kiến thức Khóa tự học IELTS đảm bảo đầu ra 7.0 từ trình độ mất gốc

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề dutchcourage
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Buổi 20 - Chuyển đổi giữa danh từ và động từ. Kĩ năng tra từ điển.

Chữa bài tập về nhà
Xem tệp đính kèm 2938103
Với bài tập 5, bạn sẽ chữa bằng cách chép các câu bạn viết vào Grammarly. Nếu câu của bạn không bị gạch đỏ, bạn đã viết được một câu đúng ngữ pháp, và mình hy vọng câu bạn viết sẽ hợp lí về mặt nội dung (và phù hợp với sự khác biệt giữa as và when).

Ở buổi này, chúng ta sẽ học về cách chuyển đổi giữa danh từ và động từ. Đây là một phần của kĩ thuật nominalization (chuyển đổi các từ không phải là danh từ sang danh từ), một kĩ thuật mà theo thầy Gary McCloud (cựu giám khảo IELTS):

"nominalization in grammar such as gerunds or noun phrases, especially at the beginning of sentences, are complexities that we are looking for."

tạm dịch
"Nominalization, ví dụ như gerunds (dạng V-ing) hay cụm danh từ, đặc biệt là ở đầu câu, chính là sự phức tạp mà chúng tôi đang tìm kiếm [ở bài viết IELTS]"

Ngoài ra, chúng ta sẽ học một kĩ năng quan trọng khác trong việc mở rộng vốn từ là kĩ năng tra từ điển.

Hãy mở tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 1. Trong quá trình đọc, nếu bạn chưa biết từ nào, hãy tra từ điển (+ tra cách phát âm và luyện phát âm với Elsa Speak)

Đáp án tham khảo
The name of the person is Mike Perham.
I agree with his theory because kids have longer futures than adults.

Với trình độ hiện tại, bạn chỉ cần trả lời đơn giản thôi, chưa cần quá dài dòng. Tuy nhiên, nếu bạn có thể trả lời dài được thì cứ tự nhiên.

Sau mỗi bài đọc, bạn nên nghĩ về việc mình học được những ý tưởng gì, và mình có thể áp dụng được ý tưởng đó cho những đề văn tranh luận nào. Bài đọc này chứa khá nhiều thông tin về các cuộc phiêu lưu, khám phá của người trẻ, và bạn hoàn toàn có thể dùng lại những thông tin này trong bài viết của mình, đặc biệt là các bài viết liên quan đến việc so sánh giữa người trẻ và người già.

Ngoài ý tưởng ra, ta còn học được kĩ thuật viết mở bài. Ta thấy ở đoạn 1, tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng để tạo cảm giác ban đầu cho người đọc và dẫn dắt vào vấn đề, sau đó ở đoạn 2, tác giả đưa ra một số câu hỏi để xác định vấn đề nghị luận và kết thúc phần mở bài bằng một giả thuyết (theory). Cách mở bài của tác giả cũng khá tương đồng với quy trình nghiên cứu khoa học: đầu tiên, nhà khoa học cần quan sát những hiện tượng thực tế đã xảy ra để xác định vấn đề cần giải quyết (hay còn gọi là vấn đề nghiên cứu), sau đó từ vấn đề, nhà khoa học sẽ cần phải đưa ra giả thuyết (trước khi đi vào kiểm chứng giả thuyết, phân tích kết quả kiểm chứng và đưa ra kết luận).

Nếu sau này có cơ hội viết bài báo khoa học, bạn sẽ được khuyến khích viết mở bài theo kiểu dẫn dắt như thế này vì nó thuận theo quy trình khoa học.

Câu hỏi đặt ra là ta có nên mở bài kiểu dẫn dắt trong bài IELTS Writing Task 2 không?

Nếu bạn nắm vững cách viết mở bài như trên và có nhiều ý tưởng ngay từ lúc đọc đề (và không thể dùng hết trong phần thân bài), bạn có thể viết mở bài dẫn dắt. Đã có kha khá bài làm mẫu band 8, 9 do Cambridge xuất bản sử dụng kiểu mở bài này, và nếu bạn cũng làm được thì nó như là một lời tuyên bố rằng "Tôi đến đây để đạt điểm IELTS Writing 8.0+" vậy.

