thảo luận 10 ĐIỀU CÀNG LÀM LISTENING CÀNG "THẤM"

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề LITEON
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

LITEON

Junior Member
1. Trong phần Section 1, càng chủ quan làm càng sai. Đôi khi có những bài nói sẽ rất nhanh điền không kịp.
2. Section 1: sẽ có 2-3 thông tin nhiễu nên phải chuẩn bị tâm lý trước. Ví dụ Start time chắc chắn sẽ mention 2-3 khung giờ như 7.30, 8.30, 9.00 (kiểu tôi sẽ đi làm vào lúc 9h sáng nên tôi sẽ đưa con tôi tới đây lúc 8.30; hoặc mọi người sẽ tập trung tại event lúc 7.00 nhưng 7.30 mới bắt đầu event). Hoặc Day: sẽ nói là Wednesday bận rồi, để xem Thur hay Fri t rảnh, thôi Thur đi vì Fri bận đi bơi. Còn Ví dụ như Postcode có khả năng sai A với H, E với I, G với J, đọc xong rồi phát hiện đọc nhầm nên sửa lại.
3. Section 1 + Section 4: từ cần điền có thể đến trước từ khóa. Ví dụ như free........... available. Bạn đang đợi nghe từ gì đó ở giữa "free" và "available" nhưng 2 từ này bạn sẽ được nghe sau. Còn từ cần điền vào "...." là "parking" thì bạn sẽ được nghe trước. Cho nên ĐỢI TỪ rồi mới điền là hoàn toàn sai lầm.
4. Section 4: Không hiểu sao chứ mỗi lần audio nói đến từ cần điền là họ sẽ nhấn giọng hơn vào chữ đó. Nên nếu bạn nào nghe nhiều rồi sẽ cảm nhận được. Còn bạn nào không hiểu thì hãy tưởng tượng: "Bạn là 1 người được thuê tới để thu âm audio cho bài IELTS Listening, họ đưa script và in đậm cho bạn những từ khóa cần điền. Thì theo lối tự nhiên trong quá trình đọc bạn thấy từ nào in đậm bạn sẽ nhấn giọng to, rõ hơn khi nói đến từ đó."
5. Section 4: khả năng cao từ cần điền sẽ là danh từ, 20% là tính từ. Nên chú ý nghe danh từ, nhất là chú ý từ khóa có thể đến sau "for example, in fact, but, such as...."
6. Section 4: đặc biệt chú ý giới từ. Ví dụ "based on a real ......" thì mình cần khoanh tròn từ "on", mình sẽ tìm nghe từ nào đằng sau "on a...." cái gì đó. Hoặc "for, into, at, on, in, of" cần phải đặc biệt khoanh tròn.
7. Section 1 + 4: Khi nghe tới danh từ thì đừng vội mừng, đừng điền vội, cần nghe hết xem danh từ đó có "s" hay ko rồi hẵng điền. Hoặc nếu không chắc, nếu thấy đằng trước có từ "their" thì khả năng cao danh từ có "s". Đằng trước là "a/an" thì 100% không có "s". Hoặc những danh từ lân cận mà có "s" luôn, vd như Shop sells bottles, pens and ....... thì "....." sẽ có "s".
8. Section 2: Mình không hiểu sao chứ Section 2 dễ nghe và dễ sai kinh khủng. Phần lựa chọn 2 đáp án trong 5-6 đáp án thì dùng chiêu "loại trừ" là nhanh nhất. Còn dạng cho 1 cái khung chứa 1 đống đáp án rồi nối với câu hỏi thì có 2 cách làm:
  • 1 là note-taking (tức là note ra 1 số từ khóa khi nghe rồi 10' cuối mới check lại).
  • 2 là đánh số theo thứ tự câu rồi đối chiếu trong quá trình nghe luôn để loại trừ đỡ mất thời gian.
9. Section 3: section khó nhất trong bài thi IELTS, không bàn cãi. Multiple choice thì mình nghiệm ra được audio sẽ cho bạn những gì bạn muốn nghe. Tức là đáp án nào có số từ vựng match y chang giống với audio đọc nhất thì khả năng cao đó là đáp án SAI. Nên tỉnh táo nếu audio đọc mà dính y chang từ vựng trong đáp án thì coi chừng, bị lừa đó.
10. Luyện tập càng nhiều thì trình nghe sẽ càng tăng. Mà nhớ nghe từ 2-3 lần. Lần 1 nghe như thi thật. Lần 2 sau khi dò đáp án (chỉ biết sai câu số mấy thôi ko biết đáp áp đúng là gì) thì nghe rồi tự sửa lại đáp án cho câu đó. Lần 3 vừa nghe vừa đọc script sau sách. Làm vậy đi vài tuần sau có kết quả tốt hơn thì quay lại cảm ơn mình hihi ^^
 
