thảo luận Hỏi đáp về Tam Quốc

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề Relight
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Mình nghĩ cái Ngô hầu này có nghĩa là Lord of Ngô chứ không phải là Marquess of Ngô. Thời Hán thay đổi nhiều so với thời Xuân Thu, không sử dụng chữ Công rộng rãi nữa nên ngta mặc định Hầu tước là to nhất rồi.
À không, ý em là anh trên kia bảo tước “Ngô hầu” được Quyền kế thừa tới giờ vẫn chưa có bằng chứng chính xác chứ ko phải là chúa Ngô, chứ Quyền nghiễm nhiên là chủ 6 quận ấy rồi. Quyền cai trị với danh Thảo lỗ Tướng quân (kế tục hàm “Thảo nghịch Tướng quân” của Sách) và quyền Thái thú Cối Kê còn bản thân tước Ngô hầu lúc đó chưa được Tào Tháo công nhận, nếu không thì Tháo đã chẳng phong Quyền làm Nam Xương hầu sau này.
 
Vậy để em hỏi bác câu này:

Có ý kiến cho rằng Thương Ưởng là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử Trung Quốc, vai trò của ông ko hề thua kém so với Khổng Tử. Tuy nhiên đa phần chúng ta ngày nay đều ko biết đến thành tựu của ông.

Bác nghĩ sao về nhận định này
Hôm nay mình nghiên cứu lại về Vệ Ưởng, thì mình xin bổ sung câu trả lời mình lần trước.
Vệ Ưởng cơ bản chính sách rất khác Nho Giáo. Nho Giáo ủng hộ chế độ phong kiến, còn Vệ Ưởng thì không. Các biến pháp của ông ta cho rằng, người có công thì phong thưởng, quý tộc không có đóng góp cho nhà nước thì cắt dần chức tước đi.
Nước Tần nhờ đó trọng người lao động tham gia sản xuất, khi có chiến tranh thì trọng người dũng cảm giết địch, ai mang đầu giặt về thì đều được ban thưởng. Ai cũng tin chỉ cần cống hiến cho quốc gia sẽ sớm được thăng quan tiến chức. Sau này Vệ Ưởng bị giết, nhưng nước Tần vẫn theo lề lối này. Hầu như các sĩ phu của nước Tần như Trương Nghi, Lã Bất Vi sau này đều là người từ nước khác đến.
Trong khi đó Nho giáo đề cao tính thứ bậc trong xã hội, chia rõ giai cấp rõ ràng.
Cho nên không thể nói đường lối của Vệ Ưởng đóng góp nhiều cho Trung Quốc như Khổng Tử được.
Nước Tần xây dựng trên đất của người Tây Nhung, đa số là người Tây Nhung, cho nên văn hóa có phần man di mọi rợ so với các nước tiến bộ phía đông. Cộng thêm việc Vệ Ưởng trọng hình pháp cho nên đất nước có vẻ kém văn minh, hình phạt cũng tàn khốc so với các nước khác.
Một điểm nữa, Vệ Ưởng tên là Công Tôn Ưởng, người nước Vệ. Có sách viết là Thương Ưởng, thật ra là Thương quân Ưởng. Thương là 1 ấp mà Tần Hiếu Công phong cho Vệ Ưởng. Thương quân có nghĩa là Lord of Thương.
 
Lỗ Túc gánh còng lưng cả liên minh Tôn Lưu, gánh từ lúc LB-GCL bước chân qua Giang Đông cho đến lúc bị xin đểu cái KC vẫn vui vẻ hoà hảo.
Sau Lỗ Túc xuống lổ thì gần như liên minh này chấm hết

via theNEXTvoz for iPhone
Tính ra là túc gánh còng lưng team thục, thục phát triển nhanh và mạnh nhất là dưới thời túc. K có túc thì team thục có khi vẫn loăng quăng dặt dẹo khắp map, thậm chí là k có nhà thục
 
Câu trả lời của mình cũng tưng tự như mọi người thôi:
1. Theo mình thì Gia Cát Lượng thích đánh từ phía Tây hơn, vì Kinh Châu 2 mặt giáp Tôn Tào, nên nếu đánh từ mặt phía Tây sẽ có lợi thế hơn một chút. Ngoài ra mặt phía Tây thì bên phía Ngụy nếu thua thì sẽ dễ dàng thu đất hơn. Kinh Châu là một địa điểm phòng thủ nhiều hơn, phải đối diện với 2 thế lực cùng lúc. Gia Cát Lượng trao Kinh Châu cho chỉ huy giỏi nhất trong quân đội của mình.
2. Không đủ lực lượng nuôi quân. Thục là nước nghèo nhất, chiến dịch Hán Trung đã tiêu tốn quá nhiều nguồn lực của Thục. Ban đầu Lượng định ổn định tình hình cơ. Nhưng mà Quan Vũ BẤT NGỜ XUẤT BINH ngay sau khi Lưu Bị lên ngôi Hoàng Đế. Mọi người hiểu là Quan Vũ tự đánh lên phía Bắc.
3. Nếu bỏ qua thế lực của Đông Ngô thì mình nghĩ quân Tào chống không nổi. Vu Cấm là một trong những tướng giỏi và xuất sắc nhất của Tào Tháo, đương thời phẩm hàm ngan với Trương Liêu và Từ Hoảng, nhưng mà bị Quan Vũ bắt sống. Tào Tháo sợ đến mức tính chuyện dời đô. Nhìn chung lực lượng ở Kinh Châu không quá mạnh nhưng Tào Tháo vừa mất Đông Xuyên xong, nên tinh thần cũng không chắc chắn là muốn không máu. Nếu lúc đó Tôn Quyền không đánh từ phía sau thì khả năng cao hơn là phải dời đô.
Còn một điều nữa, bổ sung là, Quan và Trương có tính tình trái ngược nhau. Trương Phi trọng người có học vấn mà đối xử khắt nghiệt với hạ nhân. Quan Vũ thì thương mếm đối đãi với binh sĩ nhưng lại tỏ ra coi thường tầm lớp sĩ phu, vì vậy đám quý tộc ai cũng ghét Quan Vũ.
Thực ra hướng tây chỉ là nơi để cố thủ, dễ thủ khó công là hậu phương cung cấp hậu cần thôi, vì đường đi ở đây hiểm trở k thể tiến công thần tốc, vận lương cũng chậm phải mất nhiều thời gian, binh sĩ hành quân vất vả mệt mỏi giảm nhuệ khí chiến đấu.
Hướng tấn công nguỵ hiệu quả nhất vẫn là kinh châu, có thể hành quân thần tốc, cung cấp tiếp ứng được lương thảo nhanh nhiều hiệu quả kịp thời, đây cũng là con đường ngắn nhất đánh đến hứa đô, uy hiếp trực diện vào cơ sở team nguỵ
Về mặt chiến lược, quan vũ tấn công nguỵ lúc này là rất chính xác, khi nguỵ đang thất bại liên tiếp, binh tướng suy giảm nhuệ khí. Thời điểm này cũng đang là mùa hè, mưa nhiều nên có lợi cho thuỷ binh của 2 team thục ngô, ngược lại kỵ binh bên nguỵ sẽ gặp nhiều bất lợi dễ bị đánh bại.
 
Trong khi đó Nho giáo đề cao tính thứ bậc trong xã hội, chia rõ giai cấp rõ ràng.
Cho nên không thể nói đường lối của Vệ Ưởng đóng góp nhiều cho Trung Quốc như Khổng Tử được.
Thực ra em cho rằng Thương Ưởng và Khổng Tử là 2 người đồng thời có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử Trung Quốc:

- Thương Ưởng là người đã đặt nền móng để xây dựng nên mô hình nhà nước tập quyền kéo dài hơn 2000 năm, chứ ko chỉ đơn giản là chỉ kết thúc ở thời Tần, góp phần thay đổi tư duy của người TQ luôn hướng tới một đất nước thống nhất thay vì tách thành các quốc gia đơn lẻ như thời Xuân Thu - Chiến Quốc
- Khổng Tử là người đã định hình tư tưởng và đạo đức cho người TQ trong suốt 2000 năm, cái này thì ko cần phải nói nhiều.

Tóm lại, trong suốt lịch sử 2000 năm từ thời Hán cho đến hiện tại, thực tế Pháp - Nho luôn song hành và bổ trợ cho nhau, những tư tưởng tàn bạo của Pháp gia đã được dung hoà bằng các tiêu chuẩn Đạo đức của Nho giáo. Tuy nhiên ngày nay chúng ta thường ko chú ý hoặc phủ nhận vai trò của Pháp gia.
Nước Tần xây dựng trên đất của người Tây Nhung, đa số là người Tây Nhung, cho nên văn hóa có phần man di mọi rợ so với các nước tiến bộ phía đông. Cộng thêm việc Vệ Ưởng trọng hình pháp cho nên đất nước có vẻ kém văn minh, hình phạt cũng tàn khốc so với các nước khác.
Một điểm nữa, Vệ Ưởng tên là Công Tôn Ưởng, người nước Vệ. Có sách viết là Thương Ưởng, thật ra là Thương quân Ưởng. Thương là 1 ấp mà Tần Hiếu Công phong cho Vệ Ưởng. Thương quân có nghĩa là Lord of Thương.
Đoạn này e ko hiểu ý bác muốn nói gì
 
VỀ KINH CHÂU [1]

HanWsh trả lời:

a) Nhìn nhanh qua những nhân vật đáng chú ý mà Lưu Bị để lại ở Kinh Nam:

Sĩ Nhân đến từ quận Trác, cùng quê với Trương Phi và Lưu Bị, và rất có khả năng là người đã theo Lưu Bị từ lâu.

My Phương là anh rể [cựu] của Lưu Bị và trước đó đã từ chối lời đề nghị trở thành Thái thú quận dưới quyền Tào Tháo, chọn ở lại với Lưu Bị và trở thành bộ hạ của ông, do đó đã chứng minh được lòng trung thành của mình khi Lưu Bị mới còn là cấp dưới của Tào Tháo.

Phan Tuấn trở thành một trong Cửu khanh và Huyện hầu ở Tôn Ngô.

Lưu Phong là con nuôi của Lưu Bị, nổi tiếng vì lòng dũng cảm và đã phục vụ xuất sắc trong các chiến dịch bờ Tây của Lưu Bị.

Mạnh Đạt là một trong những người ủng hộ Lưu Bị sớm nhất ở Ích Châu, cùng với Pháp Chính và Trương Tùng, và ông được Tào Phi ngưỡng mộ vì tài năng của mình.

Liêu Hóa trở thành một viên chức cấp cao của Thục Hán và từng đánh bại Quách Hoài với tư cách là tướng chỉ huy trong khi đang ở thế bất lợi.

Tôi sẽ không gọi những kẻ này là "yếu kém".

Quan Vũ là Tiền Tướng quân của Lưu Bị kiêm Thái thú quận Tương Dương cộng thêm Đổng đốc Kinh Châu sự (thẩm quyền giám sát và chỉ huy mọi công việc ở Kinh Châu) và được ban Giả tiết kích (quyền ban lệnh mà không cần xin ý kiến của quân chủ, thường là "sát").

Ngay cả khi đó, vị thế của Quan Vũ ở Kinh Châu thực sự vẫn còn tương đối xấu hổ. Vì bản thân Lưu Bị chỉ là một Châu mục, Quan Vũ không thể được đặt ngang hàng với Lưu Bị, vì vậy chức vụ chính thức của ông là Thái thú quận Tương Dương. Liêu Hóa, Dương Nghi và những người khác là viên chức của phủ Thái thú, và bản thân Lưu Bị đóng vai trò Kinh Châu mục. Tiểu sử của Phan Tuấn ghi lại các công việc của ông khi còn phục vụ trong chính quyền Lưu Bị. Lưu Bị đã "đảm nhiệm" vai trò Châu mục của 3 châu cùng một lúc. Phan Tuấn hỗ trợ ông với tư cách là Trị trung của Kinh Châu, trong khi Hoàng Quyền là Trị trung của Ích Châu. Sau khi Lưu Bị chiếm được Thành Đô, ông đã yêu cầu Quan Vũ giám sát sự vụ ở Kinh Châu. Cần nhớ rằng Quan Vũ được ông yêu cầu chỉ huy châu này thay vì chính ông, Kinh Châu mục.