Tuy nhiên, trong các trường hợp còn lại, bạn nên mở bài như bình thường. Đầu tiên, việc bạn viết bài IELTS khác với việc bạn viết một bài học thuật ở thực tế: bạn bị buộc phải giải quyết vấn đề được đưa ra trong đề thi chứ không phải là bạn đang giải quyết một vấn đề mà bạn quan sát được và giám khảo cũng biết như vậy, do đó bạn không nhất thiết phải dẫn dắt giám khảo vào vấn đề. Thứ hai, nếu bạn không có ý tưởng dồi dào mà vẫn cố nghĩ ý tưởng để viết mở bài nâng cao, bạn sẽ không có đủ thời gian làm bài.

Một điều quan trọng khi đi thi các bài thi chuẩn hóa như IELTS là bạn cần tạo ra cho bản thân một chiến thuật làm bài ổn định. Do việc viết mở bài dẫn dắt này chỉ áp dụng cho một số ít bài, trong khi mở bài bình thường nếu làm tốt thì vẫn có thể đạt 9.0, các thầy cô và các sách dạy IELTS (kể cả sách chính thống của Cambridge) đều khuyên bạn luyện viết mở bài bình thường (luyện một cách mở bài cho chín còn hơn luyện hai cách mở bài mà không thạo cái nào).

Mặc dù mình không khuyến khích bạn mở bài dẫn dắt khi đi thi, mình vẫn giới thiệu cho bạn kiểu mở bài này vì phần kiến thức này có thể xuất hiện trong phần Matching headings (chọn tiêu đề cho đoạn văn).

Quay trở lại bài học chính của chúng ta ngày hôm nay. Hãy sử dụng các từ trong bài đọc ở bài tập 1 để hoàn thành bảng động từ và dạng danh từ của nó trong bài tập 2.

Đáp án

Hãy đọc hộp Learn this! trong bài tập 3. Ta thấy rằng ta có thể chuyển một động từ thành danh từ bằng cách thêm hậu tố thích hợp như -(at)ion, -ment, -ure, ..., và một số danh từ giống hệt động từ. Có ba điểm cần lưu ý:
  • Không phải từ nào kết thúc bằng -(at)ion, -ment, -ure, ... cũng là danh từ. Ví dụ từ "ferment" là động từ, danh từ của nó là "fermentation"
  • Tại sao tiếng Anh lại có nhiều hậu tố danh từ khác nhau vậy? Lí do là các từ này được nhập vào tiếng Anh từ các nước láng giềng như Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha, ..., và khi nhập, tiếng Anh giữ nguyên cách chuyển từ động từ sang danh từ của các thứ tiếng này. Do các thứ tiếng khác nhau có cách chuyển khác nhau, trong tiếng Anh tồn tại nhiều cách chuyển khác nhau.
  • Có quy tắc nào để biết được từ nào thêm -(at)ion, từ nào thêm -ment, từ nào thêm -ure không? Thực ra là có, tuy nhiên những quy tắc này sẽ chỉ hữu ích cho những người biết các thứ tiếng Tây Âu (ví dụ như từ gốc Pháp ta chuyển theo kiểu Pháp, từ gốc Hy Lạp ta chuyển theo kiểu Hy Lạp, ...). Đối với người ở đất nước Việt Nam xa xôi như chúng ta, cách tốt nhất là ta học thuộc thay vì học quy tắc (dù sao để đạt đỉnh cao bạn cũng chỉ cần biết 9000 từ là đủ rồi, mà không phải từ nào trong đó cũng là danh từ với động từ).
Trong các đuôi danh từ, có đuôi -(at)ion là đuôi người Việt thường gặp khó khăn khi phát âm. Hãy học cách phát âm đuôi này trong video sau (xem từ đoạn 11:21 đến hết)


Chúng ta quay lại với tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 4.

