dutchcourage
Senior Member
Buổi 20 - Chuyển đổi giữa danh từ và động từ. Kĩ năng tra từ điển.
Chữa bài tập về nhà
Ở buổi này, chúng ta sẽ học về cách chuyển đổi giữa danh từ và động từ. Đây là một phần của kĩ thuật nominalization (chuyển đổi các từ không phải là danh từ sang danh từ), một kĩ thuật mà theo thầy Gary McCloud (cựu giám khảo IELTS):
"nominalization in grammar such as gerunds or noun phrases, especially at the beginning of sentences, are complexities that we are looking for."
tạm dịch
"Nominalization, ví dụ như gerunds (dạng V-ing) hay cụm danh từ, đặc biệt là ở đầu câu, chính là sự phức tạp mà chúng tôi đang tìm kiếm [ở bài viết IELTS]"
Ngoài ra, chúng ta sẽ học một kĩ năng quan trọng khác trong việc mở rộng vốn từ là kĩ năng tra từ điển.
Hãy mở tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 1. Trong quá trình đọc, nếu bạn chưa biết từ nào, hãy tra từ điển (+ tra cách phát âm và luyện phát âm với Elsa Speak)
Đáp án tham khảo
Sau mỗi bài đọc, bạn nên nghĩ về việc mình học được những ý tưởng gì, và mình có thể áp dụng được ý tưởng đó cho những đề văn tranh luận nào. Bài đọc này chứa khá nhiều thông tin về các cuộc phiêu lưu, khám phá của người trẻ, và bạn hoàn toàn có thể dùng lại những thông tin này trong bài viết của mình, đặc biệt là các bài viết liên quan đến việc so sánh giữa người trẻ và người già.
Ngoài ý tưởng ra, ta còn học được kĩ thuật viết mở bài. Ta thấy ở đoạn 1, tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng để tạo cảm giác ban đầu cho người đọc và dẫn dắt vào vấn đề, sau đó ở đoạn 2, tác giả đưa ra một số câu hỏi để xác định vấn đề nghị luận và kết thúc phần mở bài bằng một giả thuyết (theory). Cách mở bài của tác giả cũng khá tương đồng với quy trình nghiên cứu khoa học: đầu tiên, nhà khoa học cần quan sát những hiện tượng thực tế đã xảy ra để xác định vấn đề cần giải quyết (hay còn gọi là vấn đề nghiên cứu), sau đó từ vấn đề, nhà khoa học sẽ cần phải đưa ra giả thuyết (trước khi đi vào kiểm chứng giả thuyết, phân tích kết quả kiểm chứng và đưa ra kết luận).
Nếu sau này có cơ hội viết bài báo khoa học, bạn sẽ được khuyến khích viết mở bài theo kiểu dẫn dắt như thế này vì nó thuận theo quy trình khoa học.
Câu hỏi đặt ra là ta có nên mở bài kiểu dẫn dắt trong bài IELTS Writing Task 2 không?
Mặc dù mình không khuyến khích bạn mở bài dẫn dắt khi đi thi, mình vẫn giới thiệu cho bạn kiểu mở bài này vì phần kiến thức này có thể xuất hiện trong phần Matching headings (chọn tiêu đề cho đoạn văn).
Quay trở lại bài học chính của chúng ta ngày hôm nay. Hãy sử dụng các từ trong bài đọc ở bài tập 1 để hoàn thành bảng động từ và dạng danh từ của nó trong bài tập 2.
Đáp án
Hãy đọc hộp Learn this! trong bài tập 3. Ta thấy rằng ta có thể chuyển một động từ thành danh từ bằng cách thêm hậu tố thích hợp như -(at)ion, -ment, -ure, ..., và một số danh từ giống hệt động từ. Có ba điểm cần lưu ý:
Chúng ta quay lại với tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 4.
Đáp án
Một số điều cần nhớ ở đây:
Xem tệp đính kèm 2942583
Ở bài tập 5, bạn sẽ luyện sử dụng từ điển để tìm dạng danh từ của một số động từ đã được cho trước.
Đáp án
Chúng ta đến với bài tập 6. Ở bài tập này, bạn sẽ điền dạng từ thích hợp của từ được gạch chân vào chỗ trống để có một câu đúng ngữ pháp.
Đáp án
Trong các câu trên có hai cụm từ cần nhớ "offer someone employment" và "put something at risk". Đây là hai cụm từ phổ biến đi kèm với danh từ employment và danh từ risk.
Giống như một bài tập viết lại câu lần trước, ta cần tự đặt ra câu hỏi: Ý nghĩa của câu sau khi bị viết lại sẽ thay đổi như thế nào?