Những sắp xếp tương tự trở nên tương đối phổ biến trong thời kỳ của Lưu Bị. Ví dụ, Đặng Phương, Thái thú Chu Đề, được bổ nhiệm làm chỉ huy vùng Nam Trung, bao gồm nhiều quận, và Ngụy Diên, Thái thú Hán Trung, được bổ nhiệm giúp Bị giám sát Hán Trung. Sự sắp xếp này cũng có thể được coi là mở rộng thêm quyền hạn của Ngụy Diên, trong khi hoàn cảnh của Quan Vũ và Đặng Phương nom có vẻ bất lực. Trên thực tế, sau khi Lưu Bị xưng làm Hoàng đế, ông ta đã ngay lập tức bổ nhiệm Lý Khôi, Đô đốc Lai Giáng làm Thứ sử Giao Châu. Nếu Quan Vũ sống đến lúc đó, ông ta chắc chắn sẽ trở thành Thứ sử Kinh Châu hoặc thậm chí là Châu mục.

Tuy nhiên, sự sắp xếp nhân sự như vậy có thể dễ dàng làm gia tăng xung đột giữa Quan Vũ và các đồng sự của ông ta, bởi vì ông ta chỉ là một Thái thú đồng cấp với My [Phương], và ông ta không phải là cấp trên chính thức của Phan Tuấn. Mặc dù ông ta có quyền quản lý My Phương và những người còn lại, nhưng nếu xảy ra xung đột, Quan Vũ không thể dễ dàng trấn áp họ. Ví dụ, Thái thú Nhữ Nam của Tào Ngụy là Điền Dự được ban Giả tiết + đã từng giám sát quân đội Thanh Châu tấn công thủy quân của Tôn Quyền. Kết quả là, Thứ sử Thanh Châu dưới quyền giám sát của ông là Trình Hỷ đã nảy sinh bất đồng quan điểm với ông và cảm thấy bất mãn. Ông đã luận tội Điền Dự, khiến Điền Dự không được thưởng sau khi chiến sự kết thúc. Ngụy Diên cũng đã cãi nhau với Lưu Diễm.

Không chỉ cùng cấp, mà ngay cả giữa cấp trên và cấp dưới thông thường, cũng khó có thể trực tiếp đàn áp họ. Ví dụ, sứ quân Thanh Châu của Tào Ngụy + phụ trách các đội quân Từ là Hoàn Phạm, và Thứ sử Từ Châu là Trâu Kỳ đã cãi nhau khi phân chia quyền lực. Hoàn Phạm muốn dùng thẩm quyền của mình để giết Trâu Kỳ nhưng triều đình cho rằng quyết định của Hoàn Phạm là không công bằng, vì vậy Hoàn Phạm đã bị cách chức.

Quan Vũ, My Phương, Phan Tuấn và những người khác chẳng những cùng một trạm mà còn cùng một "cấp", vì vậy việc xảy ra xung đột tương tự như trên là khá bình thường. Ví dụ, khi Võ Chu chỉ huy Hạ Bì, cấp dưới của Thứ sử Tang Bá đã vi phạm pháp luật, và Võ Chu đã thẩm vấn người này đến chết, nhưng [Tang Bá] đã không làm nhục Võ Chu vì điều này, và [Võ Chu] sau đó đã có xung đột với Trương Liêu khi ông ta trở thành giám sát viên của Trương Liêu. Trương Liêu cũng yêu cầu thay thế Võ Chu. Xung đột giữa Quan Vũ và các đồng nghiệp của ông khó có thể khôi phục, và [do thiếu tư liệu lịch sử] không thể biết rõ rằng Quan Vũ đang làm ăn tử tế hay áp bức các đồng nghiệp của mình. Tuy nhiên, những sự sắp xếp tạm bợ như vậy vì nhu cầu tiện lợi rõ ràng không thể cho phép Quan Vũ gom đủ tiếng nói ở Kinh Châu. Cũng khó để nắm bắt tình hình ở Kinh Châu. Khi Quan Vũ bị đánh bại, trách nhiệm tự nhiên được sử sách đẩy sang ông, bởi vậy "phần kiêu ngạo" trong tính cách của Quan Vũ đã được thổi phồng không giới hạn.

Ngoài ra, Mạnh Đạt, người đã tấn công ba quận phía Đông, là Thái thú Nghi Đô vào thời điểm đó, và Nghi Đô thuộc lãnh thổ của Kinh Châu. Tuy nhiên, theo tiểu sử của Tiên chủ, có ghi chép rằng Mạnh Đạt được Lưu Bị phái đi đánh ba quận phía Đông, không phải do Quan Vũ. Quan Vũ sau đó đã phái Mạnh Đạt và Lưu Phong đến tiếp viện nhưng cũng bị từ chối tiếp viện. Thái thú Thượng Dung, một trong ba quận phía Đông là Thân Đam, Thái thú Tây Thành là Thân Nghi, và tiểu sử của Lục Tốn ghi lại rằng ông đã đánh bại Thái thú Phòng Lăng [Đặng Phụ]. Ngay cả Lục Tốn cũng có thể dẫn quân đánh 3 quận phía Đông, nhưng họ lại từ chối yêu cầu giúp đỡ của Quan Vũ đang ở ngay gần đó. Điều này cho thấy hoạt động của tập đoàn Lưu Bị thực ra cũng tương đối gần với khuôn mẫu thông thường vào thời điểm đó, và Quan Vũ không thể muốn làm gì thì làm.

b) Lưu Bị chắc chắn phải chịu một phần trách nhiệm vì ông đã không gửi bất kỳ quân tiếp viện nào cho Quan Vũ khi Quan Vũ chỉ nắm 3 quận khi phải chiến đấu với nhiều châu của Tào Ngụy. Lưu Bị có ít nhất 3 con đường tốt hơn để lựa chọn, từ rủi ro cao nhất đến rủi ro thấp nhất:

1. Tấn công Quan Hữu trong khi Quan Đông đang bận đối phó với mối hiểm họa là Quan Vũ nhằm giúp thu hút bớt một số quân tiếp viện đang vội vã giải cứu Tào Nhân.

2. Yêu cầu Lưu Phong và Mạnh Đạt tuân theo lệnh của Quan Vũ.

3. Gửi hàng nghìn quân đến Kinh Nam để tăng cường phòng thủ / hỗ trợ hậu cần.

Nhưng tất cả những gì Lưu Bị làm trong lịch sử chỉ là ngồi ở Thành Đô và khoanh tay đứng nhìn. Tào Tháo đã chế giễu Lưu Bị là "chậm tiêu" và về khía cạnh này, ông chắc chắn không sai.
 
VỀ KINH CHÂU [1]

HanWsh trả lời:

a) Nhìn nhanh qua những nhân vật đáng chú ý mà Lưu Bị để lại ở Kinh Nam:

Sĩ Nhân đến từ quận Trác, cùng quê với Trương Phi và Lưu Bị, và rất có khả năng là người đã theo Lưu Bị từ lâu.

My Phương là anh rể [cựu] của Lưu Bị và trước đó đã từ chối lời đề nghị trở thành Thái thú quận dưới quyền Tào Tháo, chọn ở lại với Lưu Bị và trở thành bộ hạ của ông, do đó đã chứng minh được lòng trung thành của mình khi Lưu Bị mới còn là cấp dưới của Tào Tháo.

Phan Tuấn trở thành một trong Cửu khanh và Huyện hầu ở Tôn Ngô.

Lưu Phong là con nuôi của Lưu Bị, nổi tiếng vì lòng dũng cảm và đã phục vụ xuất sắc trong các chiến dịch bờ Tây của Lưu Bị.

Mạnh Đạt là một trong những người ủng hộ Lưu Bị sớm nhất ở Ích Châu, cùng với Pháp Chính và Trương Tùng, và ông được Tào Phi ngưỡng mộ vì tài năng của mình.

Liêu Hóa trở thành một viên chức cấp cao của Thục Hán và từng đánh bại Quách Hoài với tư cách là tướng chỉ huy trong khi đang ở thế bất lợi.

Tôi sẽ không gọi những kẻ này là "yếu kém".

Quan Vũ là Tiền Tướng quân của Lưu Bị kiêm Thái thú quận Tương Dương cộng thêm Đổng đốc Kinh Châu sự (thẩm quyền giám sát và chỉ huy mọi công việc ở Kinh Châu) và được ban Giả tiết kích (quyền ban lệnh mà không cần xin ý kiến của quân chủ, thường là "sát").

Ngay cả khi đó, vị thế của Quan Vũ ở Kinh Châu thực sự vẫn còn tương đối xấu hổ. Vì bản thân Lưu Bị chỉ là một Châu mục, Quan Vũ không thể được đặt ngang hàng với Lưu Bị, vì vậy chức vụ chính thức của ông là Thái thú quận Tương Dương. Liêu Hóa, Dương Nghi và những người khác là viên chức của phủ Thái thú, và bản thân Lưu Bị đóng vai trò Kinh Châu mục. Tiểu sử của Phan Tuấn ghi lại các công việc của ông khi còn phục vụ trong chính quyền Lưu Bị. Lưu Bị đã "đảm nhiệm" vai trò Châu mục của 3 châu cùng một lúc. Phan Tuấn hỗ trợ ông với tư cách là Trị trung của Kinh Châu, trong khi Hoàng Quyền là Trị trung của Ích Châu. Sau khi Lưu Bị chiếm được Thành Đô, ông đã yêu cầu Quan Vũ giám sát sự vụ ở Kinh Châu. Cần nhớ rằng Quan Vũ được ông yêu cầu chỉ huy châu này thay vì chính ông, Kinh Châu mục.

Những sắp xếp tương tự trở nên tương đối phổ biến trong thời kỳ của Lưu Bị. Ví dụ, Đặng Phương, Thái thú Chu Đề, được bổ nhiệm làm chỉ huy vùng Nam Trung, bao gồm nhiều quận, và Ngụy Diên, Thái thú Hán Trung, được bổ nhiệm giúp Bị giám sát Hán Trung. Sự sắp xếp này cũng có thể được coi là mở rộng thêm quyền hạn của Ngụy Diên, trong khi hoàn cảnh của Quan Vũ và Đặng Phương nom có vẻ bất lực. Trên thực tế, sau khi Lưu Bị xưng làm Hoàng đế, ông ta đã ngay lập tức bổ nhiệm Lý Khôi, Đô đốc Lai Giáng làm Thứ sử Giao Châu. Nếu Quan Vũ sống đến lúc đó, ông ta chắc chắn sẽ trở thành Thứ sử Kinh Châu hoặc thậm chí là Châu mục.

Tuy nhiên, sự sắp xếp nhân sự như vậy có thể dễ dàng làm gia tăng xung đột giữa Quan Vũ và các đồng sự của ông ta, bởi vì ông ta chỉ là một Thái thú đồng cấp với My [Phương], và ông ta không phải là cấp trên chính thức của Phan Tuấn. Mặc dù ông ta có quyền quản lý My Phương và những người còn lại, nhưng nếu xảy ra xung đột, Quan Vũ không thể dễ dàng trấn áp họ. Ví dụ, Thái thú Nhữ Nam của Tào Ngụy là Điền Dự được ban Giả tiết + đã từng giám sát quân đội Thanh Châu tấn công thủy quân của Tôn Quyền. Kết quả là, Thứ sử Thanh Châu dưới quyền giám sát của ông là Trình Hỷ đã nảy sinh bất đồng quan điểm với ông và cảm thấy bất mãn. Ông đã luận tội Điền Dự, khiến Điền Dự không được thưởng sau khi chiến sự kết thúc. Ngụy Diên cũng đã cãi nhau với Lưu Diễm.

