồi thiên Vipassana mà đúng thì sau này mình sẽ được gì?
Quan sát điều đó. Quan sát sự phản ứng của tâm đối với nó.
 
Theo kinh nghiệm đã học và thực hành của mình thì nghĩa của từ "giác ngộ" được giải thích như sau:
Người thường:
1 suy nghĩ khởi lên -> tôi đang nghĩ
1 cảm giác khởi lên -> tôi cảm thấy
1 cơn giận khởi lên -> tôi bị xúc phạm, tôi đúng ...
Người giác ngộ:
1 suy nghĩ khởi lên -> có suy nghĩ xuất hiện (hiện tượng)
1 cảm giác khởi lên -> có cảm giác xuất hiện (hiện tượng)
1 cơn giận khởi lên -> cảm giác căng cứng ở ngực ở thân..., tim đập nhanh này đang xuất hiện, hơi thở không đều xuất hiện (hiện tượng)
Người giác ngộ không còn trải nghiệm cái tôi nữa vì họ đã thấy được rằng không hề có cái tôi nào. Tất cả nhưng trải nghiệm xuất hiện cái tôi chỉ là 1 loại ảo giác do sự chấp niệm
Nhưng điều này chỉ có thể đạt được bằng thiền hả bạn? Tức là ngồi yên tập trung vào suy nghĩ của mình.
Nếu một người học cao về tâm lý, như bác sĩ tâm lý, họ có kiến thức về cái tôi thì họ có được coi là giác ngộ không?
 
Nhưng điều này chỉ có thể đạt được bằng thiền hả bạn? Tức là ngồi yên tập trung vào suy nghĩ của mình.
Nếu một người học cao về tâm lý, như bác sĩ tâm lý, họ có kiến thức về cái tôi thì họ có được coi là giác ngộ không?
ngồi thiền chỉ giúp để tâm được định. Nó giống với việc khi nước đang đục thì bạn không thấy gì hết nhưng khi không còn khuấy nước. Nước sẽ trong dần và có thể nhìn thấy được trong nước có gì.
_Tức là ngồi yên tập trung vào suy nghĩ của mình : đoạn này bạn có thể đọc bài dài mình vừa viết ở trên, đừng ưu tiên dùng hệ thống ý nghĩ khi thực hành, mà dùng sang hệ thống thấy trực tiếp điều đang thấy.
_Nếu một người học cao về tâm lý, như bác sĩ tâm lý, họ có kiến thức về cái tôi thì họ có được coi là giác ngộ không: không, càng chấp vào suy nghĩ càng rời xa sự giác ngộ
 
ngồi thiền chỉ giúp để tâm được định. Nó giống với việc khi nước đang đục thì bạn không thấy gì hết nhưng khi không còn khuấy nước. Nước sẽ trong dần và có thể nhìn thấy được trong nước có gì.
_Tức là ngồi yên tập trung vào suy nghĩ của mình : đoạn này bạn có thể đọc bài dài mình vừa viết ở trên, đừng ưu tiên dùng hệ thống ý nghĩ khi thực hành, mà dùng sang hệ thống thấy trức tiếp điều đang thấy.
_Nếu một người học cao về tâm lý, như bác sĩ tâm lý, họ có kiến thức về cái tôi thì họ có được coi là giác ngộ không: không, càng chấp vào suy nghĩ càng rời xa sự giác ngộ
Tôi đọc hết bài trên của bạn, nhưng tôi thấy những gì viết trong bài là những điều hiển nhiên, chưa rõ vì sao nó lại thành một môn thiền riêng biệt?
Một người trưởng thành mà có tâm tính ổn định tôi nghĩ sẽ đều có được những thứ như trong bài của bạn nêu ra chứ?
 
ngồi thiền chỉ giúp để tâm được định. Nó giống với việc khi nước đang đục thì bạn không thấy gì hết nhưng khi không còn khuấy nước. Nước sẽ trong dần và có thể nhìn thấy được trong nước có gì.
_Tức là ngồi yên tập trung vào suy nghĩ của mình : đoạn này bạn có thể đọc bài dài mình vừa viết ở trên, đừng ưu tiên dùng hệ thống ý nghĩ khi thực hành, mà dùng sang hệ thống thấy trực tiếp điều đang thấy.
_Nếu một người học cao về tâm lý, như bác sĩ tâm lý, họ có kiến thức về cái tôi thì họ có được coi là giác ngộ không: không, càng chấp vào suy nghĩ càng rời xa sự giác ngộ
"Càng chấp vào suy nghĩ càng rời xa sự giác ngộ" là sao bạn?
Ví dụ như họ biết những điều trên, họ thực hành theo mãi nó nhập vô người, thì có được coi là giác ngộ không?
 
