luciferkhanh
Đã tốn tiền
Sau mỗi vụ gian lận thi cử, dư luận lại dồn sự chú ý vào câu hỏi: “Ai sai?”. Theo tôi, câu hỏi đáng đặt ra hơn là: “Tại sao những vụ việc như vậy vẫn liên tục có đất để xảy ra?”
Cá nhân tôi cho rằng, từ khi Bộ Giáo dục gộp kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học thành một kỳ thi duy nhất, hệ thống đã vô tình tạo ra động cơ rất lớn cho hành vi gian lận.
Ngày trước, thi tốt nghiệp chủ yếu để xét tốt nghiệp. Có tiêu cực thì mục đích cũng chỉ là giúp học sinh “đủ điểm đỗ”. Còn muốn vào đại học, đặc biệt là các trường tốp đầu, học sinh vẫn phải vượt qua một kỳ thi khác do các trường đại học tổ chức. Hai mục tiêu tách biệt nên giá trị của một kỳ thi cũng được giới hạn.
Ngày nay thì khác.
Chỉ một vài điểm số có thể quyết định tất cả: đỗ hay trượt đại học, vào được ngành Y, Công an, Quân đội hay không, có học bổng hay không, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự nghiệp sau này. Khi một kỳ thi quyết định cả tấm bằng tốt nghiệp lẫn cánh cửa đại học, thì giá trị của mỗi điểm thi tăng lên gấp nhiều lần. Và khi lợi ích tăng lên, động cơ gian lận cũng tăng theo. Đó là quy luật rất bình thường của bất kỳ hệ thống nào.
Nhưng theo tôi, vấn đề chưa dừng ở đó.
Điều đáng nói là một kỳ thi có giá trị rất lớn lại được tổ chức chủ yếu tại địa phương.
Địa phương hiểu rõ học sinh của mình, hiểu rõ phụ huynh, hiểu rõ các mối quan hệ và cũng chịu không ít áp lực về thành tích. Trong môi trường đó, chỉ cần một vài cá nhân thiếu liêm chính, hoặc một vài mắt xích buông lỏng trách nhiệm, thì nguy cơ phát sinh tiêu cực sẽ cao hơn rất nhiều so với một kỳ thi được tổ chức độc lập bởi các trường đại học hoặc một đơn vị bên ngoài.
Tôi không nói tất cả địa phương đều như vậy. Thực tế, đa số vẫn tổ chức nghiêm túc. Nhưng khi thiết kế một hệ thống quốc gia, không thể chỉ dựa vào giả định rằng tất cả mọi người đều sẽ luôn làm đúng. Một hệ thống tốt phải được thiết kế để ngay cả khi xuất hiện người có động cơ xấu, họ cũng không có cơ hội hoặc không dám thực hiện.
Nhìn lại lịch sử sẽ thấy điều này không phải mới.
Những năm 2000, khi kỳ thi tốt nghiệp do địa phương tổ chức, chuyện coi thi lỏng lẻo, quay cóp, truyền bài từng diễn ra ở không ít nơi. Sau đó, Bộ Giáo dục đã phải tăng cường thanh tra, điều động cán bộ từ nơi khác đến coi thi, siết chặt quy chế thì tình hình mới dần được cải thiện.
Rồi đến năm 2018, cả nước chấn động với Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình. Và giờ đây lại xuất hiện vụ việc ở Tuyên Quang. Theo tôi, đây không nên chỉ được nhìn nhận là những vụ việc cá biệt, mà là lời cảnh báo rằng hệ thống vẫn còn những lỗ hổng đáng suy nghĩ.
Nhiều người nói: “Lỗi là do con người, không phải do cơ chế.”
Tôi chỉ đồng ý một nửa.
Con người sai thì phải xử lý thật nghiêm. Nhưng một cơ chế tốt không chỉ trừng phạt người làm sai, mà còn phải hạn chế tối đa khả năng phát sinh cái sai ngay từ đầu. Nếu một cơ chế khiến phần thưởng của việc gian lận quá lớn, trong khi việc tổ chức lại dựa nhiều vào những mối quan hệ tại địa phương, thì bản thân cơ chế đó cũng cần được xem xét lại.
Tôi không khẳng định rằng phải quay trở lại mô hình hai kỳ thi như trước. Nhưng tôi tin rằng, nếu chúng ta chỉ xử lý vài cá nhân vi phạm mà không dám nhìn thẳng vào những bất cập trong cách thiết kế hệ thống, thì vài năm nữa rất có thể chúng ta sẽ lại nghe tên một địa phương khác trong một vụ gian lận mới.