Không chỉ cùng cấp, mà ngay cả giữa cấp trên và cấp dưới thông thường, cũng khó có thể trực tiếp đàn áp họ. Ví dụ, sứ quân Thanh Châu của Tào Ngụy + phụ trách các đội quân Từ là Hoàn Phạm, và Thứ sử Từ Châu là Trâu Kỳ đã cãi nhau khi phân chia quyền lực. Hoàn Phạm muốn dùng thẩm quyền của mình để giết Trâu Kỳ nhưng triều đình cho rằng quyết định của Hoàn Phạm là không công bằng, vì vậy Hoàn Phạm đã bị cách chức.

Quan Vũ, My Phương, Phan Tuấn và những người khác chẳng những cùng một trạm mà còn cùng một "cấp", vì vậy việc xảy ra xung đột tương tự như trên là khá bình thường. Ví dụ, khi Võ Chu chỉ huy Hạ Bì, cấp dưới của Thứ sử Tang Bá đã vi phạm pháp luật, và Võ Chu đã thẩm vấn người này đến chết, nhưng [Tang Bá] đã không làm nhục Võ Chu vì điều này, và [Võ Chu] sau đó đã có xung đột với Trương Liêu khi ông ta trở thành giám sát viên của Trương Liêu. Trương Liêu cũng yêu cầu thay thế Võ Chu. Xung đột giữa Quan Vũ và các đồng nghiệp của ông khó có thể khôi phục, và [do thiếu tư liệu lịch sử] không thể biết rõ rằng Quan Vũ đang làm ăn tử tế hay áp bức các đồng nghiệp của mình. Tuy nhiên, những sự sắp xếp tạm bợ như vậy vì nhu cầu tiện lợi rõ ràng không thể cho phép Quan Vũ gom đủ tiếng nói ở Kinh Châu. Cũng khó để nắm bắt tình hình ở Kinh Châu. Khi Quan Vũ bị đánh bại, trách nhiệm tự nhiên được sử sách đẩy sang ông, bởi vậy "phần kiêu ngạo" trong tính cách của Quan Vũ đã được thổi phồng không giới hạn.

Ngoài ra, Mạnh Đạt, người đã tấn công ba quận phía Đông, là Thái thú Nghi Đô vào thời điểm đó, và Nghi Đô thuộc lãnh thổ của Kinh Châu. Tuy nhiên, theo tiểu sử của Tiên chủ, có ghi chép rằng Mạnh Đạt được Lưu Bị phái đi đánh ba quận phía Đông, không phải do Quan Vũ. Quan Vũ sau đó đã phái Mạnh Đạt và Lưu Phong đến tiếp viện nhưng cũng bị từ chối tiếp viện. Thái thú Thượng Dung, một trong ba quận phía Đông là Thân Đam, Thái thú Tây Thành là Thân Nghi, và tiểu sử của Lục Tốn ghi lại rằng ông đã đánh bại Thái thú Phòng Lăng [Đặng Phụ]. Ngay cả Lục Tốn cũng có thể dẫn quân đánh 3 quận phía Đông, nhưng họ lại từ chối yêu cầu giúp đỡ của Quan Vũ đang ở ngay gần đó. Điều này cho thấy hoạt động của tập đoàn Lưu Bị thực ra cũng tương đối gần với khuôn mẫu thông thường vào thời điểm đó, và Quan Vũ không thể muốn làm gì thì làm.

b) Lưu Bị chắc chắn phải chịu một phần trách nhiệm vì ông đã không gửi bất kỳ quân tiếp viện nào cho Quan Vũ khi Quan Vũ chỉ nắm 3 quận khi phải chiến đấu với nhiều châu của Tào Ngụy. Lưu Bị có ít nhất 3 con đường tốt hơn để lựa chọn, từ rủi ro cao nhất đến rủi ro thấp nhất:

1. Tấn công Quan Hữu trong khi Quan Đông đang bận đối phó với mối hiểm họa là Quan Vũ nhằm giúp thu hút bớt một số quân tiếp viện đang vội vã giải cứu Tào Nhân.

2. Yêu cầu Lưu Phong và Mạnh Đạt tuân theo lệnh của Quan Vũ.

3. Gửi hàng nghìn quân đến Kinh Nam để tăng cường phòng thủ / hỗ trợ hậu cần.

Nhưng tất cả những gì Lưu Bị làm trong lịch sử chỉ là ngồi ở Thành Đô và khoanh tay đứng nhìn. Tào Tháo đã chế giễu Lưu Bị là "chậm tiêu" và về khía cạnh này, ông chắc chắn không sai.
Có 1 vấn đề tôi cần tìm hiểu thêm là chiến dịch Tương Phàn của Vũ, tại sao nhà Thục lại án binh bất động lâu vậy khi mà chiến dịch kéo dài 6 tháng, Lưu Phong sao lại hành xử tệ như vậy? Một đại chiến dịch to đến như vậy mà cảm giác Thành Đô mặc kệ cho Vũ quẩy 1 mình vậy, không có chút lo lắng nào, hoặc ít nhất cũng cử người ra đề phòng Ngô chứ :D

Theo tôi góp nhặt được thì có hai lý do:
  • Một là, phía Thục vừa đánh một chiến dịch lớn ở Hán Trung, tuy thắng nhưng cần phải củng cố lực lượng, không thể lại xuất quân ngay, chưa kể tình hình Tây Xuyên vẫn không thực sự ổn định (đây là điều ám ảnh cả Thục Hán và Gia Cát Lượng đến mãi về sau).
  • Hai là, có thể tóm tắt trong mấy chữ "tham thắng không biết thua". Cũng giống như Quan Vũ chưa bao giờ nghĩa mình sẽ thất bại, triều đình Thành Đô toàn nhận tin chiến thắng nên chủ quan, đến lúc nhận tin (Quan Vũ) bại trận thì đã quá muộn. Bên cạnh đó, phía Thục mặc dù vẫn luôn đề phòng Ngô nhưng đã không lường được một hành động phản bội đột ngột như vậy.
Ngoài ra, có một số thuyết âm mưu kiểu như Lưu Bị/ Gia Cát Lượng muốn loại bỏ Quan Vũ. Tôi chẳng tin lắm, giả sử có ý đồ này thật thì cũng không thể bỏ cả Kinh Châu chỉ để đổi mạng Quan Vũ được.
Điều tôi thắc mắc hơn là:
1. Chiến lược lâu dài của Gia Cát đối với Kinh Châu là gì, vì đây giống như một cái gai trong quan hệ Thục - Ngô vậy, không sớm thì muộn cũng phát tác?
2. Nếu Quan Vũ muốn đánh Tương - Phàn tại sao không đánh sớm hơn, để phối hợp với chiến dịch Hán Trung (Gia Cát từ đầu đã đề ra sách lược kẹp binh hai đường này)? Và
3. Nếu Thục đánh như vậy thật thì bên Tào có chống nổi không (tạm bỏ qua vai trò của Ngô)?
Với cá nhân mình thì rất thích trận Tương Phàn này trong thời kì này, về việc thế các bên trước trận này , mình co post dưới . Về chi tiết thì để ráng góp nhặt, nhưng tựu chung lý do: quân Ngô trở cờ bất ngờ và khi biết tin thì Luu Bị thì đơn giản là "nước xa ko cứu dc lửa gần" .
Nói chung về trận Tương Phàn, có vài thứ hay hơn các trận đánh cùng thời:
Cá nhân Thục hay Ngô đều ko đủ lực, mà 2 nc bé hơn thì phải hợp tung với nhau đánh thằng lớn là ngụy. Và cơ hội phá Ngụy duy nhất là lúc Vũ râu phá Vu Cấm kìa, vì nhìn thế cục trận Tương-Phàn cơ hội trăm năm có một để phá Ngụy

215, sau khi Tào Tháo phá dc Hán Trung thì quay về ( giết Dương TU)
215-217, Tào Tháo xứng Ngụy Vương, cho Phi làm thế tử , tại thời điểm này phía Ngụy nó đã tự phân hóa rồi,vì đám bảo hoàng vẫn còn (ủng hộ nhà hán): Tuân Úc, Mao Giới, Thôi diễm ,... các thượng thư này đều bị cho dẹo cả. Còn đám quan địa phương thì vẫn còn mầm mống bảo hoàng đầy ra.
217-218: Tào Tháo bại trận ở Hán Trung,
218: Nội loạn ở Uyển Thành (Nam Dương)
219:Quan Vũ ra quân, vây Tương - Phàn, phá Vu Cấm, hàng loạt lực lượng địa phương quanh khu vực này nổi dậy hưởng ứng Quan Vũ.
Chính TQC của trần thọ cũng ghi "uy chấn Hoa Hạ, Tào Tháo muốn dời đô". Ở đây nghĩa là Vũ râu mà tiến tới dc Hứa Đô (vua Hán ở), thì lực lượng bảo hoàng còn âm ỉ nó hùa nhau quật chết Tháo ngay.

Ngụy lúc này :
  • Vừa liên tục bại trận từ Hán Trung tới Tương-Phàn
  • Tháo thì già, hết uy phong rồi
  • Đầu năm 219, Tư lệnh miền tây là Hạ Hầu Uyên bị chém chết, giữa năm 219 thì tư lệnh miền trung là Tào Nhân bị vây ráp, dễ thành Hạ Hầu Uyên thứ 2. Thất bại domino kiểu này ko có sĩ khí nào giữ nổi đâu.
  • Đại tướng quân đầu triều là Vu Cấm đem quân chủ lực trợ chiến thì bị bắt sống. Toàn bộ binh Cấm cầm (7 đạo quân) là tinh binh phương bắc cả. Riêng quân bị bát tù binh là 3 vạn cả thảy, chưa tính số chết đuối.
  • Nội bộ bắc Ngụy thì chia rẽ: phe phò Hán và phò Ngụy. Hàng loạt đại thần từ xưa bị thanh trừng liên tục, kẻ ko phục ẩn mình nhìu vô kể

Lúc này mà Ngô chọt 1 phát ở Hợp Phì , cùng Vũ Râu tiến về Hứa Xương phò Hán đế thì tự động đất Ngụy tan rã thôi.
Xem tệp đính kèm 2902381
 
Thực ra Thục chủ cũng ko ở xa tới mức ko gửi quân tới được, nhưng đúng theo Tào Tháo đánh giá, nếu tướng của anh đi đánh mấy tháng vẫn chưa về được mà anh không tính toàn gửi thêm binh tiếp viện thì đích xác là "chậm tiêu", nhất là đoạn Vũ phải rút về, khi đó viện binh bảo vệ đường lui có thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu mạng Vũ.
 