Đáp án

Một số điều cần nhớ ở đây:
  • Trong bài tập, động từ thunder có cách phát âm giống danh từ thunder. Tuy nhiên, một số động từ có cách phát âm khác khi nó là danh từ, dù có cùng cách viết. Ví dụ như từ record: dạng danh từ, trọng âm ở âm đầu, nhưng ở dạng động từ record, trọng âm ở âm thứ hai, và các nguyên âm xuất hiện trong hai từ này cũng khác nhau (bạn có thể thử bật phát âm hai từ này trong từ điển để hiểu rõ hơn).
  • Với danh từ, nếu bạn nhìn thấy kí hiệu [C], ta biết danh từ đó là danh từ đếm được (countable), nếu thấy kí hiệu U, ta biết danh từ đó là danh từ không đếm được (uncountable). Một số danh từ có thể vừa có nghĩa không đếm được, vừa có nghĩa không đếm được. Ví dụ như từ experience


Xem tệp đính kèm 2942583
1740824297527.png

Ở bài tập 5, bạn sẽ luyện sử dụng từ điển để tìm dạng danh từ của một số động từ đã được cho trước.

Đáp án

Chúng ta đến với bài tập 6. Ở bài tập này, bạn sẽ điền dạng từ thích hợp của từ được gạch chân vào chỗ trống để có một câu đúng ngữ pháp.

Đáp án

Trong các câu trên có hai cụm từ cần nhớ "offer someone employment" và "put something at risk". Đây là hai cụm từ phổ biến đi kèm với danh từ employment và danh từ risk.

Giống như một bài tập viết lại câu lần trước, ta cần tự đặt ra câu hỏi: Ý nghĩa của câu sau khi bị viết lại sẽ thay đổi như thế nào?

Một điều may mắn là ý nghĩa của hai câu a và b không khác nhau. Điều thay đổi là register của câu. Bạn còn nhớ kiến thức về register ở buổi 12 không?

Trích lại kiến thức buổi 12
Register là tính trang trọng của cụm từ. Trong tiếng Anh, ta có thể chia thành 7 register chính

Very Informal -> Informal (suồng sã) -> Slightly informal -> Neutral (trung tính) -> Slightly formal -> Formal (trang trọng) -> Very Formal

Các câu b (sử dụng dạng danh từ) sẽ có tính trang trọng hơn các câu a (sử dụng dạng động từ).

Vậy ta có nên sử dụng những câu như câu b trong bài IELTS Writing không? Có thể bạn sẽ nghĩ câu trả lời là có, nhưng thực ra câu trả lời phức tạp hơn thế.

Ở trong phần IELTS Writing, bạn cần viết hai bài academic. Một bài academic có nhiều tiêu chuẩn, hai trong số đó là bài viết cần tương đối trang trọng và có economy of language, tức sự kinh tế khi sử dụng ngôn từ (thể hiện hết ý tưởng với số lượng từ ít nhất có thể). Mặc dù các câu b làm tăng tính trang trọng, các câu a lại có ưu điểm là diễn đạt ngắn hơn (trong khi ý tưởng hai câu là như nhau).

Vậy ta phải quyết định như thế nào? Vào thế kỉ trước, tính trang trọng được đặt lên cao hơn so với tính kinh tế, do đó nếu bạn đọc những sách tiếng Anh cũ hay học các thầy cô lớn tuổi (kể cả các thầy cô nước ngoài), các thầy cô sẽ khuyên là nên dùng các câu b hơn các câu a. Hậu quả của cách viết này là các nhà khoa học cho ra những bài viết quá trang trọng, một người bình thường đọc không hiểu gì, và thế là hiệu quả lan tỏa của các bài viết không cao. Để giúp người dân bình thường dễ dàng tiếp cận kiến thức khoa học hơn, xu hướng học thuật hiện đại đề cao việc viết làm sao để mọi người, dù không có kiến thức chuyên môn từ trước, có thể hiểu được bài viết đó. Điều này đồng nghĩa với việc tiêu chuẩn economy of language được đề cao hơn.