1. Trong phần Section 1, càng chủ quan làm càng sai. Đôi khi có những bài nói sẽ rất nhanh điền không kịp.
2. Section 1: sẽ có 2-3 thông tin nhiễu nên phải chuẩn bị tâm lý trước. Ví dụ Start time chắc chắn sẽ mention 2-3 khung giờ như 7.30, 8.30, 9.00 (kiểu tôi sẽ đi làm vào lúc 9h sáng nên tôi sẽ đưa con tôi tới đây lúc 8.30; hoặc mọi người sẽ tập trung tại event lúc 7.00 nhưng 7.30 mới bắt đầu event). Hoặc Day: sẽ nói là Wednesday bận rồi, để xem Thur hay Fri t rảnh, thôi Thur đi vì Fri bận đi bơi. Còn Ví dụ như Postcode có khả năng sai A với H, E với I, G với J, đọc xong rồi phát hiện đọc nhầm nên sửa lại.
3. Section 1 + Section 4: từ cần điền có thể đến trước từ khóa. Ví dụ như free........... available. Bạn đang đợi nghe từ gì đó ở giữa "free" và "available" nhưng 2 từ này bạn sẽ được nghe sau. Còn từ cần điền vào "...." là "parking" thì bạn sẽ được nghe trước. Cho nên ĐỢI TỪ rồi mới điền là hoàn toàn sai lầm.
4. Section 4: Không hiểu sao chứ mỗi lần audio nói đến từ cần điền là họ sẽ nhấn giọng hơn vào chữ đó. Nên nếu bạn nào nghe nhiều rồi sẽ cảm nhận được. Còn bạn nào không hiểu thì hãy tưởng tượng: "Bạn là 1 người được thuê tới để thu âm audio cho bài IELTS Listening, họ đưa script và in đậm cho bạn những từ khóa cần điền. Thì theo lối tự nhiên trong quá trình đọc bạn thấy từ nào in đậm bạn sẽ nhấn giọng to, rõ hơn khi nói đến từ đó."
5. Section 4: khả năng cao từ cần điền sẽ là danh từ, 20% là tính từ. Nên chú ý nghe danh từ, nhất là chú ý từ khóa có thể đến sau "for example, in fact, but, such as...."
6. Section 4: đặc biệt chú ý giới từ. Ví dụ "based on a real ......" thì mình cần khoanh tròn từ "on", mình sẽ tìm nghe từ nào đằng sau "on a...." cái gì đó. Hoặc "for, into, at, on, in, of" cần phải đặc biệt khoanh tròn.
7. Section 1 + 4: Khi nghe tới danh từ thì đừng vội mừng, đừng điền vội, cần nghe hết xem danh từ đó có "s" hay ko rồi hẵng điền. Hoặc nếu không chắc, nếu thấy đằng trước có từ "their" thì khả năng cao danh từ có "s". Đằng trước là "a/an" thì 100% không có "s". Hoặc những danh từ lân cận mà có "s" luôn, vd như Shop sells bottles, pens and ....... thì "....." sẽ có "s".
8. Section 2: Mình không hiểu sao chứ Section 2 dễ nghe và dễ sai kinh khủng. Phần lựa chọn 2 đáp án trong 5-6 đáp án thì dùng chiêu "loại trừ" là nhanh nhất. Còn dạng cho 1 cái khung chứa 1 đống đáp án rồi nối với câu hỏi thì có 2 cách làm:
  • 1 là note-taking (tức là note ra 1 số từ khóa khi nghe rồi 10' cuối mới check lại).
  • 2 là đánh số theo thứ tự câu rồi đối chiếu trong quá trình nghe luôn để loại trừ đỡ mất thời gian.
9. Section 3: section khó nhất trong bài thi IELTS, không bàn cãi. Multiple choice thì mình nghiệm ra được audio sẽ cho bạn những gì bạn muốn nghe. Tức là đáp án nào có số từ vựng match y chang giống với audio đọc nhất thì khả năng cao đó là đáp án SAI. Nên tỉnh táo nếu audio đọc mà dính y chang từ vựng trong đáp án thì coi chừng, bị lừa đó.
10. Luyện tập càng nhiều thì trình nghe sẽ càng tăng. Mà nhớ nghe từ 2-3 lần. Lần 1 nghe như thi thật. Lần 2 sau khi dò đáp án (chỉ biết sai câu số mấy thôi ko biết đáp áp đúng là gì) thì nghe rồi tự sửa lại đáp án cho câu đó. Lần 3 vừa nghe vừa đọc script sau sách. Làm vậy đi vài tuần sau có kết quả tốt hơn thì quay lại cảm ơn mình hihi ^^
Hay quá cảm ơn bác cuối năm nay em cũng thi lại ielts
 