Trận Tương Phàn (tháng 7 - 219)

I. Bối cảnh:
  • Lưu bị đã có được Tứ Xuyên, mở rộng thế lực
  • Tào Tháo thì sau khi xưng Ngụy công 213 đã là quá đáng lắm rồi (đặt đô ở Nghiệp Thành, thành ra nước Ngụy (Nghiệp) trong nước Hán (Hứa đô). Dến 216 thì lên làm Ngụy vương, lam giot nuoc tran ly ,cac Hán thân đứng đầu là Tuân Úc bị trừ khử (kéo theo các đại thần Mao Giới , Thôi Diễm cũng bi chém) trong cùng năm 216, gây nên tình trạng phân hóa nội bộ nghiêm trọng (Hán vs Ngụy). Tuy nhiên vì Tháo vẫn nắm quân đội và chiến thắng liên tiếp (phá Mã Siêu , dẹp Trương Lỗ , tí nữa giết dc Tôn Quyền ở Hợp Phì) nên mọi thứ vẫn êm đẹp .
  • Quan Vũ trị sở các quận nam Kinh châu dc 6 năm (mỗi phe dc 3 quận), đồn trại quân sĩ dc huấn luyện tốt, các phong hòa đài dc xây dựng để bố phòng, nhất là thủy quân dc cbi rất lưỡng. Ngoài khả năng trị sở và luyện quân , Vũ còn liên kết với các lực lượng bảo hoàng ở Ngụy để cùng nhau phục hưng Hán Thất (nhất là khi Tào xưng Ngụy Vương) .
217 - 218 : Luu bi chiếm dc một phần Hán Trung, cự nhau với Chinh Tây tướng quân Hà Hầu Uyên
Tháng 10 - 218, Hầu Âm nổi loạn ở Uyển Thành (Nam Dương , bắc tương dương trong hình), với lý do bảo hoàng nhà Hán, . Tào nhân dc cử tới, chức Chinh Nam tương quân, sau khi diệt dc Hầu âm thì Đồ SÁT cả thành để răn đe các nơi khác , rồi quay về Tương Phàn


Tháng 1 219. , Chinh Tây tướng quân Hà Hầu Uyên tử trận ở Hán Trung , buộc Tháo phải đích thân ra quân tới Hán Trung . Trận Hán Trung tốn rất nhiều tài lực của Ngụy ở phía Tây, dc ví là "gân gà"
Thang 5 219 . Tháo thất bại và bỏ Hán Trung vì quá hao tài lực, phải lui về Trường An, cử Bàng Đức về mặt trận phía nam .
1740904766995.png
Ảnh màn hình 2025-10-08 lúc 14.51.06.png

II. Diễn Biến
Tháng 7 219
, Vũ râu được phong Tiền tướng quân, cầm giả tiết việt, tự lãnh quân bản bộ nam Kinh châu, khởi binh từ Giang Lăng , bắc tiến Tương Phàn , yêu cầu Mạnh Đạt- Luu Phong từ Phòng Lăng đông tiến hỗ trợ , nhưng bị từ chối.

Vũ nắm 3 quận thì và tự hô là có tổng cộng 3 vạn thủy bộ (1 vạn/quận dc coi là tổng động viên). Thì Vũ râu có thể huy động tối đa 2 vạn để tấn công Tương Phàn , 1 vạn còn lại để thủ base và vận lương.

Vi trí :
  • Tương dương : năm ở phía nam bờ sông ở hình sau
  • Phàn Thành : nằm ở phía bắc bờ sông (vùng khoanh trong hình)
  • (*) Tương Dương - Phàn Thành thực chất là 1 cụm thành trì có còn sông cắt ngang qua , giống Long Biên - Hoàn Kiếm
    Screenshot 2025-08-22 at 09.40.47.png

Theo quan chế thời nay thì tước Vương (hán trung vương Bị, ngụy Vương tháo) thì tối đa chỉ dc phong Tiền Tả Hữu Hậu trướng quân, dưới 1 bậc là tứ Chính tứ Trấn (Chính đông, trấn đông) , dưới nữa thì là Thảo Lỗ hay Đãng Khấu. Với phe Thục thì ai coi diễn nghĩa đều biết rồi, nhưng còn bên Ngụy thì ít thông tin hơn , nhưng tông hợp thì trước và sau thời điểm trận Tương Phàn thì
Tier 1
  • Tiền tướng quân Hạ hầu Đôn -> thân tộc, lâu rồi k cầm quân ,cả đời cũng ko có trận nào nổi bật tự làm tướng
  • Tả tướng quân Vu Cấm -> Ngoại tộc, cầm giả tiết việt, là người thực tế cầm quân chủ lực trung tâm của nước Ngụy .
  • Hữu tướng quân Nhạc Tiến -> chết 218 . Sau chiến dịch tương Phàn thì Từ Hoảng nắm chức này
  • Hậu tướng quân , khuyết (chưa biết là ai). Sau chiến dịch tương Phàn thì là Chu Linh
Tier 2
- Chinh Tây tướng quân : Hạ Hầu Uyên , đóng tại Hán Trung
- Chinh Nam tương quân : Tào Nhân , đóng tại Nam Dương, uyển thành.
- Chinh Đông tướng quân : Trương Liêu, đóng tại Hợp Phì (Tư lệnh đời trước : HHD-> Nhạc Tiến, rồi mới tới Liêu )
giả tiết : dc chem tướng bất tuân lệnh , dc huy động quân đội trong phạm vi quản lý của người cầm
*giả tiết việt : kiểu thượng phương bảo kiếm, được quyền chém bất kì ai kể cả người cầm giả tiết; nhung quan trọng nhất là quyền được điều động quân đội ở bất kì nơi nào.
-> Giả tiết dc ban nhìu, thường là cho tướng biên thùy. Còn giả tiết việt thường ko dc ban, Phe Ngụy thì chỉ có duy nhất Vu Cấm dc ban , Thục thì có Vũ râu (Trước kia thì có Đổng Trác "tự ban cho bản thân"). Đại ý là tự tín nhiệm của quân chủ dành cho thần tử, thường là 0 ban cho ai , hoặc chỉ có 1 người .
  • Tào Nhân chắc chắn đã ra đối trận với Vũ râu nhưng có lẽ đã thất thế nên bị buộc lui về thành cố thủ, bắn tin về triều gọi tiếp viện. Nên nhớ là quân số của Nhân ko thể ít hơn Vũ râu được vì trị sở Vũ nhỏ hơn phần Kinh châu của Ngụy rất nhiều , vùng Nam Dương là vùng trù phú nhất của Kinh Châu lúc đó.
  • Thêm nữa chức của Nhân là Chinh Nam (chứ ko phải trấn nam) , tức là nhiệm vụ chính là đi đánh Vũ , muốn đánh thì tất Nhân đã có cbi chứ ko phải hớ hênh; nhưng thế quái nào lại bị Vũ nhốt lại trong Phàn Thành. Sử ko có ghi chép nhìu về trận này, tức là Vũ phá dc Nhân quá dễ dàng ,chỉ có thể nói là khả năng đối trận của Vũ râu quá out trình Nhân.
  • Về phía Ngụy thì sau 2 lần bại trận ở phía Hán Trung thì nguồn lực bên này đã ko còn , phía Đông thì vẫn cần để chống Ngô. Nên chỉ có thể cầm tinh binh chủ lực tiến từ Hứa đô xuống nam, tổng cộng là thất quân(= 7 đạo quân) sai Vu Cấm chỉ huy
Vũ râu như đã nói ở trên là có khoảng 2 vạn thủy bộ để tấn công
- Bao gồm hỗn hợp, cả quân chính quy và linh tân binh tổng động viên.
20.000

Tào Nhân thì chắc khoảng 2 vạn quân bản bộ ở Kinh Châu ,bao gồm có thêm quân từ quận Nhữ Nam do Mãn sũng tới giúp.
20.000

Vu Cấm lãnh Thất Quân xuống đóng trại ở bắc Phàn Thành. Theo như biên chế thời đó thì 1 Quân = 5000, vậy thất quân thì tầm 35.000 quân . Nhưng quan trọng hơn cả là lính này là loại lính chủ lực được tuyển chọn toàn quốc, là tinh binh chủ lực cấp sư đoàn, được huấn luyện kỹ càng và trang bị tốt hơn lính hỗn hợp địa phương quân (chính quy + tân binh tổng động viên) của Quan Vũ.
35.000 tinh binh

Về sau trong Tôn Quyền truyện có nói là Quan Vũ bắt dc 3 vạn hàng binh, tức là nếu tính số người chết thì tổng quân số của linh Ngụy ngoài Phàn Thành phải hơn 4 vạn.

Nói chung là Quan Vũ dùng 20.000 đi tấn công 1 đội quân x3 và có chất lượng binh sĩ lẫn trang bị tốt hơn .
Từ ngày Tháo lên Ngụy Vương thì toàn thất thế ngoài chiến trường, nên việc huy động một lực lượng lớn như thất quân và chỉ định Vu Cấm nam hạ là rõ ràng muốn có một chiến thắng quân sự để thốc lại tinh thần binh sĩ .

Tháng 8 219 , Quan Vũ thuận thế nước diệt 7 đạo quân của Vu Cấm. Quan Vũ uy chấn hoa hạ.

Nhiều người nói Vũ ăn may nên gặp lũ , nhưng chúng ta nên nhìn nhận vài điều :
  • Vùng Kinh Châu là đất ngàn hồ , nằm giữa 2 sông lớn , việc lũ lên và xuống là việc khá phổ biến ở vùng này . Nên kị binh gặp bất lợi ở đây, ngược lại thì thủy binh lại cực kì cần thiết .
  • Vũ là bên tấn công , nói về thiên tượng thì đáng lẽ Tào Nhân và binh thủ thành mới là bên biết rõ hơn về thủy thổ địa hình Tương Phàn chứ không phải Vũ
  • Cứ cho là thiên tượng kì lạ vượt ngoài dự đoán của cả 2 bên, thì câu hỏi là tại sao chỉ có phe Ngụy bị nước dìm trong khi Vũ lại ung dung, có sẵn thuyền chiến tránh được lũ . Rõ ràng Vũ đã có sự cbi rất kĩ càng cho trận chiến này , hoặc ít nhất là Vũ rất giỏi ứng biến trước sự thay đổi bất ngờ của chiến sự
  • Bảy đạo quân cua Vu cấm là tinh binh đại Ngụy như đã nói ở trên, việc toàn quân bị xóa sổ mà phía Vũ ko thiệt hại quá nhiều là đại thành công , trong lich sử tq khó có trận nào đạt được đẳng cấp như thế : phá được địch đông đã đành nhưng thiệt hại lại cực ít . Tháo thắng Quan Độ hay Du phá Xich Bích thì đều tổn hại nhìu, 2 năm sau mới đủ lực tiếp tục . Việc đánh trận thì mất 50% quân số đã được coi là thảm bại, nhưng ít ra còn có thể mộ binh tái lập;
  • Trên hết là việc Vu Cấm hàng là chấn động thiên hạ , giống như Chu Du , Lã Mông bị bắt sống và đầu hàng ấy, theo người đương thời thì đơn giản là không thể tin được.
  • Sau trận này thì Hoảng phải đi mộ tân binh ở Uyển thành, có nghĩa là toàn bộ quân số từ Kinh châu - Dự Châu và Lạc dương-Hứa Đô của Ngụy đã ko còn ai. Lã Kiền đóng ở tận Thái Sơn (thuộc Thanh Châu xa xôi ở phía đông) dc điều xuống hỗ trợ , đồng nghĩa với việc Vũ râu chỉ dùng 3 quận mà phá dc quân số hơn 2 châu của Ngụy quốc (= ít nhất 1/4 binh lực nước Ngụy , trong đó có chủ lực trung tâm của Vu Cấm)

Bên Ngô: tuy Vũ dẫn quân chủ lực bắc tiến rồi nhưng bố phòng ở Giang Lăng vẫn rất tốt, Lã Mông (lúc này đang là đô đôc) nhìn thèm nhưng ko dám đánh mà lại từ chức, cho áo vải sĩ tộc là Tốn ra thay, dc ghi chep nhu sau :

Sau Quan Vũ đánh đất Phàn, để quân tướng ở lại giữ Công An, Nam Quận. Mông dâng sớ nói:

Vũ đánh đất Phàn mà để nhiều quân ở lại phòng giữ, chỉ là sợ Mông đánh úp mặt sau mà thôi. Mông thường mắc bệnh, xinchia quân sĩ về Kiến Nghiệp, lấy cớ là chữa bệnh. Vũ nghe tin, tất rút quânphòng giữ đem hết đến Tương Dương. Đại quân đi ngược sông, ngày đêmlên đầu nguồn, đánh úp đất vắng thì Nam Quận tất chiếm được, lại bắt đượcVũ vậy”.
- Lã Mông truyện

Mông nói: Vũ vốn dũng mãnh, khó mà địch nổi, lại đã giữ Kinh Châu, ân tín trùm khắp, thêm có công lớn, thế lực thêm mạnh, không dễ đánh vậy”.