Người viết ra những bài có tính economy of language một cách điêu luyện nhất có lẽ là thầy Simon Corcoran. Các bài viết của thầy đọc có vẻ tầm thường, đơn giản, nhưng để có thể trình bày đầy đủ ý tưởng chỉ trong hơn 250 từ một chút là một việc rất ít người làm được. Chính vì sự điêu luyện đó mà bài của thầy hoàn toàn xứng đáng với mức điểm 9.0. Các bạn có thể tham khảo các bài mẫu của thầy tại https://www.ielts-simon.com/ielts-help-and-english-pr/ielts-writing-task-2/

Dù tính economy of language được đề cao hơn, điều này cũng không có nghĩa bạn nên toàn dùng câu a: dùng quá nhiều câu a sẽ không tạo được tính trang trọng cần thiết. Bạn vẫn nên sử dụng các câu b như một loại gia vị cho bài viết của mình, và ưu tiên các câu dùng dạng danh từ ở đầu câu (ví dụ như câu 7b) như lời khuyên của thầy Gary McCloud mà mình đã trích.

Bài tập về nhà
  • Làm flashcard từ mới theo định dạng sau: Một mặt là câu mẫu sử dụng dạng động từ, mặt sau ghi nghĩa và câu mẫu sử dụng dạng danh từ.
  • Làm bài tập trong tệp Session 20 - Homework.pdf
 
Sửa lần cuối:
Mình hiện đang dạy giáo trình Solutions Pre-intermediate, gồm 85 buổi (có thể bị chậm thêm vài buổi để kiểm tra giữa khóa). Học xong giáo trình này thì mình có thể đảm bảo 4.0 IELTS. Do đó bạn sẽ cần chờ đến tầm buổi 90.
cảm ơn bác, vậy e theo từ giờ luôn
 
ad ơi e làm bài kt đầu vào r mà mình có cần biết phát âm để học khóa này ko tại e cũng ko rành
 
ad ơi e làm bài kt đầu vào r mà mình có cần biết phát âm để học khóa này ko tại e cũng ko rành
Nếu bạn làm được phần nghe thì khả năng phát âm của bạn đủ để theo học. Mình cũng sẽ hướng dẫn thêm phần phát âm các âm quan trọng trong quá trình học.
 
Mình đã cập nhật xong buổi 20.

Mặc dù ban đầu mình phấn đấu 3 buổi một tuần, nhưng chắc với khả năng và thời gian rảnh của mình, mình sẽ chỉ ra được 1-2 buổi một tuần thôi. Mình sẽ cố gắng tập trung vào chất lượng từng buổi thay vì chạy theo một tiến độ nào đó.
 
Buổi 21 - Survival story. Extreme adjectives

Chữa bài tập về nhà


Bài tập về nhà buổi lần trước khá khó, nên nếu bạn không làm được câu nào thì cũng không sao cả, miễn là bạn ghi nhớ lại kiến thức đó (bằng flashcard) để khi gặp lại câu tương tự, bạn làm được.

Ở buổi ngày hôm nay, chúng ta sẽ được đọc một survival story. Survival là tính từ, dạng động từ của nó là survive, có nghĩa là sống sót. Survival story là một câu chuyện về cách một người hay một nhóm người sống sót qua một thảm họa nào đó.

Mở tệp Session 21 - Textbook.pdf và làm bài tập 1. Đây là một bài tập mở, bạn không nhất thiết phải trả lời đúng, miễn là bạn hiểu được cả 3 tiêu đề được cho là được. Nếu bạn không hiểu, hãy sử dụng bất cứ cách nào để hiểu được các tiêu đề (ví dụ như tra từ điển, hỏi ChatGPT).

Ở bài tập 2, bạn sẽ tự đọc đoạn đầu của câu chuyện rồi kết luận xem bạn đã chọn tiêu đề đúng cho bài đọc ở bài tập 1 hay chưa, và giải thích lí do vì sao.

Đáp án
Tiêu đề a là tiêu đề đúng. Lý do là câu chuyện này về hai anh em Dan và Kate Suski, họ đang ở trong một holiday (kì nghỉ), tức họ là tourists (khách du lịch), và trong kì nghỉ đó họ đi câu, và chuyến đi câu đó trở thành ác mộng đối với họ (tức là một thảm họa, disaster).

Ở bài tập 3, bạn sẽ được làm quen với một chiến thuật đọc cho dạng bài gapped text. Do đây không phải là một dạng bài không có trong bài thi IELTS Reading, mình sẽ cho bạn phiên bản của chiến thuật này trong bài thi IELTS.

1, Đọc đến đâu, bạn phải hiểu đến đó luôn.
2, Trong lúc đọc, liên tục đoán xem theo logic thông thường, chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, tác giả sẽ viết tiếp về cái gì.