1. Trong phần Section 1, càng chủ quan làm càng sai. Đôi khi có những bài nói sẽ rất nhanh điền không kịp.
2. Section 1: sẽ có 2-3 thông tin nhiễu nên phải chuẩn bị tâm lý trước. Ví dụ Start time chắc chắn sẽ mention 2-3 khung giờ như 7.30, 8.30, 9.00 (kiểu tôi sẽ đi làm vào lúc 9h sáng nên tôi sẽ đưa con tôi tới đây lúc 8.30; hoặc mọi người sẽ tập trung tại event lúc 7.00 nhưng 7.30 mới bắt đầu event). Hoặc Day: sẽ nói là Wednesday bận rồi, để xem Thur hay Fri t rảnh, thôi Thur đi vì Fri bận đi bơi. Còn Ví dụ như Postcode có khả năng sai A với H, E với I, G với J, đọc xong rồi phát hiện đọc nhầm nên sửa lại.
3. Section 1 + Section 4: từ cần điền có thể đến trước từ khóa. Ví dụ như free........... available. Bạn đang đợi nghe từ gì đó ở giữa "free" và "available" nhưng 2 từ này bạn sẽ được nghe sau. Còn từ cần điền vào "...." là "parking" thì bạn sẽ được nghe trước. Cho nên ĐỢI TỪ rồi mới điền là hoàn toàn sai lầm.
4. Section 4: Không hiểu sao chứ mỗi lần audio nói đến từ cần điền là họ sẽ nhấn giọng hơn vào chữ đó. Nên nếu bạn nào nghe nhiều rồi sẽ cảm nhận được. Còn bạn nào không hiểu thì hãy tưởng tượng: "Bạn là 1 người được thuê tới để thu âm audio cho bài IELTS Listening, họ đưa script và in đậm cho bạn những từ khóa cần điền. Thì theo lối tự nhiên trong quá trình đọc bạn thấy từ nào in đậm bạn sẽ nhấn giọng to, rõ hơn khi nói đến từ đó."
5. Section 4: khả năng cao từ cần điền sẽ là danh từ, 20% là tính từ. Nên chú ý nghe danh từ, nhất là chú ý từ khóa có thể đến sau "for example, in fact, but, such as...."
6. Section 4: đặc biệt chú ý giới từ. Ví dụ "based on a real ......" thì mình cần khoanh tròn từ "on", mình sẽ tìm nghe từ nào đằng sau "on a...." cái gì đó. Hoặc "for, into, at, on, in, of" cần phải đặc biệt khoanh tròn.
7. Section 1 + 4: Khi nghe tới danh từ thì đừng vội mừng, đừng điền vội, cần nghe hết xem danh từ đó có "s" hay ko rồi hẵng điền. Hoặc nếu không chắc, nếu thấy đằng trước có từ "their" thì khả năng cao danh từ có "s". Đằng trước là "a/an" thì 100% không có "s". Hoặc những danh từ lân cận mà có "s" luôn, vd như Shop sells bottles, pens and ....... thì "....." sẽ có "s".
8. Section 2: Mình không hiểu sao chứ Section 2 dễ nghe và dễ sai kinh khủng. Phần lựa chọn 2 đáp án trong 5-6 đáp án thì dùng chiêu "loại trừ" là nhanh nhất. Còn dạng cho 1 cái khung chứa 1 đống đáp án rồi nối với câu hỏi thì có 2 cách làm:
  • 1 là note-taking (tức là note ra 1 số từ khóa khi nghe rồi 10' cuối mới check lại).
  • 2 là đánh số theo thứ tự câu rồi đối chiếu trong quá trình nghe luôn để loại trừ đỡ mất thời gian.
9. Section 3: section khó nhất trong bài thi IELTS, không bàn cãi. Multiple choice thì mình nghiệm ra được audio sẽ cho bạn những gì bạn muốn nghe. Tức là đáp án nào có số từ vựng match y chang giống với audio đọc nhất thì khả năng cao đó là đáp án SAI. Nên tỉnh táo nếu audio đọc mà dính y chang từ vựng trong đáp án thì coi chừng, bị lừa đó.
10. Luyện tập càng nhiều thì trình nghe sẽ càng tăng. Mà nhớ nghe từ 2-3 lần. Lần 1 nghe như thi thật. Lần 2 sau khi dò đáp án (chỉ biết sai câu số mấy thôi ko biết đáp áp đúng là gì) thì nghe rồi tự sửa lại đáp án cho câu đó. Lần 3 vừa nghe vừa đọc script sau sách. Làm vậy đi vài tuần sau có kết quả tốt hơn thì quay lại cảm ơn mình hihi ^^
sắp thi lại IELTS cần mấy bài như này để leo top :^
 