Theo tôi, muốn chống tiêu cực trong thi cử thì không chỉ cần người tốt, mà còn cần một cơ chế đủ tốt để người xấu cũng không còn cơ hội và động lực để gian lận.
Cá nhân tôi cho rằng, từ khi Bộ Giáo dục gộp kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học thành một kỳ thi duy nhất, hệ thống đã vô tình tạo ra động cơ rất lớn cho hành vi gian lận.
Ngày trước, thi tốt nghiệp chủ yếu để xét tốt nghiệp. Có tiêu cực thì mục đích cũng chỉ là giúp học sinh “đủ điểm đỗ”. Còn muốn vào đại học, đặc biệt là các trường tốp đầu, học sinh vẫn phải vượt qua một kỳ thi khác do các trường đại học tổ chức. Hai mục tiêu tách biệt nên giá trị của một kỳ thi cũng được giới hạn.
Ngày nay thì khác.
Chỉ một vài điểm số có thể quyết định tất cả: đỗ hay trượt đại học, vào được ngành Y, Công an, Quân đội hay không, có học bổng hay không, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự nghiệp sau này. Khi một kỳ thi quyết định cả tấm bằng tốt nghiệp lẫn cánh cửa đại học, thì giá trị của mỗi điểm thi tăng lên gấp nhiều lần. Và khi lợi ích tăng lên, động cơ gian lận cũng tăng theo. Đó là quy luật rất bình thường của bất kỳ hệ thống nào.
Nhưng theo tôi, vấn đề chưa dừng ở đó.
Điều đáng nói là một kỳ thi có giá trị rất lớn lại được tổ chức chủ yếu tại địa phương.
Địa phương hiểu rõ học sinh của mình, hiểu rõ phụ huynh, hiểu rõ các mối quan hệ và cũng chịu không ít áp lực về thành tích. Trong môi trường đó, chỉ cần một vài cá nhân thiếu liêm chính, hoặc một vài mắt xích buông lỏng trách nhiệm, thì nguy cơ phát sinh tiêu cực sẽ cao hơn rất nhiều so với một kỳ thi được tổ chức độc lập bởi các trường đại học hoặc một đơn vị bên ngoài.
Tôi không nói tất cả địa phương đều như vậy. Thực tế, đa số vẫn tổ chức nghiêm túc. Nhưng khi thiết kế một hệ thống quốc gia, không thể chỉ dựa vào giả định rằng tất cả mọi người đều sẽ luôn làm đúng. Một hệ thống tốt phải được thiết kế để ngay cả khi xuất hiện người có động cơ xấu, họ cũng không có cơ hội hoặc không dám thực hiện.
Nhìn lại lịch sử sẽ thấy điều này không phải mới.
Những năm 2000, khi kỳ thi tốt nghiệp do địa phương tổ chức, chuyện coi thi lỏng lẻo, quay cóp, truyền bài từng diễn ra ở không ít nơi. Sau đó, Bộ Giáo dục đã phải tăng cường thanh tra, điều động cán bộ từ nơi khác đến coi thi, siết chặt quy chế thì tình hình mới dần được cải thiện.
Rồi đến năm 2018, cả nước chấn động với Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình. Và giờ đây lại xuất hiện vụ việc ở Tuyên Quang. Theo tôi, đây không nên chỉ được nhìn nhận là những vụ việc cá biệt, mà là lời cảnh báo rằng hệ thống vẫn còn những lỗ hổng đáng suy nghĩ.
Nhiều người nói: “Lỗi là do con người, không phải do cơ chế.”
Tôi chỉ đồng ý một nửa.
Con người sai thì phải xử lý thật nghiêm. Nhưng một cơ chế tốt không chỉ trừng phạt người làm sai, mà còn phải hạn chế tối đa khả năng phát sinh cái sai ngay từ đầu. Nếu một cơ chế khiến phần thưởng của việc gian lận quá lớn, trong khi việc tổ chức lại dựa nhiều vào những mối quan hệ tại địa phương, thì bản thân cơ chế đó cũng cần được xem xét lại.
Tôi không khẳng định rằng phải quay trở lại mô hình hai kỳ thi như trước. Nhưng tôi tin rằng, nếu chúng ta chỉ xử lý vài cá nhân vi phạm mà không dám nhìn thẳng vào những bất cập trong cách thiết kế hệ thống, thì vài năm nữa rất có thể chúng ta sẽ lại nghe tên một địa phương khác trong một vụ gian lận mới.
Theo tôi, muốn chống tiêu cực trong thi cử thì không chỉ cần người tốt, mà còn cần một cơ chế đủ tốt để người xấu cũng không còn cơ hội và động lực để gian lận.



