Vớ va vớ vẩn.
Đầu tiên ko thể phũ nhận sai lầm lịch sử của giai đoạn 1975 - 1986 của giai cấp lãnh đạo, tuy nhiên các luận điểm bạn đưa ra đều có vấn đề, chỉ nhìn thấy bề nổi, cái trội để áp đặt lên Việt Nam.
1. Về Tây Đức: “10-15 năm” đúng về tốc độ phục hồi, sai nếu coi là phát triển từ số không. Tây Đức được thừa hưởng trung tâm công nghiệp chủ yếu của một nước Đức vốn đã là cường quốc công nghiệp, khoa học và xuất khẩu từ trước hai cuộc thế chiến. Dù cơ sở vật chất bị phá hủy nghiêm trọng, vốn con người và năng lực tổ chức vẫn tồn tại.
Ngoài ra, sự phục hồi còn được hỗ trợ bởi: viện trợ và nguyên liệu từ Kế hoạch Marshall, cải cách tiền tệ năm 1948 và kinh tế thị trường xã hội, tiếp cận thị trường Mỹ và Tây Âu, nhu cầu tăng mạnh trong Chiến tranh Triều Tiên, chi phí quốc phòng ban đầu tương đối thấp nhờ hệ thống an ninh phương Tây, việc tái cơ cấu nghĩa vụ nợ quốc tế.
Chính Bộ Kinh tế Đức mô tả sự phục hồi được tạo thuận lợi bởi Kế hoạch Marshall và “Korea boom”, chứ không phải chỉ nhờ ý chí hay một mô hình chính trị duy nhất.
Vì vậy, trường hợp Tây Đức chứng minh rằng thể chế phù hợp, vốn con người, thị trường quốc tế và hỗ trợ bên ngoài có thể tạo ra phục hồi rất nhanh. Nó không chứng minh rằng mọi nước vừa trải qua chiến tranh đều phải trở thành nền kinh tế thứ ba thế giới sau 10-15 năm.
2.
Về Nhật Bản: Olympic Tokyo diễn ra năm 1964, tức 19 năm sau chiến tranh. Nhật khai trương Tokaido Shinkansen ngay trước Olympic và sử dụng công nghệ truyền hình màu, truyền hình qua vệ tinh. Nhưng cần lưu ý:
- Nhật đã là cường quốc công nghiệp, hàng hải và quân sự trước năm 1945
- Công nghiệp nặng, các tập đoàn, hệ thống giáo dục và đội ngũ kỹ thuật đã hình thành từ thời Minh Trị
- Mỹ tiến hành cải cách ruộng đất và cải tổ thể chế thời chiếm đóng
- Nhật được bảo đảm an ninh, nhờ đó duy trì gánh nặng quốc phòng thấp
- Đơn đặt hàng của Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên tạo cú hích lớn về cầu và ngoại tệ.
Ngoài ra, truyền hình vệ tinh Olympic không phải thành tựu thuần túy của riêng Nhật: vệ tinh Syncom được Hoa Kỳ phát triển và phóng. NASA xác nhận các vệ tinh truyền thông của Mỹ đã truyền một phần Olympic Tokyo 1964. Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật cũng xác nhận Shinkansen và công nghệ truyền hình là những biểu tượng lớn của Olympic này.
3.
Về Hàn Quốc: bắt đầu chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu một cách có hệ thống từ đầu thập niên 1960, không phải ngay ngày ký đình chiến năm 1953. Thành công này dựa trên tổ hợp nhiều yếu tố:
- Cải cách ruộng đất
- Viện trợ rất lớn của Mỹ
- Bảo đảm an ninh và khả năng tiếp cận thị trường Mỹ
- Tín dụng nhà nước có điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu
- Các kế hoạch 5 năm
- Đầu tư mạnh vào giáo dục, hạ tầng, thép, đóng tàu, hóa chất và điện tử
- Doanh nghiệp tư nhân lớn nhưng chịu kỷ luật xuất khẩu của nhà nước
- Vốn và công nghệ từ Nhật sau bình thường hóa quan hệ năm 1965.
Ngân hàng Thế giới xác định bước ngoặt của Hàn Quốc là thập niên 1960 và ghi nhận vai trò rất lớn của viện trợ Mỹ, nhà nước phát triển và tài chính-công nghệ nước ngoài.
