Đất 50 năm là gì?

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề Khương Vọng
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
"nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai" hiểu sao thì hiểu
Mấy cái khái niệm cơ bản này thì cứ trích Hiến Pháp đi cho nhanh gọn !!!
Điều 53 trong Hiến Pháp có ghi rõ rồi đó bạn !!!
sxzIv3k.png


via theNEXTvoz for iPhone
 
Thông não cho tụi mình đi bác zai ???

via theNEXTvoz for iPhone
đại khái hồi đó *ắn bộ nói lăng quăng tui nghe ko hiểu đc gì luôn
mãi sau này có dịp gặp đc 1 luật sư ở phòng công chứng thì hỏi luôn là đất của ông kia 2 công là đất nhà xưởng, giấy tờ + sổ hồng hợp pháp hết thì ko có thời hạn sử dụng đất, thay vào đó ghi là "ổn định", còn đất thổ cư là "lâu dài". mình hỏi tiếp cùng là ko có thời hạn tại sao ko xài chung 1 cái là "lâu dài" mà lại tách ra 1 cái gọi là "ổn định" ?? thì lão luật sư chỉ nói luật đất đai nó quy định vậy ??
 
Đất 50 năm còn bao gồm các loại đất được cho thuê, được giao đất cho từng đối tượng như:
  • Đất được tổ chức sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, lầm muối.
  • Đất được tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.
  • Đất được sử dụng để các tổ chức thực hiện dự án đầu tư- Đất người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao nhằm thực hiện các dự án đầu tư.
Sao sổ nhà tôi đất ở mà cũng 50 năm nhỉ :censored:
 
  • Gạch
Cảm xúc: HVA
Có chuyển đc đất lúa sang đất thổ cư ko các thím hoặc có thể chuyển sang loại hình đất nào để có thể xây nhà đc nhỉ
 
đại khái hồi đó *ắn bộ nói lăng quăng tui nghe ko hiểu đc gì luôn
mãi sau này có dịp gặp đc 1 luật sư ở phòng công chứng thì hỏi luôn là đất của ông kia 2 công là đất nhà xưởng, giấy tờ + sổ hồng hợp pháp hết thì ko có thời hạn sử dụng đất, thay vào đó ghi là "ổn định", còn đất thổ cư là "lâu dài". mình hỏi tiếp cùng là ko có thời hạn tại sao ko xài chung 1 cái là "lâu dài" mà lại tách ra 1 cái gọi là "ổn định" ?? thì lão luật sư chỉ nói luật đất đai nó quy định vậy ??
1. Quyền sở hữu tài sản trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến năm 1992

- Hiến pháp năm 1946:
Hiến pháp năm 1946 quy định về việc bảo hộ các quyền công dân, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và các quyền tài sản khác. Nhà nước cho phép người dân được tự do mua bán, chuyển nhượng, tạo điều kiện cho các chủ thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, Điều 12 ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Quy định này được đánh giá là thật sự dân chủ, nhân quyền, xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng khi đó là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”[1].

- Hiến pháp năm 1959: Điều 18 ghi nhận: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác”, như vậy, Nhà nước đã công nhận và bảo hộ người lao động riêng lẻ và quyền sở hữu của các nhà tư bản đối với các tư liệu sản xuất mà họ đang được phép sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, ghi nhận thừa kế là một quyền được pháp luật bảo hộ, Điều 19 nêu rõ: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”, quy định này nhằm bảo đảm quyền định đoạt tài sản cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, tạo cơ chế khuyến khích phát huy sức lao động của con người không chỉ tạo ra của cải phục vụ nhu cầu khi sống mà còn có của cải để dành cho người thân sau khi chết. Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại của 04 hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất tại Điều 11, bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu hợp tác xã, sở hữu của những người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc.

- Hiến pháp năm 1980: Hiến pháp năm 1980 không công nhận sự tồn tại của sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế tương ứng như Hiến pháp năm 1959 mà đặt trọng tâm về vấn đề sở hữu toàn dân. Theo đó, quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1987, năm 1993 và năm 2003. Các cá nhân, hộ gia đình không có quyền sở hữu về đất đai nhưng có quyền sử dụng, khai thác, chuyển nhượng tài sản trên đất của mình. Nếu trên đất không có tài sản thì không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kể cả việc thừa kế quyền sử dụng đất. Trên thực tế, thời kỳ này, tài sản mà các hộ gia đình có quyền sở hữu cũng chủ yếu là tư liệu tiêu dùng, dẫn đến các giao dịch dân sự thời kỳ này vẫn chủ yếu là giải quyết nhu cầu thiết yếu hằng ngày của cá nhân và gia đình của họ[2].

- Hiến pháp năm 1992: Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Điều 15 khẳng định: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát huy mọi tiềm năng của mình để phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau (Điều 16).

Hiến pháp năm 1992 đã khôi phục lại phạm vi và đối tượng quyền sở hữu của công dân, phù hợp với chính sách kinh tế mới và quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58). Như vậy, phạm vi quyền sở hữu của công dân ngày càng được mở rộng, nhất là quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất nói chung và quyền sử dụng đất đai nói riêng - điều mà Hiến pháp năm 1980 đã không thừa nhận. Tuy nhiên, những quy định về sở hữu trong Hiến pháp năm 1992 vẫn còn những hạn chế nhất định. Các quy định về sở hữu toàn dân, nhất là đối với đất đai chưa được cụ thể hóa một cách đầy đủ, chưa làm rõ được quyền của nhân dân với tư cách là chủ sở hữu; vai trò, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu.