Các bạn có thể thay từ "đọc" trong chiến thuật trên bằng từ "nghe" để có chiến thuật làm IELTS Listening.

Tác dụng của chiến thuật này:
  • Nhanh chóng nhận biết được bạn không hiểu bài viết từ đoạn nào để có thể đọc lại, kiểm tra lại trong quá trình đọc, tránh hiểu sai ý tác giả và trả lời sai câu hỏi.
  • Đối với phần Nghe, việc đoán trước được sẽ giúp bạn giảm áp lực khi nghe, nhất là khi những gì bạn đoán được trùng với những gì bạn đoán. Nhờ đó, bạn có thể dùng áp lực đó trong việc đọc hiểu câu hỏi và suy nghĩ xem câu trả lời nào đúng.

Nhược điểm của chiến thuật này nằm ở bước 1. Mình có thể sử dụng được chiến thuật này do trình độ từ vựng của mình cao hơn bài thi IELTS và có thể thực hiện bước 1. Tuy nhiên, với trình độ các bạn tính đến buổi hiện tại, bạn sẽ không thể áp dụng được chiến thuật này vào bài thi IELTS.

Vậy ta phải làm thế nào? Có vài cách tiếp cận:
  • Các bạn chọn một chiến thuật khác (ví dụ như chiến thuật mình đã hướng dẫn trong buổi 10).
  • Phấn đấu học tập để đạt trình độ cao bằng hoặc hơn bài thi IELTS.
  • Nghiên cứu, chọn một bài thi có trình độ bằng với trình độ hiện tại của bạn. Khi đó, bạn sẽ có thể thực hiện được bước 1 với các bài đọc, bài nghe trong bài thi và đây trở thành chiến thuật hiệu quả.
Sau khi đã đọc xong bài đọc, hãy làm bài tập 4 (điền câu thích hợp vào chỗ trống). Trong số các câu được cho, có hai câu thừa. Nếu bạn đã thực hiện bước "đoán trước" ở bài tập 3, mình hy vọng bài tập này sẽ dễ với bạn. Sau khi điền xong, hãy kiểm tra lại các câu xung quanh để đảm bảo câu vừa điền có sự liên quan, kết nối với phần còn lại.

Hãy nghe nội dung bài đọc (không cần sử dụng noticing technique do audio bài đọc này có tác dụng điều chỉnh tốc độ bạn nên đọc khi làm bài) và kiểm tra đáp án ở phía dưới.


Đáp án

Chúng ta sẽ chuyển luôn sang bài tập 6. Đây là dạng bài True/False/Not Given khá phổ biến nhưng đã được đơn giản hóa (không có câu nào Not Given).

Với mỗi câu, bạn hãy gạch chân những bằng chứng trong bài đọc sao cho bạn có thể thuyết phục được người khác rằng câu trả lời của mình là đúng. Phần gạch chân của bạn có thể là từ, một câu, nhiều câu, thậm chí nhiều câu không liên tiếp.

Chiến thuật này có ba tác dụng: giúp bạn đảm bảo mình đã đọc kĩ trước khi trả lời, kiểm tra lại bài nhanh hơn, và dễ dàng nhìn thấy lỗi sai của mình ở đâu.

Đáp án
F = False. T = True.
Khi đi thi, do có hai dạng bài True/False/Not Given và Yes/No/Not Given, bạn cần ghi rõ True và False

Nếu bạn chăm, bạn có thể áp dụng noticing technique cho bài đọc vừa rồi, còn nếu không thì bạn có thể bỏ qua và đi tiếp tới các bài tập tiếp theo.

Ở bài tập 7, bạn hãy đọc bảng "Learn this!" để học về extreme adjectives (các adj đồng nghĩa với very + adj).