Ngoài ra việc “Vươn tầm thế giới” của Hàn Quốc cũng phải được định nghĩa rõ ràng:
- Đăng cai Olympic Seoul: 1988, tức 35 năm sau đình chiến
- Gia nhập OECD: 1996, tức 43 năm
- Trở thành nước thu nhập cao: khoảng đầu-giữa thập niên 1990, tùy theo chuẩn quy định như thế nào là thu nhập cao
- Thành cường quốc công nghệ toàn diện: chủ yếu từ cuối thập niên 1990-2000.
Theo một báo cáo World Bank tính rằng Hàn Quốc mất khoảng 42 năm để đi từ mức thu nhập tương đương Việt Nam năm 1990 đến ngưỡng thu nhập cao, chứ không phải con số khẳng định tùy tiện rằng Hàn Quốc chỉ cần 25–30 năm.
4. Về Việt Nam: nên tính từ 1975 hay 1986? Để công bằng chúng ta tính bằng cả hai mốc.
- Tính trách nhiệm quản trị quốc gia: từ 1975.
- Tính quá trình tăng trưởng theo cơ chế thị trường và hội nhập: từ Đổi Mới năm 1986.
- Tính tiếp cận tương đối đầy đủ với thị trường và vốn phương Tây: từ bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995.
- Tính hội nhập thương mại sâu rộng: từ gia nhập WTO năm 2007.
Không thể xóa giai đoạn 1975-1986 khỏi trách nhiệm lịch sử. Mô hình kế hoạch hóa, tập thể hóa, kiểm soát giá cả, quản lý quan liêu và những quyết định kinh tế sai đã góp phần gây trì trệ, thiếu lương thực và lạm phát. IMF ghi nhận năm 1986 Việt Nam đứng trước khủng hoảng nghiêm trọng, lạm phát khoảng 700-800%; cải cách năm 1989 mới thực sự tháo bỏ phần lớn kiểm soát giá và sản lượng.
Nhưng cũng không thể giả vờ rằng Việt Nam có điều kiện đối ngoại giống Tây Đức, Nhật hay Hàn Quốc:
- Hậu quả của nhiều thập niên chiến tranh trên toàn lãnh thổ
- Xung đột biên giới Tây Nam và phía Bắc cuối thập niên 1970
- Nghĩa vụ quân sự và an ninh kéo dài
- Cấm vận và hạn chế tiếp cận tín dụng, công nghệ, thị trường phương Tây
- Mất viện trợ và thị trường ưu đãi khi Liên Xô cùng khối CMEA tan rã.
IMF đánh giá cải cách của Việt Nam đạt kết quả đáng kể dù khi đó còn đối mặt với cấm vận và việc mất viện trợ Liên Xô. Mỹ chỉ tái lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1995.
Những hoàn cảnh trên giải thích một phần tốc độ phát triển, và chúng không xóa trách nhiệm về lựa chọn chính sách trong nước.
Việt Nam chưa phải nước phát triển và còn thua khá xa Nhật, Hàn Quốc về thu nhập, năng suất, công nghệ lõi và chất lượng thể chế. Nhưng nói không có phát triển là phủ nhận những thay đổi có thể đo lường:
- GDP bình quân đầu người tăng từ dưới 700 USD năm 1986 lên gần 4.500 USD năm 2023
- Gần như toàn bộ hộ gia đình đã có điện vào năm 2019, so với 14% năm 1993
- Việt Nam đã trở thành một mắt xích lớn trong chuỗi cung ứng chế tạo và một trong những nền kinh tế có độ mở cao
- HDI tăng từ 0,499 năm 1990 lên 0,766 năm 2023, thuộc nhóm “phát triển con người cao”, đứng 93/193
- Tỷ lệ nghèo giảm rất mạnh trong ba thập niên Đổi Mới.
Các số liệu này được World Bank và UNDP ghi nhận, không phải chỉ là tuyên bố của phía Việt Nam.
Vì vậy, đừng có mang mấy cái kia ra mà phủ nhận sự phát triển của Việt Nam trong 50 năm vừa qua. Muốn phê phán thì hãy so cùng tiêu chí, cùng điều kiện và cùng giai đoạn phát triển, lấy ba kỳ tích đặc biệt của lịch sử làm thời hạn bắt buộc cho mọi quốc gia chỉ là ngụy biện chọn mẫu.