Đặc biệt, lần đầu tiên kể từ năm 1945, Hiến pháp năm 1992 đề cập đến khái niệm quyền con người (Điều 50). Mặc dù, quy định này còn gây ít nhiều tranh cãi bởi nó đồng nhất giữa quyền con người và quyền công dân, song việc đề cập cụ thể đến khái niệm quyền con người có thể coi là một bước tiến rất lớn trong lịch sử lập hiến của Việt Nam.

Với tinh thần nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con người, ngày 12/12/2001, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó có cụ thể thêm một số quy định về sở hữu như: Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng (Điều 15) và Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa (Điều 25).

[1]. Hiến pháp Việt Nam (các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 7.

[2]. Đinh Xuân Thảo, Nguyễn Thị Dung, Về chế độ sở hữu trong Hiến pháp năm 1992 và việc sửa đổi, bổ sung, http://tapchiqptd.vn/vi/tuyen-truye...ap-nam-1992-va-viec-sua-doi-bo-sung/1745.html.

[3]. Quyền sở hữu tư nhân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, quyền này không được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 do trong giai đoạn này Nhà nước ta không thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân. Đến Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới thì quyền sở hữu tư nhân lại được ghi nhận và tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Hiến pháp năm 2013.

Xem tệp đính kèm 2789250

Ví dụ về đất 50 năm, phân lô đến từng gian hàng.
có sổ là ngon rồi! còn hơn không sổ =))
 
1. Quyền sở hữu tài sản trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến năm 1992

- Hiến pháp năm 1946:
Hiến pháp năm 1946 quy định về việc bảo hộ các quyền công dân, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và các quyền tài sản khác. Nhà nước cho phép người dân được tự do mua bán, chuyển nhượng, tạo điều kiện cho các chủ thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, Điều 12 ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Quy định này được đánh giá là thật sự dân chủ, nhân quyền, xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng khi đó là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”[1].

- Hiến pháp năm 1959: Điều 18 ghi nhận: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác”, như vậy, Nhà nước đã công nhận và bảo hộ người lao động riêng lẻ và quyền sở hữu của các nhà tư bản đối với các tư liệu sản xuất mà họ đang được phép sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, ghi nhận thừa kế là một quyền được pháp luật bảo hộ, Điều 19 nêu rõ: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”, quy định này nhằm bảo đảm quyền định đoạt tài sản cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, tạo cơ chế khuyến khích phát huy sức lao động của con người không chỉ tạo ra của cải phục vụ nhu cầu khi sống mà còn có của cải để dành cho người thân sau khi chết. Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại của 04 hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất tại Điều 11, bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu hợp tác xã, sở hữu của những người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc.

- Hiến pháp năm 1980: Hiến pháp năm 1980 không công nhận sự tồn tại của sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế tương ứng như Hiến pháp năm 1959 mà đặt trọng tâm về vấn đề sở hữu toàn dân. Theo đó, quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1987, năm 1993 và năm 2003. Các cá nhân, hộ gia đình không có quyền sở hữu về đất đai nhưng có quyền sử dụng, khai thác, chuyển nhượng tài sản trên đất của mình. Nếu trên đất không có tài sản thì không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kể cả việc thừa kế quyền sử dụng đất. Trên thực tế, thời kỳ này, tài sản mà các hộ gia đình có quyền sở hữu cũng chủ yếu là tư liệu tiêu dùng, dẫn đến các giao dịch dân sự thời kỳ này vẫn chủ yếu là giải quyết nhu cầu thiết yếu hằng ngày của cá nhân và gia đình của họ[2].

- Hiến pháp năm 1992: Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Điều 15 khẳng định: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát huy mọi tiềm năng của mình để phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau (Điều 16).

Hiến pháp năm 1992 đã khôi phục lại phạm vi và đối tượng quyền sở hữu của công dân, phù hợp với chính sách kinh tế mới và quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58). Như vậy, phạm vi quyền sở hữu của công dân ngày càng được mở rộng, nhất là quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất nói chung và quyền sử dụng đất đai nói riêng - điều mà Hiến pháp năm 1980 đã không thừa nhận. Tuy nhiên, những quy định về sở hữu trong Hiến pháp năm 1992 vẫn còn những hạn chế nhất định. Các quy định về sở hữu toàn dân, nhất là đối với đất đai chưa được cụ thể hóa một cách đầy đủ, chưa làm rõ được quyền của nhân dân với tư cách là chủ sở hữu; vai trò, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu.

Đặc biệt, lần đầu tiên kể từ năm 1945, Hiến pháp năm 1992 đề cập đến khái niệm quyền con người (Điều 50). Mặc dù, quy định này còn gây ít nhiều tranh cãi bởi nó đồng nhất giữa quyền con người và quyền công dân, song việc đề cập cụ thể đến khái niệm quyền con người có thể coi là một bước tiến rất lớn trong lịch sử lập hiến của Việt Nam.

Với tinh thần nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con người, ngày 12/12/2001, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó có cụ thể thêm một số quy định về sở hữu như: Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng (Điều 15) và Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa (Điều 25).

[1]. Hiến pháp Việt Nam (các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 7.

[2]. Đinh Xuân Thảo, Nguyễn Thị Dung, Về chế độ sở hữu trong Hiến pháp năm 1992 và việc sửa đổi, bổ sung, http://tapchiqptd.vn/vi/tuyen-truye...ap-nam-1992-va-viec-sua-doi-bo-sung/1745.html.

[3]. Quyền sở hữu tư nhân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, quyền này không được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 do trong giai đoạn này Nhà nước ta không thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân. Đến Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới thì quyền sở hữu tư nhân lại được ghi nhận và tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Hiến pháp năm 2013.


có sổ là ngon rồi! còn hơn không sổ =))
ông quăng cho tui xem 1 cục đó chi vậy :sweat:
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
Khương Vọng,
Người trả lời cuối
GenG Chovy,
Trả lời
90
Lượt xem
12.302
Quay lại
Lên đầu trang