Mông đến kinh, Quyền hỏi rằng: “Người nào thay khanh được”?

Mông đáp nói: “Lục Tốn suy nghĩ sâu xa, có tài gánh vác việc lớn, xem mưu lược củahắn, có thể cho giữ chức cao. Lại chưa có tiếng xa, không bị Vũ nghi ngờ,không ai hợp hơn. Nếu dùng hắn, nên sai tự che đậy ở ngoài, xét sửa ở trongrồi mới thắng được”.
Quyền bèn gọi Tốn về, bái Thiên Tướng quân, Hữu bộ đốc thay Mông.

- Lục Tôn truyện



Tháng 9 219

Hậu phương Ngụy:

  • Ở Nghiệp thành , kinh đô Ngụy quốc đang do Tào Phi trấn giữ, thì Ngụy Phúng xách động nổi loạn, bảo hoàng ủng hộ Hán triều => bị chém hết. Trong đám nổi loạn thì có con của Vương Xán (kiến an thất tử), và tướng trẻ Văn Khâm (về sau 2 lần binh biến chống Tư mã). Tướng quốc Chung Do (cha Chung Hội) bị bãi chức. Cũng như vụ Hầu Âm ở phía trên, ghi chép rất ít, có vẻ sử gia ko dc phép chép nhìu về các vụ nổi dậy bảo hoàng nhà Hán.
  • Táo lúc về Nghiệp thành thì hung tin từ Tương Phàn gửi về, sợ qua định thiên đô. Nhưng sau đó thì bắt đầu liên minh Ngô,
  • Từ Hoảng dc lệnh tiếp viện, nhưng binh địa phương ko còn (đi cùng Nhân và Cấm), thì mộ tân binh ở quanh Nam Dương (Uyển thành), và đợi quân ở các địa phương khác là Lã Kiền và Chu Cái tới (riêng Chu Cái là 20 doanh ~ 1 vạn ). Tháo sẽ dẫn đại quân theo sau
  • Trương Liêu dc lênh sẵn sàng dc điều động từ phía đông sang tiếp viện (aka phòng tuyến Hợp Phì bị giảm đi)

Tiền tuyến


  • Quân trong Phàn Thành mất nhuệ khi trầm trọng, Nhân định bỏ thành. Sau khi Mãn Sung khuyên thì chém ngựa tử thủ, ra lệnh tổng động viên ,vet hết đàn ông kể cả người già và thiếu niên , dc 1 vạn quân để tử thủ.
  • Các tướng Tào khác gồm thứ sử Kinh châu là Hồ Tu, thái thú Nam Hương , Nam Dương đều đầu hàng Quan Vũ , Các xứ Lương, Giáp, Lục ( các đất gần hứa đô ) đều có ý ngấm ngầm hưởng ứng Vũ, kết lập bè đảng, Vũ oai chấn cả Hoa Hạ" - Quan Vũ truyện
  • Toàn bộ nam Hứa Xướng hàng và hưởng ứng Vũ hết. Chính Mãn Sũng cũng xác nhận là "mất Phàn Thành thì nam Hoàng Hà sẽ coi như mất "


Nếu ngày xưa Viên Thiệu đại bại Quan Độ, dau buồn mà qua đời kéo theo sự tan rã của nhà họ Viên do 3 con tranh giành lẫn nhau thì lúc này tình hình của Tào Tháo càng tệ hơn.
  • Quân sự : Đầu năm thì Hạ Hầu Uyên tử trận, Giữa năm thì đích thân Tháo thua trận, đại tướng đầu triều Vu Cấm cùng quân đoàn chủ lực bị bắt sống cả. Tào Nhân thì cũng cbi bị bắt sống hoặc tử trận cùng thành.Tất cả uy danh rường cột trong quân doanh Ngụy quốc mất hết trong chỉ vài tháng ngắn ngủi , sự đổ vỡ dây chuyền là hiển hiện trước mắt .
  • Nội trị: trong triều thì từ lúc lập Ngụy vài năm trước thì đã phân hóa kẻ theo Ngụy, người theo Hán (Quan Vũ dương cao ngọn cờ Hán Thọ Đình Hầu do Hán đế ban cho) , các vùng phụ cận Hứa Đô vùng lên theo hiệu triệu của quan Vũ rất nhiều :

=> Lúc này Quan Vũ mà phá duoc Tương Phàn, cùng quan dân các xứ phò Hán kéo vào Hứa đô thì lúc này Quan Vũ mới là đệ nhất "Hán Thần", còn Tào Tháo thành nghịch tặc "Viên Thiệu".
Thêm nữa Tháo lúc này gần chết rồi (sau nữa năm Vũ chết thì Tháo cũng qua đời) , lúc đó 3 con trai của Tháo cũng sẽ đánh nhau như con Thiệu khi xưa thôi, việc nước Ngụy tự tan vỡ là điều tất yếu.


Tháng 10 219, Từ Hoảng cầm quân áp sát vòng vây , giải áp lực cho Phàn Thành. Quyết định của các bên

Thời điểm này cực kì nhạy cảm cho và quyết định cho cả 3 bên
- Ngô:
Tốn đến Lục Khẩu, gửi thư cho Quan Vũ nói: “Lúc trước nhân thấy kẽ hởmà động, đem quân đúng lúc, đánh ít thắng lớn, công lao lớn thay! Nướcđịch thua vỡ, lợi cho nước bạn, tin mừng vang reo, mong hãy thừa thắng,cùng giúp Nhà vua. Ta kém cỏi không giỏi, được dùng đến miền tây, ngưỡngmộ ánh sáng, thưa với người giỏi”. Lại nói: “Bọn Vu Cấm bị bắt, ta ở xa màhớn hở, cho rằng công lao của Tướng quân đủ để truyền cho nhiều đời, dẫuquân của Tấn Văn Công đánh trận Thành Bộc, mưu của Hoài Âm Hầu pháquân Triệu(10)ngày xưa cũng không hơn được. Nghe nói bọn Từ Hoảng đemít quân kị đến đóng giữ, dòm ngó cờ trướng. Tào Tháo gian dối, chắc cămgiận không ngại khó, e rằng ngầm tăng quân để mưu thỏa lòng. Dẫu ông đãgià nhưng vẫn dũng mãnh, vả lại sau trận thắng thường tỏ ý khinh địch,người xưa khuyên rằng quân thắng phải càng cảnh giác. Mong Tướng quânmưu bày kế lớn để giữ trọn trận thắng. Ta là kẻ đọc sách quê kệch, thẹnkhông gánh vác được việc, nhưng vui nghe oai đức của nước bên, mừng màtự kính phục, dẫu chưa có kế hợp nhưng vẫn nên giữ ý. Mong liếc mắt nhìn,chú ý xét rõ”. Vũ xem thư của Tốn có ý nhún nhường tự gửi gắm, lòng bènrất vui, không còn nghi ngờ. - Lục Tốn truyện
  • Ngụy: Chắn chắn sẽ tử chiến, Tháo đã thân chinh thì một trận định càng khôn , như đã bình ở trên. Từ Hoảng được tăng viện, quân số có thể lên tới 30.000 , tuy ko phải tinh binh như của Vu Cấm nhưng được cái là lính mới tới , chưa mỏi mệt. Ngoài ra quân số các cánh quân khác cũng đang trực chỉ Tương Phàn .
  • Về phía Quan Vũ vì lực lượng chủ lực của Quan Vũ lúc khởi là ko nhiều (2 vạn), sau hai lần đánh nhau thì chắc đã hao hút ít nhiều , kèm thêm 3 vạn hàng binh của Vu Cấm thì quân lương cạn kiệt (điểm này thì Quan Vũ nhân từ chán so với Bạch Khởi hay Hạng Vũ), quân lương cạn đến nỗi nhiều lần Vũ râu cho người chạy qua vùng của quân Ngô (nói trắng ra là qua để cướp lương thực) . Vũ chỉ có thể quyết định : rút quân về HOẶC tiếp tục => Vũ chọn tiếp tục và vét nốt quân và lương từ Giang Lăng lên . Quan Vũ lúc này ở Tương Phàn ko thể còn đủ 20.000 quân, chất lượng cũng kém và mỏi mệt hơn sau vài tháng đánh nhau.
=> 10/10 người nếu ở thời điểm này như Quan Vũ thì đều quyết định như Quan Vũ thôi vì liên minh Ngô-Thục vẫn còn, Ngô chỉ cần phối hợp đánh Hợp Phì thì đại sự tất thành . Cả thời tq thì đây là lần duy nhất mà Thục Ngô có thể đẩy Ngụy vào bờ vực đổ vỡ, về sau thì Thục Ngô chỉ có thể quấy rầy biên thùy của Ngụy là hết mức rồi .


Tháng 11 219 ,


  • Lã Mông phá Giang Lăng.
  • Từ Hoảng giải vây Phàn Thành
Giặc đóng trại ở Vi Đầu, lạichia quân đóng đồn ở Tứ Trủng. Hoảng đánh tiếng là tấn công vào trại ViĐầu, nhưng ngầm tấn công Tứ Trủng. thấy trại Tứ Trủng sắp vỡ, thân dẫn năm nghìn quân bộ kỵ ra đánh, Hoảng đánh lại, địch chạy lui, Hoảng đuổi theo phá vòng vây, đánh tan quân địch, giặc lao đầu xuống sông Miệnmà chết
Khi Tháo nghe tin Hoảng phá dc vòng vây thì tỏ vẻ bất ngờ , ko thể tin dc Hoảng có thể phá được bố phòng của Vũ :

"Giặc (ý là Vũ) đào hào kín mít, rải chông chà, mười phần trầm trọng, tướng quân hết sức đánh, thu được toàn thắng, lại phá vòng vây của địch, chém được nhiều đầu giặc..." "Ta dụng binh hơn 30 năm, cũng có nghe đến cái khéo dùng binh của người xưa, mà chưa thấy có ai xông thẳng vào vòng vây của địch như vậy... Vả lại vòng vây ở Phàn Thành-Tương Dương, còn hơn vòng vây ở thành Cử-Tức Mặc." (1)
Phá dc vòng vây Phàn Thành là chiến công lớn nhất của Hoảng , tuy phá được vòng vây nhưng bờ nam sông (tức Tương Dương) vẫn bị vây bởi Quan Vũ, thủy quân của Vũ vẫn làm chủ khu vực này quân Ngụy ko có thủy binh lẫn tướng cầm thủy binh , không có khả năng sẽ vượt được sông .Tuy nhiên lúc này Mi Phương đã hàng nên buộc Vũ phải lui nam , chứ ko phải bi đánh tan nat toàn quân .
Vũ không đánh được, phải dẫn quân lui về. Quyền chiếm được GiangLăng, bắt sống hết được vợ con tướng sỹ, quân của Vũ tản mát hết cả - Quan Vũ truyện
Vũ tự bỏ vây Tuong Dương ở bờ nam chứ ko phải bị đánh bại , thủy quân còn nguyên vẹn và vẫn làm chủ sông Hán thủy (sông cắt ngang Tương dương - Phàn Thành ở hình phía trên).

Từ Hoảng đến cứu, nước cũng đã giảm chút ít, Hoảng từ phía ngoài tập kích Vũ, Nhân đượcdịp ra khỏi vòng vây.Vũ phải lui binh- Tào Nhân truyện

Tháng 12 - 219
- Vũ dẫn quân về nữa đường thì hay tin Giang Lăng thất thủ. quân số toàn có gia đình ở quanh Giang Lăng nên đào ngủ về nhà hết. Vũ chạy sang tây thì bị bắt ở địa điểm trong hình.