Một điều may mắn là ý nghĩa của hai câu a và b không khác nhau. Điều thay đổi là register của câu. Bạn còn nhớ kiến thức về register ở buổi 12 không?
Trích lại kiến thức buổi 12
Các câu b (sử dụng dạng danh từ) sẽ có tính trang trọng hơn các câu a (sử dụng dạng động từ).
Vậy ta có nên sử dụng những câu như câu b trong bài IELTS Writing không? Có thể bạn sẽ nghĩ câu trả lời là có, nhưng thực ra câu trả lời phức tạp hơn thế.
Ở trong phần IELTS Writing, bạn cần viết hai bài academic. Một bài academic có nhiều tiêu chuẩn, hai trong số đó là bài viết cần tương đối trang trọng và có economy of language, tức sự kinh tế khi sử dụng ngôn từ (thể hiện hết ý tưởng với số lượng từ ít nhất có thể). Mặc dù các câu b làm tăng tính trang trọng, các câu a lại có ưu điểm là diễn đạt ngắn hơn (trong khi ý tưởng hai câu là như nhau).
Vậy ta phải quyết định như thế nào? Vào thế kỉ trước, tính trang trọng được đặt lên cao hơn so với tính kinh tế, do đó nếu bạn đọc những sách tiếng Anh cũ hay học các thầy cô lớn tuổi (kể cả các thầy cô nước ngoài), các thầy cô sẽ khuyên là nên dùng các câu b hơn các câu a. Hậu quả của cách viết này là các nhà khoa học cho ra những bài viết quá trang trọng, một người bình thường đọc không hiểu gì, và thế là hiệu quả lan tỏa của các bài viết không cao. Để giúp người dân bình thường dễ dàng tiếp cận kiến thức khoa học hơn, xu hướng học thuật hiện đại đề cao việc viết làm sao để mọi người, dù không có kiến thức chuyên môn từ trước, có thể hiểu được bài viết đó. Điều này đồng nghĩa với việc tiêu chuẩn economy of language được đề cao hơn.
Người viết ra những bài có tính economy of language một cách điêu luyện nhất có lẽ là thầy Simon Corcoran. Các bài viết của thầy đọc có vẻ tầm thường, đơn giản, nhưng để có thể trình bày đầy đủ ý tưởng chỉ trong hơn 250 từ một chút là một việc rất ít người làm được. Chính vì sự điêu luyện đó mà bài của thầy hoàn toàn xứng đáng với mức điểm 9.0. Các bạn có thể tham khảo các bài mẫu của thầy tại https://www.ielts-simon.com/ielts-help-and-english-pr/ielts-writing-task-2/
Dù tính economy of language được đề cao hơn, điều này cũng không có nghĩa bạn nên toàn dùng câu a: dùng quá nhiều câu a sẽ không tạo được tính trang trọng cần thiết. Bạn vẫn nên sử dụng các câu b như một loại gia vị cho bài viết của mình, và ưu tiên các câu dùng dạng danh từ ở đầu câu (ví dụ như câu 7b) như lời khuyên của thầy Gary McCloud mà mình đã trích.
Bài tập về nhà
Chữa bài tập về nhà
Xem tệp đính kèm 2938103
Với bài tập 5, bạn sẽ chữa bằng cách chép các câu bạn viết vào Grammarly. Nếu câu của bạn không bị gạch đỏ, bạn đã viết được một câu đúng ngữ pháp, và mình hy vọng câu bạn viết sẽ hợp lí về mặt nội dung (và phù hợp với sự khác biệt giữa as và when).
Với bài tập 5, bạn sẽ chữa bằng cách chép các câu bạn viết vào Grammarly. Nếu câu của bạn không bị gạch đỏ, bạn đã viết được một câu đúng ngữ pháp, và mình hy vọng câu bạn viết sẽ hợp lí về mặt nội dung (và phù hợp với sự khác biệt giữa as và when).
Ở buổi này, chúng ta sẽ học về cách chuyển đổi giữa danh từ và động từ. Đây là một phần của kĩ thuật nominalization (chuyển đổi các từ không phải là danh từ sang danh từ), một kĩ thuật mà theo thầy Gary McCloud (cựu giám khảo IELTS):
"nominalization in grammar such as gerunds or noun phrases, especially at the beginning of sentences, are complexities that we are looking for."
tạm dịch
"Nominalization, ví dụ như gerunds (dạng V-ing) hay cụm danh từ, đặc biệt là ở đầu câu, chính là sự phức tạp mà chúng tôi đang tìm kiếm [ở bài viết IELTS]"
Ngoài ra, chúng ta sẽ học một kĩ năng quan trọng khác trong việc mở rộng vốn từ là kĩ năng tra từ điển.