Các bác cho em biết những trường hợp nào thì chia s/es ko ạ. Nhiều cái tính từ, danh từ... cũng thêm chứ không chỉ động từ

central bank reduces
central bank increases

Stock exchanges are securities markets in which transactions - đã chia are rồi sao lại thêm "s" mấy cái "transactions, markets, securities"


A debt holder is an investor who holds a debt - chia "is" rồi sao lại thêm "s" ở "holds"


equity instruments are traded - vừa có "are" vừa "ed"

Và nhiều cái khác các thím cho em biết đây là kiến thức phần nào á

Với khi nào thì đc cho be sau đại từ quan hệ, which is, who is cái đấy chỉ khi dịch kiểu cái.. là... thì mình thêm is ạ.


In which lúc nào cũng thay thế cho where được ạ
 
1. Trong phần Section 1, càng chủ quan làm càng sai. Đôi khi có những bài nói sẽ rất nhanh điền không kịp.
2. Section 1: sẽ có 2-3 thông tin nhiễu nên phải chuẩn bị tâm lý trước. Ví dụ Start time chắc chắn sẽ mention 2-3 khung giờ như 7.30, 8.30, 9.00 (kiểu tôi sẽ đi làm vào lúc 9h sáng nên tôi sẽ đưa con tôi tới đây lúc 8.30; hoặc mọi người sẽ tập trung tại event lúc 7.00 nhưng 7.30 mới bắt đầu event). Hoặc Day: sẽ nói là Wednesday bận rồi, để xem Thur hay Fri t rảnh, thôi Thur đi vì Fri bận đi bơi. Còn Ví dụ như Postcode có khả năng sai A với H, E với I, G với J, đọc xong rồi phát hiện đọc nhầm nên sửa lại.
3. Section 1 + Section 4: từ cần điền có thể đến trước từ khóa. Ví dụ như free........... available. Bạn đang đợi nghe từ gì đó ở giữa "free" và "available" nhưng 2 từ này bạn sẽ được nghe sau. Còn từ cần điền vào "...." là "parking" thì bạn sẽ được nghe trước. Cho nên ĐỢI TỪ rồi mới điền là hoàn toàn sai lầm.
4. Section 4: Không hiểu sao chứ mỗi lần audio nói đến từ cần điền là họ sẽ nhấn giọng hơn vào chữ đó. Nên nếu bạn nào nghe nhiều rồi sẽ cảm nhận được. Còn bạn nào không hiểu thì hãy tưởng tượng: "Bạn là 1 người được thuê tới để thu âm audio cho bài IELTS Listening, họ đưa script và in đậm cho bạn những từ khóa cần điền. Thì theo lối tự nhiên trong quá trình đọc bạn thấy từ nào in đậm bạn sẽ nhấn giọng to, rõ hơn khi nói đến từ đó."