Bình:
Tới tận t11 thì quân Ngô mới thưc sự hành động , trc đó ai ai cũng tin vào liên minh Thục Ngô . T12 vũ dẹo thì Bị ko làm gì dc đâu, trong vòng 1 tháng thì quá ngắn. Dù có muốn đem quân từ Thục ra cũng ko dc vì chỉ có 1 đường nối Ích-Kinh là Di Lăng (Nghi Xương trong hình 3) , mà lúc này đã bị Ngô trấn giữ rồi.
Việc chính dẫn tới cái chết của Vũ râu chính là sự đầu hàng cùng lúc của Mi Phương và Phó Sĩ Nhân. Vì dù Vũ có ko chiếm dc Tương - Phàn thì khi rút về Giang Lăng vẫn ổn. Khi Giang Lăng mà còn thì dù quân Ngô có tấn công đi nữa thì Vũ râu cầm tàn binh vẫn đủ khả năng đấm vêu mồm bọn Lục tốn hay Lã Mông. Cái khó là Mi Phương hàng làm mất cứ địa , nhất là gia đình binh sĩ đều ở đây, thành ra quân của Vũ đào ngũ về nhà rất nhìu.
+ Giang Lăng (Mi Phương)- Công An( Phó Si nhân) là 2 vùng đất sát nhau, là cứ địa của Vũ râu. Trong cùng châu thì 2 đất này có ý nghĩa chiến lược tương tự Tương-Phàn của Ngụy , hay Giang Hạ - Lục Khẩu của Ngô.

(1)
Là trận vây hãm dài hơi và tàn khốc trong lsu tàu lúc đó ,trước thời tq với mô tả "lấy mộ người thân đã chết làm củi, đổi con lẫn nhau để làm thịt".
Một người có thể với ít quân số hơn, liên tục gặp viện quân địch , vậy mà Vũ lập được vòng vây như kia thì phải nói không phải hạng tầm thường, đấy là biết ứng biến để bù đắp sự thiếu hut về mặt quân số vậy. Cách Tháo nói chẳng khác nào so sánh tài bố trí của Vũ như Nhạc Nghị (người tạo ra vòng vây trận Tức Mặc)
  • Về phần Ngô, tại sao lại phá liên minh với Thục, trong khi chỉ cần Ngô dấy binh tấn công Hợp Phì (lúc này gần như ko có viện binh nữa) thì coi như 3 phòng tuyến chính yếu của Ngụy coi như vỡ trận toàn tuyến . Theo cá nhân mình thì là do khác nhau về quan điểm chính trị của Ngô và Thục:

    • Ngô vương chỉ cầu cát cứ vùng phía Nam chứ không cầu thống nhất nhà Hán . Kiểu như Tôn Quyền chỉ muốn làm Sở Vương chứ không muốn làm Chu Vũ Vương. Về mặt quân sự thì nhà Ngô có bắc tiến thì cũng chỉ mong chiếm dc Hoài Tứ (hợp phì) hoặc Tương - Phàn (thượng nguồn sông) , cả 2 vùng có ý nghĩa phòng thủ cho phương Nam là chính.
    • Thục thì có tư tưởng phò Hán và thống nhất trung quốc hơn , nhất là ngay tại lúc trận Tương Phàn này, Quan vũ chính là Hán thần số một ,uy danh lên cao . Quan Vũ mà chiếm dc Hứa Đô ,nắm trong tay Hiến đế ; lúc này với nhà Ngô thì Lưu Bị chẳng khác gì một Tào Tháo thứ 2 .
  • Sau khi chiếm dc phần Kinh Châu của Vũ râu thì Ngô chưa bao giờ có thể gây dc anh hưởng gì mạnh mẽ tới Ngụy, cao nhất cũng chỉ là quấy rối biên thùy . Trong khi chỉ vùng đất bằng 1/4 nước Ngô, thì Quan Vũ đã làm nước Ngụy thất bại thảm hại cả về quân sự lẫn chia rẽ được nội bộ Ngụy.

  • Nếu như tướng có 2 loại : cầm đao tiên phong đánh nhau hoặc làm soái lãnh lãnh quân. Nhưng riêng Vũ lại làm dc cả hai , thông thạo cả bộ kị lẫn thủy binh.Khi xưa (Chu Du hỏa công Xích Bích, Tào Công phá Ô Sào, Lục Tốn đôt Di Lăng) đều là dùng hỏa công mà thành danh, nhưng cả ba đều có lợi thế sân nhà , có bộ tướng lâu năm xung quanh và thông thuộc địa hình. Thì" Quan Vũ thủy công Vu Cấm" còn kinh hơn, vì
    • Vũ râu xuất thân là một "mã cung thủ" vô danh tiểu tốt, thành danh trên lưng ngựa ở phương bắc nhưng lại cầm lính phương nam chuyên thuy binh đi tấn công
    • Vũ là bên tấn công trước, nhat la khi Vu Cấm kéo quân chủ lực Ngụy tới thì Vũ phải vừa vây 2 thành Tương Dương lẫn Phàn Thành , vừa phải đối đầu quân chủ lực Vu Cấm . Đã thế yếu hơn về quân số và hậu cần trên toàn tuyến.
    • Khi khởi sự thì Vũ là bên tấn công nên là "khách" . Về sau khi tiếp viện tới lần 2 là Hoảng thì Hoảng phải là người buộc phải phá vây cho Phàn Thành => Vũ từ chỗ là khách biến thành vai chủ , "Phản khách vi chủ" chỉ đến thế là cùng.
  • Toàn bộ tướng tá Ngụy-Ngô ghi trong TQC trước và trong trận này đều rất ái ngại và không muốn đối trận trực tiếp với Quan Vũ . Gần như ai solo với đối trận với Vũ đều bị thất thế, người duy nhất thành công là Từ Hoảng , và việc Hoảng phá được vòng vây của Vũ được coi là chiến công lớn nhất ,ai cũng ca ngợi là đủ hiểu việc đối trận với Vũ là cực kỳ thử thách
Góc nhìn của 2 phe Ngụy Ngô đương thời về Vũ râu
 

Tệp đính kèm

  • Screenshot 2025-08-22 at 09.40.47.png
    Screenshot 2025-08-22 at 09.40.47.png
    737 KB · Lượt xem: 60
  • Ảnh màn hình 2025-09-27 lúc 20.32.45.png
    Ảnh màn hình 2025-09-27 lúc 20.32.45.png
    4,2 MB · Lượt xem: 37
Sửa lần cuối:
Hỏi câu này hơi ngu, liên quan đến ngôn ngữ chút mấy fen. Tui xem fim thấy lãnh đạo hay thuyết minh kêu là "chúa công", có ôg kêu là "chủ công", vậy cái nào mới là đúng và nếu đúng là giải nghĩa của danh từ đó là gì? Xin cảm ơn
zFNuZTA.gif
zFNuZTA.gif


via theNEXTvoz for iPhone
 
Hỏi câu này hơi ngu, liên quan đến ngôn ngữ chút mấy fen. Tui xem fim thấy lãnh đạo hay thuyết minh kêu là "chúa công", có ôg kêu là "chủ công", vậy cái nào mới là đúng và nếu đúng là giải nghĩa của danh từ đó là gì? Xin cảm ơn
zFNuZTA.gif
zFNuZTA.gif


via theNEXTvoz for iPhone
Vốn của em cũng hạn hẹp nhưng theo em biết thì chỉ có "主公" trong tiếng Trung là chuẩn nhất, nghĩa là chủ công chứ "chúa công" có lẽ là lai tạp hoặc trộn với một từ nào đó khác. Cái này thì chắc chủ thớt sẽ rành hơn em.
 
VỀ KINH CHÂU (2)

Từ kakiu000:

Những người mà Lưu Bị đặt vào Kinh Châu, đáng chú ý là My Phương và Sĩ Nhân, đều là những người theo Lưu Bị lâu năm và đã tham gia vào cuộc đào tẩu vĩ đại của Lưu Bị ở Trường Bản. Họ hẳn là những người trung thành nhất dưới trướng Lưu Bị, do đó tại sao vẫn còn là một bí ẩn khi họ đầu hàng nhanh như vậy, Kinh Châu không bao giờ được đánh giá là có thể bị mất đi hoàn toàn ngay cả với cuộc tấn công từ phía Tôn Quyền.

HanWsh trả lời:

Khi My Phương và Sĩ Nhân làm phản, các quan chức cấp cao của Thục Hán hoàn toàn bị động và không biết lý do. Sau đó, quân đội Kinh Châu gần như bị tiêu diệt, và chỉ có một số ít người như Liêu Hóa trốn thoát. Do đó, rất khó để nắm bắt được toàn cảnh của sự việc. Ngoài ra, không có điều kiện để [Thục] điều tra sau sự việc, vì vậy triều đình Thục chỉ có thể tin vào những gì Liêu Hóa và những người khác nói. Sau cùng, phần sử Thục của Tam Quốc Chí ban đầu được biên soạn qua bộ sưu tập tài liệu lịch sử của riêng Trần Thọ và một số lượng lớn công lao và ghi chép về hoạt động của các nhân vật ở Kinh Châu đã bị thất lạc, vì vậy rất khó để khẳng định rằng lời kể của phe Thục về sự kiện này là chính xác.

Sự việc này được ghi chép trong Quan Vũ truyện, My Trúc truyện và Dương Hý truyện, trích đoạn như sau:

<Hơn nữa, Thái thú Nam Quận là My Phương ở Giang Lăng, tướng quân Sĩ Nhân đóng quân ở Công An, cả hai đều oán giận vì Vũ khinh thường họ. Khi Vũ xuất quân, Phương và Nhân phụ trách quân nhu, nhưng không hỗ trợ. Vũ nói: "Ta sẽ xử lý bọn chúng sau khi trở về." Phương và Nhân sợ hãi, không yên tâm. Quyền âm thầm dụ dỗ Phương và Nhân, Phương và Nhân phái người đến gặp Quyền.

Trong khi đó, Tào Đại vương phái Từ Hoảng đi cứu Tào Nhân, Vũ không thắng được, nên cho triệu hồi binh sĩ và rút lui.

Quyền đã chiếm Giang Lăng và cho bắt hết vợ con của quân lính Vũ, do đó binh sĩ của Vũ đều đào ngũ.

[My] Phương trở thành Thái thú Nam Quận, cùng hợp tác với Quan Vũ, nhưng trong thâm tâm, ông ta ôm ý đồ riêng, làm phản và mời gọi Tôn Quyền, và vì thế, [Quan] Vũ bị lật đổ và tiêu diệt.

My Phương, tự là Tử Phương, người Đông Hải, giữ chức Thái thú Nam Quận. Sĩ Nhân, tự là Quân Nghĩa, người Quảng Dương, làm tướng quân đóng tại Công An, dưới quyền Quan Vũ. Ông ta nảy sinh xung đột với Quan Vũ và đào tẩu sang theo Tôn Quyền.>

Chi tiết nhất là Quan Vũ truyện, trong đó nói rằng My Phương và Sĩ Nhân bị Quan Vũ coi thường và không làm hết sức mình trong việc cung cấp hậu cần, vì vậy Quan Vũ đã đe dọa sẽ trừng phạt họ khi ông trở về. Vào thời điểm này, Tôn Quyền đã bí mật dụ dỗ họ, vì vậy hai người đã cử thuộc hạ của mình đến gặp Tôn Quyền. My Trúc truyện và Dương Hỷ truyện cũng nói điều tương tự. Trần Thọ sống ở Thục từ khi còn nhỏ. Cần phải nói rằng những gì được ghi lại trong phần Thục là toàn bộ những gì ông biết về câu chuyện, và đó cũng là giọng điệu của chính quyền Thục Hán và công chúng về vấn đề này, tức là My Phương và Sĩ Nhân đã chủ động phản bội đất nước vì xung đột giữa họ và Quan Vũ.

Tuy nhiên, dữ liệu từ phía Ngô đã phủ nhận tuyên bố rằng Sĩ Nhân là kẻ phản bội. Các ghi chép chi tiết hơn về sự việc này trong Tam Quốc, Ngô thư là Lữ Mông truyện và Ngu Phiên truyện. Các chú thích của Bùi Tùng Chi cũng trích dẫn các ghi chép từ Ngô thư và Ngô lục. Ngô thư là sách sử chính thức của nước Ngô, và phần Ngô trong Tam Quốc Chí có tham chiếu rất nhiều đến cuốn sách này. Tác giả của Ngô lục là Trương Bột của triều đại Tây Tấn. Cha của ông, Trương Nghiễm, là một quan chức của nước Ngô, người biên soạn Mặc ký, trong đó có nhiều bài viết về các vấn đề thời sự. Ví dụ, Hậu xuất sư biểu xuất phát từ cuốn sách này. Do đó, có thể thấy rằng gia đình ông rất thân thiết với các nhà lãnh đạo cấp cao của nước Ngô và do vậy, đã thu thập được rất nhiều thông tin vào thời điểm đó. Tóm lại, Ngô lục cũng có thể được coi là một cuốn sử về nước Ngô.

Câu chuyện về việc Lữ Mông yêu cầu người của mình giả làm thương nhân và vượt sông xuất phát từ Lữ Mông truyện. Ngô thư kể rằng khi Lữ Mông đến thành Công An, Sĩ Nhân vẫn đang giữ thành, vì vậy Lữ Mông đã yêu cầu Ngu Phiên ra vận động (lobby), nhưng Sĩ Nhân từ chối gặp Ngu Phiên, vì vậy Ngu Phiên đã viết một lá thư gửi Sĩ Nhân, người đã đầu hàng trong nước mắt sau khi nhận được lá thư. Nội dung của lá thư như sau:

<Ngô thư chép: Tướng Sĩ Nhân ở Công An kháng cự phòng thủ, Mông ra lệnh cho Ngu Phiên dụ hàng. Phiên đến cửa thành, nói với quân thủ: “Ta muốn nói chuyện với Tướng quân của các ngươi.” Nhân không chịu gặp. Vì vậy, ông ta viết một bức thư nói rằng: “Người thông minh chống lại tai họa chưa nảy mầm, kẻ sáng suốt bày cách chống lại tai họa sắp đến. Biết được, biết mất, có thể đối phó với người, biết sống sót, biết hủy diệt ra sao, l đủ để phân biệt điềm lành và điềm dữ. Động thái của quân chủ lực, trinh sát của các người không báo cáo, hỏa hiệu của các người không nổi lên, đây không phải là ý trời, chắc chắn là câu trả lời từ bên trong. Tướng quân không quan sát thời cuộc trước, thời cơ đã tới và ngươi lại không trả lời, đơn độc bảo vệ một thành phố bị bao vây mà không chịu hàng, nếu ngươi vào trận tử chiến thì nó sẽ hủy diệt gia tộc của ngươi và dập tắt mọi sự hy sinh của họ, và sẽ bị Thiên hạ chê cười. Lữ Hổ uy muốn trực tiếp tới Nam Quận, cắt đứt đường bộ, một khi đường sống của Ngài bị chặn, xét theo địa hình, Tướng quân sẽ như nằm trên lưỡi của một chiếc sàng, vậy là hết, chạy trốn cũng không thoát được. Lúc ấy đầu hàng thì đã quá muộn, ta khiêm nhường lo thay cho số phận của Tướng quân, mong Ngài suy nghĩ lại.”>

Câu quan trọng nhất trong thư là "Động thái của quân chủ lực, trinh sát của các người không báo cáo, hỏa hiệu của các người không nổi lên, đây không phải là ý trời, chắc chắn là câu trả lời từ bên trong." Điều này có nghĩa là quân Ngô đã đến thành Công An mà không có trinh sát báo cáo vì đã có can thiệp nội bộ. Sau đó, Phiên nói rằng Sĩ Nhân không phát hiện ra điều này trước, và ông đã từ chối đầu hàng mà chọn cách phòng thủ thành phố một mình khi kẻ thù đến. Ngay cả khi ông chết trong trận chiến, ông cũng chỉ bị cười nhạo. Điều này cho Sĩ Nhân biết rằng ông đã bị cấp dưới phản bội mà không nhận ra. Khi một cuộc chiến nổ ra, cấp dưới của ông chắc chắn sẽ tiếp tục phản bội ông. Theo cách này, không chỉ cả gia đình ông sẽ chết mà ông cũng sẽ trở thành trò cười cho cả Thiên hạ. Sau khi Sĩ Nhân đầu hàng, Ngu Phiên nói với Lữ Mông rằng đây chỉ là một trò bịp và yêu cầu Lữ Mông đưa Sĩ Nhân đi cùng và để người ở lại trông chừng Công An.

Theo ghi chép trong Ngô thư, Sĩ Nhân không biết trước về việc Lữ Mông chùm áo trắng vượt sông, chứ đừng nói đến việc chủ động chào đón Tôn Quyền. Ông cũng không biết quân Ngô đã đến thành Công An bằng cách nào và nghĩ rằng mình đã bị cấp dưới phản bội.

Quân Ngô gặp phải một cảnh tượng hoàn toàn khác ở Giang Lăng. Ngô thư kể rằng sau khi Lữ Mông cho My Phương thấy Sĩ Nhân, My Phương đã đầu hàng ngay lập tức mà thậm chí không đề cập đến quá trình thuyết phục của Lữ Mông. Ngu Phiên truyện chép rằng sau khi My Phương mở cửa thành và đầu hàng, quân Ngô đang ăn mừng bên ngoài thành phố, và Ngu Phiên nói rằng chỉ có My Phương và quân Ngô là đồng tâm, đồng lòng trong thành, và khuyên Lữ Mông nên nhanh chóng giành quyền kiểm soát thành phố. Ở đây có một câu hỏi, tại sao Ngu Phiên lại tin tưởng My Phương nhiều như vậy?

Ngô lục kể lại rằng thành Giang Lăng xảy ra hỏa hoạn, thiêu rụi một số vũ khí. Quan Vũ tra hỏi My Phương, người trở nên vô cùng lo lắng. Tôn Quyền đã phủ dụ My Phương sau khi nghe tin. My Phương sau đó đã thiết lập mối quan hệ với Tôn Quyền và tiến cống gia súc và rượu, sẵn sàng đầu hàng khi Lữ Mông tấn công. Từ đó có thể thấy My Phương đã biết trước rằng quân Ngô sắp đến, điều này phù hợp với ghi chép trong Quan Vũ truyện, và việc ông bị tra hỏi sau vụ cháy vũ khí cũng có vẻ trùng khớp.
 
VỀ KINH CHÂU (3)

(Tiếp...)

Ghi chép về cuộc tấn công Kinh Châu của Lữ Mông trong Tôn Quyền truyện như sau:

Vào tháng nhuận, Quyền tấn công Vũ và trước tiên cử Lữ Mông tấn công Công An và bắt sống tướng Sĩ Nhân. Khi Mông đến Nam Quận, Thái thú Nam Quận là My Phương đã đem thành ra hàng.

Mô tả về Công An là "tấn công Công An, bắt sống tướng Sĩ Nhân", và mô tả về Giang Lăng là "đến Nam Quận, Thái thú Nam Quận là My Phương đã đem thành ra hàng", suy ra tuyên bố chính thức từ sử Ngô là My Phương đã tự nguyện đầu hàng nhưng Sĩ Nhân thì không. Ngu Phiên nói rằng ông ta đã dùng một mánh khóe, tức là ông ta đã nói dối trong bức thư mà ông ta viết cho Sĩ Nhân, vậy ông ta đã nói dối trong toàn bộ bức thư hay chỉ nói dối một phần? Cá nhân tôi nghĩ rằng đó chắc chắn chỉ là lời nói dối một phần.

Ngu Phiên nói rằng quân đội Tôn Ngô không bị trinh sát phát hiện vì có tay trong, điều này hẳn là đúng, vì câu chuyện vượt sông trong bộ đồ trắng có vấn đề về mặt logic. Nếu giả làm thương nhân có thể tránh được kiểm tra và thậm chí khuất phục được hết các đoàn trinh sát, thì bản thân các trạm trinh sát và tháp báo hiệu trở thành vật trang trí và có thể gọi 2 thứ này là vô giá trị. Ngu Phiên nói dối vì tay trong không phải là cấp dưới của Sĩ Nhân, mà là kẻ khác.

Theo quan điểm này, Sĩ Nhân rất có thể đã bị My Phương phản bội. Tuy nhiên, không có ghi chép liên quan nào trong sách sử về lý do tại sao My Phương cố tình đầu hàng Tôn Ngô. Có lẽ lý do này không tốt cho bộ mặt của thể chế Tôn Ngô và vì vậy đã không được chép lại. Xem xét rằng Phan Tuấn, người đã có màn thể hiện tốt trong việc giúp Tôn Quyền bình định Kinh Châu, được thăng chức làm Thái thường, người đứng đầu hàng Cửu khanh ở Ngô (Tôn Ngô khi đó không có Tam công), và được trao một đội quân lớn, có lẽ My Phương đã bị bỏ rơi vì một lý do nào đó sau khi hàng Ngô, và Phan Tuấn trở thành người thay thế, đại diện cho phái tàn dư Kinh Nam.

Trên thực tế, cũng có nhiều nội dung trong các ghi chép của Thục được sao chép từ Ngô. Ví dụ, mô tả về Hác Phổ và Phan Tuấn trong Quý Hán Phụ Thần Tán của Dương Hý về cơ bản là tới từ tư liệu bên Ngô. Vì vậy, tuyên bố trong Quan Vũ truyện rằng My Phương và Sĩ Nhân bị Quan Vũ tra hỏi vì yếu kém trong công tác hậu cần cũng có thể là kết quả của sự pha trộn giữa lời tuyên bố chính thức từ Thục Hán và tư liệu từ Ngô. Do đó, cái gọi là hậu cần kém giống như một tuyên bố được đưa ra để che đậy lý do thực sự. Bao gồm cả tuyên bố trong Quan Vũ truyện rằng việc ông xúc phạm đề nghị hôn nhân từ phía Tôn Quyền như một trong những lý do khiến Tôn Quyền gửi quân. Thoạt nhìn, điều này có vẻ được trích xuất từ các tài liệu lịch sử của Ngô (tất nhiên, nó cũng có thể là một tuyên bố tới từ những bộ hạ cũ của Quan Vũ hoặc từ chính người Thục). Ngay cả học giả Rafe De Crespigny cũng lập luận rằng việc Quan Vũ xúc phạm sứ thần của Tôn Quyền không phải là yếu tố dẫn đến sự phản bội liên minh và chiến dịch sau đó.

Lữ Mông truyện chép rằng quân của Lữ Mông mặc đồ trắng qua sông là vì Quan Vũ lấy gạo từ Tương Quan khi chưa được cấp phép, nên họ đã cải trang thành thương nhân để đánh Kinh Châu:

<Ngụy phái Vu Cấm đi cứu Phàn Thành, [Quan] Vũ bắt hết bọn [Vu] Cấm, người ngựa mấy vạn, lương thực dự trữ cạn kiệt, và cho người lấy gạo từ Tương Quan khi chưa có thẩm quyền. Quyền nghe vậy, liền ra tay, trước tiên phái Mông đi trước. Mông đến Tầm Dương, cho giấu hết quân tinh nhuệ trong thuyền, dùng người chèo thuyền mặc áo trắng, làm như thương nhân, ngày đêm di chuyển, đi dọc bờ sông, đến những nơi Vũ đã cho bố trí các trạm do thám, bắt trói chặt [tụi thám báo], do đó [Quan] Vũ không thấy, không hay gì.>

Khi mọi người phân tích đoạn văn này, họ thường hiểu rằng việc Quan Vũ lấy gạo từ Tương Quan là lý do khiến Tôn Quyền phái quân. Tuy nhiên, xét theo ngữ cảnh, ý ở đây hẳn là quân của Lữ Mông đã cải trang thành thương nhân buôn gạo để tránh mắt Quan Vũ. Nếu My Phương đã biết trước về hành động của binh sĩ Tôn Ngô và thực sự chính ông là kẻ phụ trách hậu cần cho Quan Vũ, thì việc lấy gạo từ Tương Quan có thể là do Phương và Tôn Ngô chỉ đạo, và chính ông đã giúp những tàu buôn này tránh các đồn trạm của Quan Vũ. Còn về lý do tại sao My Phương làm những điều này, thực sự rất khó biết được vì chúng ta còn thiếu tài liệu lịch sử.

Đương nhiên, chúng ta có thể kết hợp nhiều tài liệu lịch sử để đưa ra một tuyên bố khác, rằng My Phương đã không biết trước. Nghĩa là khi Ngô lục chép rằng Tôn Quyền "nghe nói về vụ hỏa hoạn xảy tới với quân trang Giang Lăng và dụ dỗ ông ta". Quyền "dụ dỗ" ông ta bằng gì? Nếu như ông cung cấp vật tư cho My Phương một cách riêng tư, tức cái gọi là "lấy gạo từ Tương Quan khi chưa có thẩm quyền", thì có khả năng My Phương cũng bị Tôn Quyền lừa gạt, nhưng lý do không phải là đợt hỏa hoạn xảy tới với quân trang của Giang Lăng mà là binh sĩ Ngụy bị bắt lại quá nhiều khiến Giang Lăng không còn đủ vật tư. My Phương vô tình trở thành phản đồ trong quá trình giúp các thương nhân gạo tránh đi cửa hải quan. Không phải là Lữ Mông không thuyết phục My Phương dưới chân thành Giang Lăng, mà là vì sự thật đằng sau vụ việc này quá thô thiển nên phía Ngô không dám viết ra, cho nên ngay cả khi My Phương không tự nguyện đầu hàng, sử sách Ngô cũng phải ghi rằng ông ta đã làm vậy.

Tất nhiên, tất cả những điều trên chỉ tới từ trí tưởng tượng của tôi mà thôi. Hai kịch bản tôi nêu ở trên đây mô tả My Phương ở hai thái cực, một là kẻ mang tham vọng lớn, hoặc hai, một tên ngốc. Tình hình thực tế không rõ do sử sách không nói nhiều tới My Phương. Một đặc điểm chính của lịch sử Tam Quốc là mọi người chỉ có thể lựa chọn những gì họ muốn tin sau khi xem hết các tư liệu lịch sử.

---​

Để chắc chắn, em hỏi lại:

Tôi có sai khi tin rằng thực tế, việc "họ bắt giữ được tất cả trinh sát vào ban đêm (khi tầm nhìn kém đối với cả hai bên) mà không một ai có thể thoát thân về báo cáo" có thể hơi đáng ngờ?

Và để thôn tính Kinh Châu, ngay cả với tổn thất tối thiểu, bạn cần phải có ít nhất một lực lượng có quy mô và sức mạnh đáng kể, nghĩa là rất nhiều nhân sự nên thậm chí (hơi) khó tin hơn đối với tôi khi tin rằng My Phương thực sự đã mắc phải cái bẫy này với tư cách là một chỉ huy giàu kinh nghiệm ở độ tuổi trung niên (tương đương với tuổi già vào thời đó). Tôi nghĩ (có thể là nhầm lẫn) bạn không cần nhiều hơn vài trăm cho một nhóm thương gia, vậy chẳng lẽ ông ta không thắc mắc về việc hàng nghìn người đột nhiên xuất hiện trước "cửa nhà" ông ta?

HanWsh trả lời:

Cảm ơn. Rất vui khi được giúp đỡ!

Tôi cũng thấy việc Lữ Mông có thể hạ gục toàn bộ các tháp báo hiệu và trinh sát ở biên giới một cách nhanh chóng và hiệu quả là khá đáng ngờ. Đây là lý do tại sao tôi đưa ra 2 khả năng.

Khả năng thứ nhất là My Phương đã ngả về phía Tôn Quyền từ lâu, và lợi dụng quyền hạn của mình như kẻ phụ trách hậu cần cho Quan Vũ kiêm chức Thái thú Nam Quận để thông đồng và giúp binh sĩ (đã cải trang) của Lữ Mông tránh khỏi bị phát hiện.

Khả năng thứ hai là My Phương đã bị Tôn Quyền lừa và "dụ dỗ". Có thể là Tôn Quyền đã nghe về vụ hỏa hoạn, và đã bí mật móc nối với My Phương bằng cách cung cấp cho ông ta vật tư (vì lẽ đó nên dùng từ "dụ dỗ") để bổ sung cho lượng hàng tồn kho quá ít ỏi và Lữ Mông đã lợi dụng giao dịch bí mật này để cải trang quân lính của mình thành thương nhân.
 
Nếu mọi người đọc hết 3 phần "Về Kinh Châu" ở trên (đặc biệt là phần 2 và phần 3) và tin vào một trong hai giả thuyết ở trên, thì quả thực âm mưu của Tôn Quyền và Lữ Mông quá thâm sâu, Quan Vũ đã là tướng viễn chinh, nếu không nhận sự hỗ trợ trực tiếp từ "trung ương" Lưu Bị và Gia Cát Lượng, bại vong là kết quả có thể đoán trước.
 
Kinh Châu Hồ Bắc là 1 miếng bánh khó gặm đấy, vì vị trí địa lý của nó đánh đâu cũng gần nhưng cũng bị uy hiếp từ mọi phía. Đặc biệt là nếu đế chế mở rộng ra những vùng khác thì nó sẽ làm giãn đội hình phòng thủ.
 
Kinh Châu Hồ Bắc là 1 miếng bánh khó gặm đấy, vì vị trí địa lý của nó đánh đâu cũng gần nhưng cũng bị uy hiếp từ mọi phía. Đặc biệt là nếu đế chế mở rộng ra những vùng khác thì nó sẽ làm giãn đội hình phòng thủ.
Thật ra là ngược lại cơ, kinh châu địa thế rất tốt là khác , ngoài việc là bồn địa đồng bằng thì đều dc bảo vệ tự nhiên bởi núi non (đỏ) . Chỉ có hướng tiến vào là :
  • Đông : Giang hạ (Vũ hán) , chổ này vừa là thượng nguồn của sống trường giang, vừa là điểm cuối của sông Hán ( Hán Trung -> Tương Phàn -> Giang Hạ) . Hoàng Tổ đóng trại ở đây hơn 10 năm có bị sao đâu, tới tận khi Tổ chết thì Lưu Kỳ xuôi dòng từ Tương Dương xuống chiếm lại rất nhanh.
  • Bắc : Nam Dương (Uyển Thành) thì gần trung tâm, đất bằng nên bị chiếm dễ (Viên Thuật -> Trương Tú) , nhưng xuống tới Tương Phàn thì lại khác vì có con sông cắt ngang Tương | Phàn. Nên nếu đóng trọng binh, nhất là thủy binh ở đây thì đâu có đường nào xuống được trung tâm Kinh Châu

Lưu Biểu đóng ở Tương Dương, Hoang tổ đóng ở Giang Hạ , 2 nơi này nối nhau bằng sông Hán, đông tây kết nối dễ nên giữ Kinh Châu yên binh hơn 10 năm.
Screenshot 2025-03-03 at 22.12.41.png


Tương Phàn thời Nam Tống, quân MC 10 năm đánh k dc thành này mà cũng ko dám vòng qua nó , là đủ hiểu địa thế quan trọng rồi.


Và ngược lại , nêu Quan vũ phá dc Tương Phàn thì con sông lớn từ Hán Trung -> Tương Phàn -> Giang Hạ đều dc liên kết. Quân Ngụy mất tương Phàn thì bắt buộc phải lui ra phía bắc đường màu xanh để lập phong tuyến .
 
Sửa lần cuối:
Thật ra là ngược lại cơ, kinh châu địa thế rất tốt là khác , ngoài việc là bồn địa đồng bằng thì đều dc bảo vệ tự nhiên bởi núi non (đỏ) . Chỉ có hướng tiến vào là :
  • Đông : Giang hạ (Vũ hán) , chổ này vừa là thượng nguồn của sống trường giang, vừa là điểm cuối của sông Hán ( Hán Trung -> Tương Phàn -> Giang Hạ) . Hoàng Tổ đóng trại ở đây hơn 10 năm có bị sao đâu, tới tận khi Tổ chết thì Lưu Kỳ xuôi dòng từ Tương Dương xuống chiếm lại rất nhanh.
  • Bắc : Nam Dương (Uyển Thành) thì gần trung tâm, đất bằng nên bị chiếm dễ (Viên Thuật -> Trương Tú) , nhưng xuống tới Tương Phàn thì lại khác vì có con sông cắt ngang Tương | Phàn. Nên nếu đóng trọng binh, nhất là thủy binh ở đây thì đâu có đường nào xuống được trung tâm Kinh Châu

Lưu Biểu đóng ở Tương Dương, Hoang tổ đóng ở Giang Hạ , 2 nơi này nối nhau bằng sông Hán, đông tây kết nối dễ nên giữ Kinh Châu yên binh hơn 10 năm.
Xem tệp đính kèm 2946498

Tương Phàn thời Nam Tống, quân MC 10 năm đánh k dc thành này mà cũng ko dám vòng qua nó , là đủ hiểu địa thế quan trọng rồi.


Và ngược lại , nêu Quan vũ phá dc Tương Phàn thì con sông lớn từ Hán Trung -> Tương Phàn -> Giang Hạ đều dc liên kết. Quân Ngụy mất tương Phàn thì bắt buộc phải lui ra phía bắc đường màu xanh để lập phong tuyến .
Đúng nếu chỉ cát cứ, trấn thủ nơi đó, nhưng đế chế mở rộng thì nó lại thành gánh nặng phòng thủ hoặc cần điều binh.

Chưa kể thủ 1 mặt thì được chứ bị đánh từ 2 mặt bắc nam thì thua chặt. Cả Ngô với Thục nếu giữ được thì đều phải kéo giãn line of defense, thứ mà cả 2 nước đều ko có đủ nguồn lực đề duy trì.
 
Sửa lần cuối:
Nhân chuyện Thương Ưởng bữa, mình thấy cá nhân Lý Tư cũng có đóng góp lớn.
Sau khi thống nhất, có nhóm nho sinh bàn chuyện chính trị, nhất định đòi Thủy Hoàng thực hiện phân phong đất đai như thời nhà Chu xưa.
Lý Tư là người đứng ra can gián, chỉ ra sự khiếm khuyết của chế độ này và xu hướng của thời đại là Phong kiến tập quyền, quân chủ chuyên chế. Tần Thủy Hoàng làm theo Lý Tư, phân chia đất nước theo chế độ quận huyện, hình thành nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử TQ.
Về sau thời Hán Sở tranh hùng, 2 bên cũng xẩy ra mâu thuẫn về mặt tưởng như thế này. Hạng Vũ sau khi diệt Tần xong, về thực tế quyền lực là vua, nhưng không xưng là Đế, mà xưng là Bá Vương, còn phân phong đất cho 18 vương chư hầu khác (tương tự như nhà Chu).
Chế độ này không hợp thời có nhiều khuyết điểm, nên dễ bị lật đổi. Bằng chứng lịch sử là Bá Vương bị 1 trong các vương chư hầu của mình là Hán Vương đánh bại.
Sau này Hán thành lập, Lưu Bang thay đổi chế độ, không phân phong đất đai mà theo lệ nhà Tấn, tức là theo cách quản lý của Lý Tư.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
Relight,
Người trả lời cuối
tester_321,
Trả lời
469
Lượt xem
43.295
Quay lại
Lên đầu trang