Hãy mở tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 1. Trong quá trình đọc, nếu bạn chưa biết từ nào, hãy tra từ điển (+ tra cách phát âm và luyện phát âm với Elsa Speak)
Đáp án tham khảo
The name of the person is Mike Perham.
I agree with his theory because kids have longer futures than adults.
Với trình độ hiện tại, bạn chỉ cần trả lời đơn giản thôi, chưa cần quá dài dòng. Tuy nhiên, nếu bạn có thể trả lời dài được thì cứ tự nhiên.
I agree with his theory because kids have longer futures than adults.
Với trình độ hiện tại, bạn chỉ cần trả lời đơn giản thôi, chưa cần quá dài dòng. Tuy nhiên, nếu bạn có thể trả lời dài được thì cứ tự nhiên.
Sau mỗi bài đọc, bạn nên nghĩ về việc mình học được những ý tưởng gì, và mình có thể áp dụng được ý tưởng đó cho những đề văn tranh luận nào. Bài đọc này chứa khá nhiều thông tin về các cuộc phiêu lưu, khám phá của người trẻ, và bạn hoàn toàn có thể dùng lại những thông tin này trong bài viết của mình, đặc biệt là các bài viết liên quan đến việc so sánh giữa người trẻ và người già.
Ngoài ý tưởng ra, ta còn học được kĩ thuật viết mở bài. Ta thấy ở đoạn 1, tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng để tạo cảm giác ban đầu cho người đọc và dẫn dắt vào vấn đề, sau đó ở đoạn 2, tác giả đưa ra một số câu hỏi để xác định vấn đề nghị luận và kết thúc phần mở bài bằng một giả thuyết (theory). Cách mở bài của tác giả cũng khá tương đồng với quy trình nghiên cứu khoa học: đầu tiên, nhà khoa học cần quan sát những hiện tượng thực tế đã xảy ra để xác định vấn đề cần giải quyết (hay còn gọi là vấn đề nghiên cứu), sau đó từ vấn đề, nhà khoa học sẽ cần phải đưa ra giả thuyết (trước khi đi vào kiểm chứng giả thuyết, phân tích kết quả kiểm chứng và đưa ra kết luận).
Nếu sau này có cơ hội viết bài báo khoa học, bạn sẽ được khuyến khích viết mở bài theo kiểu dẫn dắt như thế này vì nó thuận theo quy trình khoa học.
Câu hỏi đặt ra là ta có nên mở bài kiểu dẫn dắt trong bài IELTS Writing Task 2 không?
Nếu bạn nắm vững cách viết mở bài như trên và có nhiều ý tưởng ngay từ lúc đọc đề (và không thể dùng hết trong phần thân bài), bạn có thể viết mở bài dẫn dắt. Đã có kha khá bài làm mẫu band 8, 9 do Cambridge xuất bản sử dụng kiểu mở bài này, và nếu bạn cũng làm được thì nó như là một lời tuyên bố rằng "Tôi đến đây để đạt điểm IELTS Writing 8.0+" vậy.
Tuy nhiên, trong các trường hợp còn lại, bạn nên mở bài như bình thường. Đầu tiên, việc bạn viết bài IELTS khác với việc bạn viết một bài học thuật ở thực tế: bạn bị buộc phải giải quyết vấn đề được đưa ra trong đề thi chứ không phải là bạn đang giải quyết một vấn đề mà bạn quan sát được và giám khảo cũng biết như vậy, do đó bạn không nhất thiết phải dẫn dắt giám khảo vào vấn đề. Thứ hai, nếu bạn không có ý tưởng dồi dào mà vẫn cố nghĩ ý tưởng để viết mở bài nâng cao, bạn sẽ không có đủ thời gian làm bài.
Một điều quan trọng khi đi thi các bài thi chuẩn hóa như IELTS là bạn cần tạo ra cho bản thân một chiến thuật làm bài ổn định. Do việc viết mở bài dẫn dắt này chỉ áp dụng cho một số ít bài, trong khi mở bài bình thường nếu làm tốt thì vẫn có thể đạt 9.0, các thầy cô và các sách dạy IELTS (kể cả sách chính thống của Cambridge) đều khuyên bạn luyện viết mở bài bình thường (luyện một cách mở bài cho chín còn hơn luyện hai cách mở bài mà không thạo cái nào).