5. Section 4: khả năng cao từ cần điền sẽ là danh từ, 20% là tính từ. Nên chú ý nghe danh từ, nhất là chú ý từ khóa có thể đến sau "for example, in fact, but, such as...."
6. Section 4: đặc biệt chú ý giới từ. Ví dụ "based on a real ......" thì mình cần khoanh tròn từ "on", mình sẽ tìm nghe từ nào đằng sau "on a...." cái gì đó. Hoặc "for, into, at, on, in, of" cần phải đặc biệt khoanh tròn.
7. Section 1 + 4: Khi nghe tới danh từ thì đừng vội mừng, đừng điền vội, cần nghe hết xem danh từ đó có "s" hay ko rồi hẵng điền. Hoặc nếu không chắc, nếu thấy đằng trước có từ "their" thì khả năng cao danh từ có "s". Đằng trước là "a/an" thì 100% không có "s". Hoặc những danh từ lân cận mà có "s" luôn, vd như Shop sells bottles, pens and ....... thì "....." sẽ có "s".
8. Section 2: Mình không hiểu sao chứ Section 2 dễ nghe và dễ sai kinh khủng. Phần lựa chọn 2 đáp án trong 5-6 đáp án thì dùng chiêu "loại trừ" là nhanh nhất. Còn dạng cho 1 cái khung chứa 1 đống đáp án rồi nối với câu hỏi thì có 2 cách làm:
  • 1 là note-taking (tức là note ra 1 số từ khóa khi nghe rồi 10' cuối mới check lại).
  • 2 là đánh số theo thứ tự câu rồi đối chiếu trong quá trình nghe luôn để loại trừ đỡ mất thời gian.
9. Section 3: section khó nhất trong bài thi IELTS, không bàn cãi. Multiple choice thì mình nghiệm ra được audio sẽ cho bạn những gì bạn muốn nghe. Tức là đáp án nào có số từ vựng match y chang giống với audio đọc nhất thì khả năng cao đó là đáp án SAI. Nên tỉnh táo nếu audio đọc mà dính y chang từ vựng trong đáp án thì coi chừng, bị lừa đó.
10. Luyện tập càng nhiều thì trình nghe sẽ càng tăng. Mà nhớ nghe từ 2-3 lần. Lần 1 nghe như thi thật. Lần 2 sau khi dò đáp án (chỉ biết sai câu số mấy thôi ko biết đáp áp đúng là gì) thì nghe rồi tự sửa lại đáp án cho câu đó. Lần 3 vừa nghe vừa đọc script sau sách. Làm vậy đi vài tuần sau có kết quả tốt hơn thì quay lại cảm ơn mình hihi ^^
Bác nói thêm về s es đi dạo này rối quá lúc số ít cũng chia, nhiều chia mà danh tính nó cũng chia
 