Bảng này có hai điểm cần lưu ý thêm:
  • Việc sử dụng extreme adjective giúp bạn viết ngắn hơn (1 từ thay vì 2 từ), giúp bạn thỏa mãn được tiêu chuẩn economy of language trong các bài viết học thuật của IELTS Writing.
  • Một từ có thể có nhiều extreme adjectives với hàm ý khác nhau. Ví dụ cụm "very big" có các từ đồng nghĩa là "enormous", "massive", "gigantic", "giant", "immense". Các từ này không giống nhau hoàn toàn mà ta cần phân biệt chúng. Cách phân biệt nghĩa tốt nhất là bạn tra từ trong từ điển Merriam-Webster, và tìm mục "Choose the Right Synonym for ..." hoặc mục "Synonym Chooser". Từ điển Merriam-Webster có cách viết rất học thuật và trang trọng, thế nên nếu bạn đọc không hiểu, bạn có thể chép đoạn đó vào ChatGPT và nhờ nó giải thích bằng lệnh "Dịch đoạn sau sang tiếng Việt, giữ nguyên các từ tiếng Anh cần giải nghĩa"
1742216618054.png

- Cũng chính vì những từ extreme adjectives khó dùng hơn (do phải phân biệt với nhiều từ khác), một số thầy cô khuyên là bạn không nên dùng extreme adjectives trong IELTS Writing do bài thi này coi trọng sự chính xác (cụ thể ở đây là dùng từ chính xác). Theo mình nếu bạn biết rõ từ mình dùng, bạn cứ dùng extreme adjectives thoải mái, còn không thì bạn không nên dùng cho an toàn (do việc dùng sai một từ cũng đồng nghĩa với việc bạn mất cơ hội dùng đúng một từ)

Hãy điền các từ còn thiếu vào chỗ trống trong bảng "Learn this!"

Đáp án

Ở bài tập 8, bạn sẽ sẽ cần điền extreme adjectives thích hợp trong bài đọc vào chỗ trống. Bạn có thể sử dụng ngữ cảnh để đoán nội dung của từ, hoặc tra từ điển.

Đáp án

Ở bài tập 9, hãy giải thích lí do câu được cho đúng "in your own words" (tức không trích dẫn nguyên văn mà giải thích theo ý hiểu của mình). Hãy cố gắng dùng 2 extreme adjectives mà bạn đã học được.

Đáp án tham khảo

Ở bài tập 10, bạn sẽ giả làm một người phỏng vấn Dan hoặc Kate với ChatGPT bằng cách nói. Hãy sử dụng câu lệnh sau để ChatGPT tưởng tượng mình là nhân vật Dan hoặc nhân vật Kate.

Imagine you were the character Kate in the following text:

A dream holiday turned into a nightmare for an American brother and sister, Dan and Kate Suski. During a fishing trip in the Caribbean, their boat sank.

The weather wasn't brilliant that day, but Dan had caught a huge fish! He was trying to pull it onto the boat when the captain realised water was coming into the cabin. The boat was sinking last. The captain used his radio to send a message for help. Then he shouted, ‘Jump out!’. So they did, and a few minutes later, the boat disappeared under the waves. They were about 15 km from land.

The captain said that help was coming. The weather was now awful, but they were wearing life jackets. After an hour, the captain and the Suskis lost each other, and there was no sign of rescue. So Dan and Kate started to swim as fast as they could towards land. They were both thinking the same terrifying thought: sharks!

A helicopter appeared, but nobody saw Dan and Kate in the water. Day turned to night and the Suskis swam for fourteen hours. Finally, they saw some cliffs; they were near land! But they couldn't get out of the water here. There were dangerous sharp rocks. By now, they were exhausted. Eventually, they reached a sandy beach. Out of the water at last, they lay down and rested.

Then they found a town and picked some green bananas. Finally, they met a young farm worker. He gave them water and food, and stayed with them until the police arrived. He also gave them some tragic news: the captain was lost at sea. After a few days in hospital Dan and Kale were fine. Their story had another happy ending: a rescue boat found the captain after 23 hours on the water!

I'll pretend to be an interviewer and ask you some questions.

Bạn có thể cần thay tên Kate bằng Dan ở dòng đầu tiên.

Bài tập về nhà
  • Làm flashcard các từ mới, cụm từ mới mà bạn đã học được trong buổi này theo cách thức của các buổi trước.
  • Làm tệp Session 21 - Homework.pdf
 
Sửa lần cuối:

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
dutchcourage,
Người trả lời cuối
qhai_2009,
Trả lời
338
Lượt xem
79.913
Quay lại
Lên đầu trang