Tuy nhiên, trong các trường hợp còn lại, bạn nên mở bài như bình thường. Đầu tiên, việc bạn viết bài IELTS khác với việc bạn viết một bài học thuật ở thực tế: bạn bị buộc phải giải quyết vấn đề được đưa ra trong đề thi chứ không phải là bạn đang giải quyết một vấn đề mà bạn quan sát được và giám khảo cũng biết như vậy, do đó bạn không nhất thiết phải dẫn dắt giám khảo vào vấn đề. Thứ hai, nếu bạn không có ý tưởng dồi dào mà vẫn cố nghĩ ý tưởng để viết mở bài nâng cao, bạn sẽ không có đủ thời gian làm bài.
Một điều quan trọng khi đi thi các bài thi chuẩn hóa như IELTS là bạn cần tạo ra cho bản thân một chiến thuật làm bài ổn định. Do việc viết mở bài dẫn dắt này chỉ áp dụng cho một số ít bài, trong khi mở bài bình thường nếu làm tốt thì vẫn có thể đạt 9.0, các thầy cô và các sách dạy IELTS (kể cả sách chính thống của Cambridge) đều khuyên bạn luyện viết mở bài bình thường (luyện một cách mở bài cho chín còn hơn luyện hai cách mở bài mà không thạo cái nào).
Mặc dù mình không khuyến khích bạn mở bài dẫn dắt khi đi thi, mình vẫn giới thiệu cho bạn kiểu mở bài này vì phần kiến thức này có thể xuất hiện trong phần Matching headings (chọn tiêu đề cho đoạn văn).
Quay trở lại bài học chính của chúng ta ngày hôm nay. Hãy sử dụng các từ trong bài đọc ở bài tập 1 để hoàn thành bảng động từ và dạng danh từ của nó trong bài tập 2.
Đáp án
Hãy đọc hộp Learn this! trong bài tập 3. Ta thấy rằng ta có thể chuyển một động từ thành danh từ bằng cách thêm hậu tố thích hợp như -(at)ion, -ment, -ure, ..., và một số danh từ giống hệt động từ. Có ba điểm cần lưu ý:
- Không phải từ nào kết thúc bằng -(at)ion, -ment, -ure, ... cũng là danh từ. Ví dụ từ "ferment" là động từ, danh từ của nó là "fermentation"
- Tại sao tiếng Anh lại có nhiều hậu tố danh từ khác nhau vậy? Lí do là các từ này được nhập vào tiếng Anh từ các nước láng giềng như Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha, ..., và khi nhập, tiếng Anh giữ nguyên cách chuyển từ động từ sang danh từ của các thứ tiếng này. Do các thứ tiếng khác nhau có cách chuyển khác nhau, trong tiếng Anh tồn tại nhiều cách chuyển khác nhau.
- Có quy tắc nào để biết được từ nào thêm -(at)ion, từ nào thêm -ment, từ nào thêm -ure không? Thực ra là có, tuy nhiên những quy tắc này sẽ chỉ hữu ích cho những người biết các thứ tiếng Tây Âu (ví dụ như từ gốc Pháp ta chuyển theo kiểu Pháp, từ gốc Hy Lạp ta chuyển theo kiểu Hy Lạp, ...). Đối với người ở đất nước Việt Nam xa xôi như chúng ta, cách tốt nhất là ta học thuộc thay vì học quy tắc (dù sao để đạt đỉnh cao bạn cũng chỉ cần biết 9000 từ là đủ rồi, mà không phải từ nào trong đó cũng là danh từ với động từ).
learn2pronunounce__4
MediaFire is a simple to use free service that lets you put all your photos, documents, music, and video in a single place so you can access them anywhere and share them everywhere.
www.mediafire.com
Chúng ta quay lại với tệp Session 20 - Textbook.pdf và làm bài tập 4.
Đáp án
Một số điều cần nhớ ở đây:
- Trong bài tập, động từ thunder có cách phát âm giống danh từ thunder. Tuy nhiên, một số động từ có cách phát âm khác khi nó là danh từ, dù có cùng cách viết. Ví dụ như từ record: dạng danh từ, trọng âm ở âm đầu, nhưng ở dạng động từ record, trọng âm ở âm thứ hai, và các nguyên âm xuất hiện trong hai từ này cũng khác nhau (bạn có thể thử bật phát âm hai từ này trong từ điển để hiểu rõ hơn).
- Với danh từ, nếu bạn nhìn thấy kí hiệu [C], ta biết danh từ đó là danh từ đếm được (countable), nếu thấy kí hiệu U, ta biết danh từ đó là danh từ không đếm được (uncountable). Một số danh từ có thể vừa có nghĩa không đếm được, vừa có nghĩa không đếm được. Ví dụ như từ experience
Xem tệp đính kèm 2942583
Ở bài tập 5, bạn sẽ luyện sử dụng từ điển để tìm dạng danh từ của một số động từ đã được cho trước.