Tôi đọc hết bài trên của bạn, nhưng tôi thấy những gì viết trong bài là những điều hiển nhiên, chưa rõ vì sao nó lại thành một môn thiền riêng biệt?
Một người trưởng thành mà có tâm tính ổn định tôi nghĩ sẽ đều có được những thứ như trong bài của bạn nêu ra chứ?
Một người trưởng thành mà có tâm tính ổn định tôi nghĩ sẽ đều có được những thứ như trong bài của bạn nêu ra chứ: người bình thường không tu tập gì họ thường bị suy nghĩ, ký ức quá khứ, giả định lôi đi. Bị tham bị sân bị si lôi kéo. đến khi xong hết trải nghiệm đó rồi họ mới nhận ra những thứ trải qua.
cơ chế người bt: ký ức khởi -> phản ứng -> đến khi ký ức diệt
vậy người tu tập môn vipassana này là gì: là khi ký ức xuất hiện họ nhận ra đó là ký ức khởi lên. Họ không vội chuyền thêm nhiên liệu là suy nghĩ thêm về ký ức đó.
người tu tập: ký ức khởi -> biết (có 1 khoảng biết để có thể xử lý) -> ký ức diệt (họ ít bị ký ức đó lôi đi). Vậy thì điều gì xảy ra có thể họ không bị ký ức đó làm cho phiền não, sân hận, mệt mỏi. Quả lành trước mặt là tâm họ an hơn, ít bị những ký ức làm cho stress, giảm khả năng bị các bệnh về tâm lý. Còn Quả xa liên quan đến 6 cõi luân hồi họ trong đời này nếu không giác ngộ thì có thể đầu thai vào cõi lành(chư thiên, loài người trong môi trường lành)
 
Một người trưởng thành mà có tâm tính ổn định tôi nghĩ sẽ đều có được những thứ như trong bài của bạn nêu ra chứ: người bình thường không tu tập gì họ thường bị suy nghĩ, ký ức quá khứ, giả định lôi đi. Bị tham bị sân bị si lôi kéo. đến khi xong hết trải nghiệm đó rồi họ mới nhận ra những thứ trải qua.
cơ chế người bt: ký ức khởi -> phản ứng -> đến khi ký ức diệt
vậy người tu tập môn vipassana này là gì: là khi ký ức xuất hiện họ nhận ra đó là ký ức khởi lên. Họ không vội chuyền thêm nhiên liệu là suy nghĩ thêm về ký ức đó.
người tu tập: ký ức khởi -> biết (có 1 khoảng biết để có thể xử lý) -> ký ức diệt (họ ít bị ký ức đó lôi đi). Vậy thì điều gì xảy ra có thể họ không bị ký ức đó làm cho phiền não, sân hận, mệt mỏi. Quả lành trước mặt là tâm họ an hơn, ít bị những ký ức làm cho stress, giảm khả năng bị các bệnh về tâm lý. Còn Quả xa liên quan đến 6 cõi luân hồi họ trong đời này nếu không giác ngộ thì có thể đầu thai vào cõi lành(chư thiên, loài người trong môi trường lành)
Tôi thấy hơi lạ, những người trưởng thành tôi biết không sống cảm xúc như vậy. Đọc những gì bạn miêu tả về môn này thì giống như một lớp trị liệu tinh thần chứ chưa chạm tới cái gì xa hơn.
Với bạn nói là có 6 cõi luân hồi thì môn này nó lại là tôn giáo rồi phải không bạn?
Vì thật ra 6 cõi đó là tổ chức Phật giáo viết ra để duy trì kỷ cương của tổ chức chứ không phải sự thật.

Đó là tôi nghĩ vậy.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
hakunang22,
Người trả lời cuối
ddkenji,
Trả lời
78
Lượt xem
6.413
Quay lại
Lên đầu trang