cái này dễ mà, viết nhiều là nhớ thôi, bật check spelling trong MS word hoặc cài grammarly lên, tôi bị OCD nên cứ thấy báo lỗi là tôi phải sửa, sửa nhiều tự khắc nhớ :)
Xem tệp đính kèm 1379652
Là sao nhỉ theo hiện tại đơn thì mới như này chứ, 1 số cái is are vẫn chia s/es

Cả mấy danh từ chính phủ, central bank đi với is nhưng lại chia s/es
 
Hiểu sao nói vậy nhé, nhớ check thêm vì ko rành lắm thuật ngữ chứng khoán.
Stock exchanges are securities markets in which transactions
Exchanges là danh từ chia số nhiều, kiểu "các giao dịch"
Securities market là cụm danh từ, thị trường chứng khoán, cái securities là cố định cho nghĩa này rồi, để security lại thành bảo vệ/an ninh.
Markets và transactions tương tự exchanges, danh từ chia số nhiều thôi.
A debt holder is an investor who holds a debt
Câu này là câu phức với liên từ who, holds là chia theo chủ ngữ chính "a debt holder".
 
equity instruments are traded - vừa có "are" vừa "ed"
Thể bị động S - be - done/Ved. "Các thiết bị ĐƯỢC mua bán".
Với khi nào thì đc cho be sau đại từ quan hệ, which is, who is cái đấy chỉ khi dịch kiểu cái.. là... thì mình thêm is ạ.
Mệnh đề quan hệ (relative clauses).
In which lúc nào cũng thay thế cho where được ạ
Thay thế trong một số câu có dùng mệnh đề quan hệ.

Thím hổng nhiều ghê, từ cái cơ bản đến nâng cao :(
 
Hiểu sao nói vậy nhé, nhớ check thêm vì ko rành lắm thuật ngữ chứng khoán.

Exchanges là danh từ chia số nhiều, kiểu "các giao dịch"
Securities market là cụm danh từ, thị trường chứng khoán, cái securities là cố định cho nghĩa này rồi, để security lại thành bảo vệ/an ninh.
Markets và transactions tương tự exchanges, danh từ chia số nhiều thôi.

Câu này là câu phức với liên từ who, holds là chia theo chủ ngữ chính "a debt holder".
Cảm ơn thím nhé, thím tốt quá không giấu bài giống mấy ông 8.0 thả bait
 
Cảm ơn thím nhé, thím tốt quá không giấu bài giống mấy ông 8.0 thả bait
Đi xem bói luôn được hướng nghiệp làm giáo viên, đến vozer cũng xui đi dạy kiếm 30tr/tháng, nhưng cái tôi theo đuổi là tri thức nhân loại, không phải tiền :shame:
 
Sao không là were traded ạ
were hay are hay gì gì thì phụ thuộc vào ngữ cảnh. Câu này chắc chỉ đang trần thuật, giải thích một kiến thức nói chung thôi nên dùng hiện tại đơn giản. Nếu ngữ cảnh là ông nào đấy kể chuyện tuần trước đi trade thì mới đưa về quá khứ, dùng were.
 
were hay are hay gì gì thì phụ thuộc vào ngữ cảnh. Câu này chắc chỉ đang trần thuật, giải thích một kiến thức nói chung thôi nên dùng hiện tại đơn giản. Nếu ngữ cảnh là ông nào đấy kể chuyện tuần trước đi trade thì mới đưa về quá khứ, dùng were.
Ra là vậy cảm ơn thím nhiều nhiều kkk, khai sáng cho em luôn ạ
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
LITEON,
Người trả lời cuối
mario_mario,
Trả lời
26
Lượt xem
2.037
Quay lại
Lên đầu trang