Đáp án
Chúng ta đến với bài tập 6. Ở bài tập này, bạn sẽ điền dạng từ thích hợp của từ được gạch chân vào chỗ trống để có một câu đúng ngữ pháp.
Đáp án
Trong các câu trên có hai cụm từ cần nhớ "offer someone employment" và "put something at risk". Đây là hai cụm từ phổ biến đi kèm với danh từ employment và danh từ risk.
Giống như một bài tập viết lại câu lần trước, ta cần tự đặt ra câu hỏi: Ý nghĩa của câu sau khi bị viết lại sẽ thay đổi như thế nào?
Một điều may mắn là ý nghĩa của hai câu a và b không khác nhau. Điều thay đổi là register của câu. Bạn còn nhớ kiến thức về register ở buổi 12 không?
Trích lại kiến thức buổi 12
Register là tính trang trọng của cụm từ. Trong tiếng Anh, ta có thể chia thành 7 register chính
Very Informal -> Informal (suồng sã) -> Slightly informal -> Neutral (trung tính) -> Slightly formal -> Formal (trang trọng) -> Very Formal
Very Informal -> Informal (suồng sã) -> Slightly informal -> Neutral (trung tính) -> Slightly formal -> Formal (trang trọng) -> Very Formal
Các câu b (sử dụng dạng danh từ) sẽ có tính trang trọng hơn các câu a (sử dụng dạng động từ).
Vậy ta có nên sử dụng những câu như câu b trong bài IELTS Writing không? Có thể bạn sẽ nghĩ câu trả lời là có, nhưng thực ra câu trả lời phức tạp hơn thế.
Ở trong phần IELTS Writing, bạn cần viết hai bài academic. Một bài academic có nhiều tiêu chuẩn, hai trong số đó là bài viết cần tương đối trang trọng và có economy of language, tức sự kinh tế khi sử dụng ngôn từ (thể hiện hết ý tưởng với số lượng từ ít nhất có thể). Mặc dù các câu b làm tăng tính trang trọng, các câu a lại có ưu điểm là diễn đạt ngắn hơn (trong khi ý tưởng hai câu là như nhau).
Vậy ta phải quyết định như thế nào? Vào thế kỉ trước, tính trang trọng được đặt lên cao hơn so với tính kinh tế, do đó nếu bạn đọc những sách tiếng Anh cũ hay học các thầy cô lớn tuổi (kể cả các thầy cô nước ngoài), các thầy cô sẽ khuyên là nên dùng các câu b hơn các câu a. Hậu quả của cách viết này là các nhà khoa học cho ra những bài viết quá trang trọng, một người bình thường đọc không hiểu gì, và thế là hiệu quả lan tỏa của các bài viết không cao. Để giúp người dân bình thường dễ dàng tiếp cận kiến thức khoa học hơn, xu hướng học thuật hiện đại đề cao việc viết làm sao để mọi người, dù không có kiến thức chuyên môn từ trước, có thể hiểu được bài viết đó. Điều này đồng nghĩa với việc tiêu chuẩn economy of language được đề cao hơn.
Người viết ra những bài có tính economy of language một cách điêu luyện nhất có lẽ là thầy Simon Corcoran. Các bài viết của thầy đọc có vẻ tầm thường, đơn giản, nhưng để có thể trình bày đầy đủ ý tưởng chỉ trong hơn 250 từ một chút là một việc rất ít người làm được. Chính vì sự điêu luyện đó mà bài của thầy hoàn toàn xứng đáng với mức điểm 9.0. Các bạn có thể tham khảo các bài mẫu của thầy tại https://www.ielts-simon.com/ielts-help-and-english-pr/ielts-writing-task-2/
Dù tính economy of language được đề cao hơn, điều này cũng không có nghĩa bạn nên toàn dùng câu a: dùng quá nhiều câu a sẽ không tạo được tính trang trọng cần thiết. Bạn vẫn nên sử dụng các câu b như một loại gia vị cho bài viết của mình, và ưu tiên các câu dùng dạng danh từ ở đầu câu (ví dụ như câu 7b) như lời khuyên của thầy Gary McCloud mà mình đã trích.
Bài tập về nhà
- Làm flashcard từ mới theo định dạng sau: Một mặt là câu mẫu sử dụng dạng động từ, mặt sau ghi nghĩa và câu mẫu sử dụng dạng danh từ.
- Làm bài tập trong tệp Session 20 - Homework.pdf
Sửa lần cuối: