Ngày xưa học thuốc

1. Trước đây hơn 1 thế kỷ rưỡi, ở nước mình Đông Y nắm nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ cho dân, khắp nơi từ kinh thành dân cư đông đúc náo nhiệt đến các thôn xóm hẻo lánh xa xôi đều có mặt thầy thuốc cổ truyền đáng kính trọng, dùng y thuật Trung Hoa phối hợp với kinh nghiệm bản thân hoặc ông cha truyền lại, để xoa dịu nỗi đau bệnh nhân, họ rất được dân chúng kính trọng, kêu bằng cụ Lang hay cụ Điều.

Mấy ông thầy đó đâu có đậu kỳ thi tốt nghiệp nào, vì ngày xưa ông vua đâu có mở trường đào tạo, cũng đâu tổ chức kỳ thi tuyển chọn y sĩ. Thầy thuốc giỏi là người chữa được bệnh hiểm nghèo, có nhiều người tới xin trị vì được dân chúng tin cậy. Hầu hết danh y xuất thân từ nho sĩ, đều thông hiểu nho học. Sau đây là các nguyên nhân chính để họ học thuốc:

— Mấy người tinh thông nho học lẫn Phật học nhưng không chịu đi thi tiến thân, hoặc không chịu làm quan dù đỗ đạt cao, vì chán cảnh đua chen danh lợi, lui về ẩn dật nơi thôn dã học nghề thuốc cứu giúp người khi đau ốm như: Tuệ Tĩnh, Lãn Ông.

— Mấy nho sĩ lận đận trường thi, rớt đường cộng danh khoa cử, trong số này có người đậu Tú Tài hoặc Nhất trường, Nhị trường mà không muốn đi dạy học, nên quay về học nghề thuốc vừa mưu sinh vừa cứu nhân độ thế. Như: Nguyễn Thế Chuẩn, Bùi Thúc Trinh.

— Mấy ông đã thành công rực rỡ trên quan trường, bước đường công danh hoàn toàn mỹ mãn, nhưng vì mê nên vẫn nghiên cứu thuốc, thường trị bệnh cho thân tộc, hoặc bạn bè trong giới quyền quý. Như: Phan Phu Tiên, Nguyễn Gia Phan.

— Mấy người được gia đình bắt học thuốc từ nhỏ, để gìn giữ nghề nghiệp tổ tông, là trường hợp cha truyền con nối hoặc để sau này chữa trị cho họ hàng làng xóm vì chỗ sống không có thầy thuốc.

2. Đối với nho sĩ đã thấu triệt nho học, họ tự đọc sách thuốc, tìm hiểu y lý rồi kiếm một vị danh y xin học trau dồi kinh nghiệm, nếu chuyên cần học tập thường 2-3 năm sau là có thể chuẩn mạch bốc thuốc. Còn mấy người chữ Hán chỉ biết sơ sơ hay con nít phải theo thầy học từ 10-15 năm, hoặc từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành mới dám hành nghề, mấy năm đầu bắt buộc học chữ Hán, sau đó ngoài sách thuốc thầy còn dạy chung các sách nho giáo.

Thông thường ông danh y mở trường ở nhà luôn để dạy con cháu mình hoặc mấy người gần xóm. Rồi tùy tiếng tăm thầy mà học trò nhiều nơi tới xin thụ giáo nhiều hay ít.

Học thuốc không giới hạn tuổi tác, mấy tuổi học cũng được, có ông râu tóc bạc phơ học chung thanh niên trai tráng. Khi xin học chỉ cần thầy chịu là được, không phải làm lễ khai tâm giống như đi học chữ nho, chuyện đóng tiền quà cáp thì tùy tâm, không bắt buộc, chỉ những khi nhà thầy có giỗ chạp hoặc tết nhất. Không như thầy đồ, chuyện tiêu xài của thầy thuốc không trông vào học trò vì đã có bệnh nhân lo rồi.

Nếu đông quá thì lấy luôn gian nhà làm lớp, học trò chia ra 3 loại tùy trình độ học vấn.

1. Người lớn mới học qua chữ nho, cùng mấy em nhỏ.

2. Tinh hiểu nho học, đọc được sách thuốc.

3. Người đã qua hai thời kỳ trên và những nho sĩ nghiên cứu thuốc từ trước.

Mỗi tuần 4-5 buổi sáng hoặc chiều, thầy khăn đóng, áo dài ngồi trên sập hay phản, giảng giải y lý hoặc ý nghĩa thâm thúy của lời văn trong sách cho học trò lớn thuộc loại 2 và 3, học trò thì ngồi trên chiếu hay hai chiếc phản kê hai bên chăm chú ngóng tai nghe lời thầy dạy, ghi chép lại những cái cần thiết.

Đối với học trò thuộc loại 1, thường sống luôn trong nhà thầy, để khi gặp việc khó khăn thầy dạy bảo luôn cho tiện. Còn nếu nhà gần thì tới giờ ăn cơm hoặc tối đến mới được về nhà. Cho nên giờ học không ấn định rõ ràng, rảnh lúc nào thầy dạy lúc đó, học trò lớn cũng giúp thầy chỉ bảo đàn em.

3. Chương trình học:

* Học sinh loại 1:

— Học chữ Hán, danh từ chuyên ngành y dược, dược tính sơ lược, mấy bài thuốc thông dụng.

— Bài học là thơ hoặc phú, có vần điệu đối nhau, cho học trò dễ học. Ví dụ:

«Ma hoàng thang trung dụng quế chi
Hạnh nhân cam thảo tứ ban nhi
Phát nhiệt ố hàn thân thể thống
Tu tri nhất phục hãn lâm ly»

(Chú giải: đây là bài thuốc Ma hoàng thang, dùng 4 vị: ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, cam thảo; trị chứng phát nóng, sợ lạnh, thân thể đau nhức. Uống vô thì mồ hôi chảy ra từng giọt).

— Ngoài học lý thuyết, học trò phải thực tập: lựa chọn nguyên liệu, bào chế dược liệu và dược phẩm, xếp thuốc, xắt thuốc thành phiến, cân thuốc. Thầy chỉ bảo sơ qua bằng miệng rồi học trò trông nhau mà làm.

* Loại 2:

— Bắt đầu dạy về sự biến hóa âm dương, thuyết ngũ hành, vận khí, cơ nguyên của bệnh, thủy hỏa vinh vệ, cách thức chuẩn đoán bệnh, phép xem mạch, sơ lược kinh lạc, ngũ tạng lục phủ, nguyên nhân cùng phép trị bệnh: nhất là thương hàn, dược tính, luận về mấy bài thuốc.

— Cũng như trên để học trò học dễ nhớ, thường thường ông thầy trích những bài thơ hoặc bài phú trong sách cổ nhân dùng làm bài học.

— Với quan niệm: «Không học cái lẽ của Dịch thì đừng nói tới học thuốc» nên thời kỳ này có giảng một bộ sách triết học sâu xa của nho giáo, là kinh Dịch. Đem cái lẽ sinh hóa tồn vong cùng sự «lớn lên, suy vong rồi chết» trong thuyết của Dịch vào khoa thuốc.

* Loại 3:

— Thầy lựa chọn một chương trong các sách:
  • Nội kinh, Nạn kinh của Biển Thước
  • Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược của Trương Trọng Cảnh
  • Đông viên thập thư của Lý Cảo
  • Đan khê tâm pháp của Chu Chấn Hanh
  • Cảnh nhạc toàn thư của Trương Giới Tân
  • Y học nhập môn của Lý Diên
  • Bộ Phùng thị của Phùng Triệu Trương
  • Trần Tu Viên y thư của Trần Tu Viên
  • Y tông kim giám của các thái y vua Càn Long
  • ...

Rồi lấy bút son khoanh vào mấy chỗ cốt yếu, tên bài thuốc hoặc ngắt câu, giải thích mấy chữ khó hiểu. Đôi khi kêu học trò về nhà đọc trước, tới ngày xx yy cùng nhau biện luận hoặc chỉ định người nào xuất sắc nhất phát biểu ý kiến trước rồi tự thầy giảng lại. Sách nào càng ý nghĩa sâu xa thì buổi học càng kéo dài nhưng mọi người đều thích thú vì môn học này như ngàn sao lấp lánh trên trời, càng xa bao nhiêu lại càng hấp dẫn, huyền bí bấy nhiêu.

— Ngoài ra còn đàm luận về lẽ biến của Dịch, chỉ cho học trò đọc thêm sách của Vương Thúc Hòa, Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, Bản thảo cầu chân của Hoàng Cung Tú, Y tông tâm lĩnh của Lãn Ông... để tăng thêm phần hiểu biết.

4. Sau giờ học hay những lúc nhàn rỗi, thầy thường kể lại kinh nghiệm trị bệnh mà thầy từng trải, những mẫu chuyện vui buồn gặp phải lúc hành nghề, khuyên răn học trò: quý mến đồng nghiệp, đừng giận hờn, phân bì, ganh tị nhau, giữ gìn y đạo, trau dồi y thuật, bảo tồn âm đức, học thuốc là để thi hành nhân thuật, lấy lương tâm mà phục vụ nghề nghiệp, tính mệnh người bệnh hoàn toàn nằm trong tay mình phải chăm sóc họ hết sức cẩn thận, không nên ham lợi mà trọng người giàu khinh kẻ nghèo, nên có cử chỉ ôn hòa thân ái với bệnh nhân vì lương y không những là một vị lương tướng mà còn được coi như từ mẫu...

Chính bởi lẽ đó, tình cảm giữa thầy thuốc và bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân xưa kia rất sâu đậm, nhất là sau khi khỏi bệnh, ngoài số tiền thù lao, nếu giàu có họ hay đi lại biếu tết luôn, hoặc dù nghèo khó cũng năng đi lại hỏi thăm thầy, biểu lộ lòng biết ơn cùng sự kính mến bằng cử chỉ, lời nói.

Mỗi ông thầy đặt ra một bài thơ khuyên nhủ, bắt học trò thuộc lòng để làm phương châm, như bài Y gia thập yếu của Vân Lâm, ai học thuốc ngày xưa đều nhớ.

5. Học trò loại 2, nhất là loại 3 được thực tập mỗi khi có người đến xin thuốc hoặc mời thầy đi chẩn bệnh. Trong trường hợp bệnh nặng hay ở xa, thân nhân bệnh nhân đem cáng tới, thầy đội khăn mặc áo dài the đen nằm trên cáng, một, hai học trò lớn đi bộ đeo tay nải thuốc lững thững theo sau.

Lúc chẩn mạch, kê toa học trò phải đứng cạnh quan sát, hoặc thầy chỉ định xem mạch, bắt biện luận bệnh, thầy kiểm chứng lại sau rồi cho toa, tất cả đều được học trò ghi chép nhanh vào một quyển vở để khi về nhà làm y án. Nếu bệnh phải trị nhiều ngày, thầy để lại một người học trò xuất sắc thay mình, dặn bảo cách trị cho những ngày kế tiếp, nếu có biến chứng nguy hiểm phải báo cho thầy biết ngay để kịp thời đổi thuốc.

Sau khi bệnh khỏi, thầy thuật lại tỉ mỉ trạng chứng cùng mạch đi của bệnh nhân, luận về bệnh, giải thích cặn kẽ cho tất cả học trò biết cách sử dụng bài thuốc, cùng lấy đó làm kinh nghiệm.

Thường một vị y sư cả đời chỉ đào tạo được 2, 3 người thành thầy thuốc thực sự, khả dĩ nối được nghiệp mình. Số còn lại phần lớn tuy biết thuốc nhưng không hành nghề do học chưa đến nơi đến chốn; một phần nhỏ chuyên về một khoa hoặc chỉ chữa được vài bệnh, tự xưng là thầy thuốc gia truyền, đôi khi gánh bồ bán thuốc hoàn tán mỗi khi có phiên chợ.

HẾT.
 
Công nhận vẫn thấy Đông y thực sự kỳ diệu! Chỉ bắt mạch, hỏi bệnh mà biết được bệnh gì, tình trạng và cho thuốc để chữa được! Kỳ diệu!
 
Giờ thuốc đông y toàn trộn kháng sinh, kháng viêm, giảm đau liều cao vào. Người bệnh uống thấy nhanh khỏi cứ tưởng là thuốc tốc có tác dụng.
Đã vậy còn tin tưởng nó chỉ là thảo dược, uống nhiều, uống lâu cũng ko sao. Thế là 3 tháng suy thận, suy gan nằm chờ chết :go:

https://amp.cand.com.vn/y-te/2-tre-suy-than-do-tu-y-dung-thuoc-nam-i677575/

http://bachmai.gov.vn/tin-tuc-va-su...c-p-do-dung-thu-c-nam-khong-ro-ngu-n-g-c.html

https://vnexpress.net/gan-hong-nang-sau-khi-uong-thuoc-nam-4247375.html

https://vietnamnet.vn/suy-gan-than-nguy-kich-sau-khi-dung-thuoc-nam-chua-viem-khop-724173.html
Tiên dược chỉ có trên phim thôi nhé các con giời

via theNEXTvoz for iPhone
 
1. Trước đây hơn 1 thế kỷ rưỡi, ở nước mình Đông Y nắm nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ cho dân, khắp nơi từ kinh thành dân cư đông đúc náo nhiệt đến các thôn xóm hẻo lánh xa xôi đều có mặt thầy thuốc cổ truyền đáng kính trọng, dùng y thuật Trung Hoa phối hợp với kinh nghiệm bản thân hoặc ông cha truyền lại, để xoa dịu nỗi đau bệnh nhân, họ rất được dân chúng kính trọng, kêu bằng cụ Lang hay cụ Điều.

Mấy ông thầy đó đâu có đậu kỳ thi tốt nghiệp nào, vì ngày xưa ông vua đâu có mở trường đào tạo, cũng đâu tổ chức kỳ thi tuyển chọn y sĩ. Thầy thuốc giỏi là người chữa được bệnh hiểm nghèo, có nhiều người tới xin trị vì được dân chúng tin cậy. Hầu hết danh y xuất thân từ nho sĩ, đều thông hiểu nho học. Sau đây là các nguyên nhân chính để họ học thuốc:

— Mấy người tinh thông nho học lẫn Phật học nhưng không chịu đi thi tiến thân, hoặc không chịu làm quan dù đỗ đạt cao, vì chán cảnh đua chen danh lợi, lui về ẩn dật nơi thôn dã học nghề thuốc cứu giúp người khi đau ốm như: Tuệ Tĩnh, Lãn Ông.

— Mấy nho sĩ lận đận trường thi, rớt đường cộng danh khoa cử, trong số này có người đậu Tú Tài hoặc Nhất trường, Nhị trường mà không muốn đi dạy học, nên quay về học nghề thuốc vừa mưu sinh vừa cứu nhân độ thế. Như: Nguyễn Thế Chuẩn, Bùi Thúc Trinh.

— Mấy ông đã thành công rực rỡ trên quan trường, bước đường công danh hoàn toàn mỹ mãn, nhưng vì mê nên vẫn nghiên cứu thuốc, thường trị bệnh cho thân tộc, hoặc bạn bè trong giới quyền quý. Như: Phan Phu Tiên, Nguyễn Gia Phan.

— Mấy người được gia đình bắt học thuốc từ nhỏ, để gìn giữ nghề nghiệp tổ tông, là trường hợp cha truyền con nối hoặc để sau này chữa trị cho họ hàng làng xóm vì chỗ sống không có thầy thuốc.

2. Đối với nho sĩ đã thấu triệt nho học, họ tự đọc sách thuốc, tìm hiểu y lý rồi kiếm một vị danh y xin học trau dồi kinh nghiệm, nếu chuyên cần học tập thường 2-3 năm sau là có thể chuẩn mạch bốc thuốc. Còn mấy người chữ Hán chỉ biết sơ sơ hay con nít phải theo thầy học từ 10-15 năm, hoặc từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành mới dám hành nghề, mấy năm đầu bắt buộc học chữ Hán, sau đó ngoài sách thuốc thầy còn dạy chung các sách nho giáo.

Thông thường ông danh y mở trường ở nhà luôn để dạy con cháu mình hoặc mấy người gần xóm. Rồi tùy tiếng tăm thầy mà học trò nhiều nơi tới xin thụ giáo nhiều hay ít.

Học thuốc không giới hạn tuổi tác, mấy tuổi học cũng được, có ông râu tóc bạc phơ học chung thanh niên trai tráng. Khi xin học chỉ cần thầy chịu là được, không phải làm lễ khai tâm giống như đi học chữ nho, chuyện đóng tiền quà cáp thì tùy tâm, không bắt buộc, chỉ những khi nhà thầy có giỗ chạp hoặc tết nhất. Không như thầy đồ, chuyện tiêu xài của thầy thuốc không trông vào học trò vì đã có bệnh nhân lo rồi.

Nếu đông quá thì lấy luôn gian nhà làm lớp, học trò chia ra 3 loại tùy trình độ học vấn.

1. Người lớn mới học qua chữ nho, cùng mấy em nhỏ.

2. Tinh hiểu nho học, đọc được sách thuốc.

3. Người đã qua hai thời kỳ trên và những nho sĩ nghiên cứu thuốc từ trước.

Mỗi tuần 4-5 buổi sáng hoặc chiều, thầy khăn đóng, áo dài ngồi trên sập hay phản, giảng giải y lý hoặc ý nghĩa thâm thúy của lời văn trong sách cho học trò lớn thuộc loại 2 và 3, học trò thì ngồi trên chiếu hay hai chiếc phản kê hai bên chăm chú ngóng tai nghe lời thầy dạy, ghi chép lại những cái cần thiết.

Đối với học trò thuộc loại 1, thường sống luôn trong nhà thầy, để khi gặp việc khó khăn thầy dạy bảo luôn cho tiện. Còn nếu nhà gần thì tới giờ ăn cơm hoặc tối đến mới được về nhà. Cho nên giờ học không ấn định rõ ràng, rảnh lúc nào thầy dạy lúc đó, học trò lớn cũng giúp thầy chỉ bảo đàn em.

3. Chương trình học:

* Học sinh loại 1:

— Học chữ Hán, danh từ chuyên ngành y dược, dược tính sơ lược, mấy bài thuốc thông dụng.

— Bài học là thơ hoặc phú, có vần điệu đối nhau, cho học trò dễ học. Ví dụ:

«Ma hoàng thang trung dụng quế chi
Hạnh nhân cam thảo tứ ban nhi
Phát nhiệt ố hàn thân thể thống
Tu tri nhất phục hãn lâm ly»

(Chú giải: đây là bài thuốc Ma hoàng thang, dùng 4 vị: ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, cam thảo; trị chứng phát nóng, sợ lạnh, thân thể đau nhức. Uống vô thì mồ hôi chảy ra từng giọt).

— Ngoài học lý thuyết, học trò phải thực tập: lựa chọn nguyên liệu, bào chế dược liệu và dược phẩm, xếp thuốc, xắt thuốc thành phiến, cân thuốc. Thầy chỉ bảo sơ qua bằng miệng rồi học trò trông nhau mà làm.

* Loại 2:

— Bắt đầu dạy về sự biến hóa âm dương, thuyết ngũ hành, vận khí, cơ nguyên của bệnh, thủy hỏa vinh vệ, cách thức chuẩn đoán bệnh, phép xem mạch, sơ lược kinh lạc, ngũ tạng lục phủ, nguyên nhân cùng phép trị bệnh: nhất là thương hàn, dược tính, luận về mấy bài thuốc.

— Cũng như trên để học trò học dễ nhớ, thường thường ông thầy trích những bài thơ hoặc bài phú trong sách cổ nhân dùng làm bài học.

— Với quan niệm: «Không học cái lẽ của Dịch thì đừng nói tới học thuốc» nên thời kỳ này có giảng một bộ sách triết học sâu xa của nho giáo, là kinh Dịch. Đem cái lẽ sinh hóa tồn vong cùng sự «lớn lên, suy vong rồi chết» trong thuyết của Dịch vào khoa thuốc.

* Loại 3:

— Thầy lựa chọn một chương trong các sách:
  • Nội kinh, Nạn kinh của Biển Thước
  • Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược của Trương Trọng Cảnh
  • Đông viên thập thư của Lý Cảo
  • Đan khê tâm pháp của Chu Chấn Hanh
  • Cảnh nhạc toàn thư của Trương Giới Tân
  • Y học nhập môn của Lý Diên
  • Bộ Phùng thị của Phùng Triệu Trương
  • Trần Tu Viên y thư của Trần Tu Viên
  • Y tông kim giám của các thái y vua Càn Long
  • ...

Rồi lấy bút son khoanh vào mấy chỗ cốt yếu, tên bài thuốc hoặc ngắt câu, giải thích mấy chữ khó hiểu. Đôi khi kêu học trò về nhà đọc trước, tới ngày xx yy cùng nhau biện luận hoặc chỉ định người nào xuất sắc nhất phát biểu ý kiến trước rồi tự thầy giảng lại. Sách nào càng ý nghĩa sâu xa thì buổi học càng kéo dài nhưng mọi người đều thích thú vì môn học này như ngàn sao lấp lánh trên trời, càng xa bao nhiêu lại càng hấp dẫn, huyền bí bấy nhiêu.

— Ngoài ra còn đàm luận về lẽ biến của Dịch, chỉ cho học trò đọc thêm sách của Vương Thúc Hòa, Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, Bản thảo cầu chân của Hoàng Cung Tú, Y tông tâm lĩnh của Lãn Ông... để tăng thêm phần hiểu biết.

4. Sau giờ học hay những lúc nhàn rỗi, thầy thường kể lại kinh nghiệm trị bệnh mà thầy từng trải, những mẫu chuyện vui buồn gặp phải lúc hành nghề, khuyên răn học trò: quý mến đồng nghiệp, đừng giận hờn, phân bì, ganh tị nhau, giữ gìn y đạo, trau dồi y thuật, bảo tồn âm đức, học thuốc là để thi hành nhân thuật, lấy lương tâm mà phục vụ nghề nghiệp, tính mệnh người bệnh hoàn toàn nằm trong tay mình phải chăm sóc họ hết sức cẩn thận, không nên ham lợi mà trọng người giàu khinh kẻ nghèo, nên có cử chỉ ôn hòa thân ái với bệnh nhân vì lương y không những là một vị lương tướng mà còn được coi như từ mẫu...

Chính bởi lẽ đó, tình cảm giữa thầy thuốc và bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân xưa kia rất sâu đậm, nhất là sau khi khỏi bệnh, ngoài số tiền thù lao, nếu giàu có họ hay đi lại biếu tết luôn, hoặc dù nghèo khó cũng năng đi lại hỏi thăm thầy, biểu lộ lòng biết ơn cùng sự kính mến bằng cử chỉ, lời nói.

Mỗi ông thầy đặt ra một bài thơ khuyên nhủ, bắt học trò thuộc lòng để làm phương châm, như bài Y gia thập yếu của Vân Lâm, ai học thuốc ngày xưa đều nhớ.

5. Học trò loại 2, nhất là loại 3 được thực tập mỗi khi có người đến xin thuốc hoặc mời thầy đi chẩn bệnh. Trong trường hợp bệnh nặng hay ở xa, thân nhân bệnh nhân đem cáng tới, thầy đội khăn mặc áo dài the đen nằm trên cáng, một, hai học trò lớn đi bộ đeo tay nải thuốc lững thững theo sau.

Lúc chẩn mạch, kê toa học trò phải đứng cạnh quan sát, hoặc thầy chỉ định xem mạch, bắt biện luận bệnh, thầy kiểm chứng lại sau rồi cho toa, tất cả đều được học trò ghi chép nhanh vào một quyển vở để khi về nhà làm y án. Nếu bệnh phải trị nhiều ngày, thầy để lại một người học trò xuất sắc thay mình, dặn bảo cách trị cho những ngày kế tiếp, nếu có biến chứng nguy hiểm phải báo cho thầy biết ngay để kịp thời đổi thuốc.

Sau khi bệnh khỏi, thầy thuật lại tỉ mỉ trạng chứng cùng mạch đi của bệnh nhân, luận về bệnh, giải thích cặn kẽ cho tất cả học trò biết cách sử dụng bài thuốc, cùng lấy đó làm kinh nghiệm.

Thường một vị y sư cả đời chỉ đào tạo được 2, 3 người thành thầy thuốc thực sự, khả dĩ nối được nghiệp mình. Số còn lại phần lớn tuy biết thuốc nhưng không hành nghề do học chưa đến nơi đến chốn; một phần nhỏ chuyên về một khoa hoặc chỉ chữa được vài bệnh, tự xưng là thầy thuốc gia truyền, đôi khi gánh bồ bán thuốc hoàn tán mỗi khi có phiên chợ.

HẾT.

Duke
 
Giờ thuốc đông y toàn trộn kháng sinh, kháng viêm, giảm đau liều cao vào. Người bệnh uống thấy nhanh khỏi cứ tưởng là thuốc tốc có tác dụng.
Lại mấy thằng ml tuyên truyền tư tưởng sai lầm, bảo sao giới trẻ ít tin tưởng đông y
Khám bệnh yhct cứ vào bệnh viện nhà nước ấy. Đảm bảo thuốc chuẩn. T đang chữa và chắc chắn luôn. Thằng ngu ạ
 
Lại mấy thằng ml tuyên truyền tư tưởng sai lầm, bảo sao giới trẻ ít tin tưởng đông y
Khám bệnh yhct cứ vào bệnh viện nhà nước ấy. Đảm bảo thuốc chuẩn. T đang chữa và chắc chắn luôn. Thằng ngu ạ
https://soyte.phutho.gov.vn/Chuyen-muc-tin/Chi-tiet-tin/title/1056/ctitle/26
https://soyte.hanoi.gov.vn/tin-tuc-...khoe-khi-su-dung-thuoc-ong-duoc-tron-tan-duoc
http://bachmai.gov.vn/tin-tuc-va-su...th-n-du-c-tr-n-corticoid-giup-tr-an-ngon.html

Uh, m là thông minh nhất
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
Đinh Đinh Đang Đang,
Người trả lời cuối
Đinh Đinh Đang Đang,
Trả lời
10
Lượt xem
1.522
Quay lại
Lên đầu trang