thảo luận Nhân vật kỳ lạ nhất Tây du ký tiên giới không thu, địa ngục không nhận nhưng lại có quan hệ với Tôn Ngộ Không

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề nomercy_plz
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
ngưu ma vương đầu truyện là thái ất tiên, cuối truyện lên đại la tiên mà rồi thiên hạ cũng chỉ nhớ anh là thằng mọc sừng :(( tội nghiệp quá
 
Mấy anh Trung Thổ toàn phế vật. Phong Thần thì Tam thanh bị 2 thằng thánh nhân Tây phương xỏ mũi dắt sạch đệ tử, huynh đệ tương tàn => Đạo giáo suy vi. Tây du thì Thiên Đình trung thổ có 1 con khỉ cũng không trị đc phải mời ngoại binh Như Like mới trị đc.
Tới cả thần thoại thủ dâm ra cũng phải bị ngoại bang hấp diêm mới chịu đc
:giggle:
Thần thoại người ta bám sát chính sử vậy rồi anh còn chê
:shame:

Thêm mớ truyện chưởng nữa, sư tổ thánh tăng Đạt Ma của bắc đẩu võ lâm trung nguyên cũng từ Thiên Trúc.
 
cho anh nào thắc mác là quan hệ với tnk lúc nào, có 2 lần nhé, lần 1 là giả a trâu, lần 2 là thu nhỏ bay vào bụng nhưng tnk là khỉ, ở trong rừng xong ra xã hội cũng chỉ vào tu với bồ đề xong cũng lên thẳng thiên đình rồi lại phải nằm núi 500 năm, được thả ra thì đi với 1 anh thấy gái là né nên kinh nghiệm ko có, bay một phát từ bụng xuống 2 gang, cứ thế mà dộng, mà tnk lại là khỉ đá, ăn tiên đơn nên cứng còn hơn sắt thép, lại nhiều lông, nên cứ 1 phát là tẩu tẩu lại trợn cả mắt lên, chỉ biết rên hừ hừ giả đò đau bụng
 
Voz anti tàu nhưng thớt vh tàu luôn nóng
Tôi ghét tàu mà còn phải vào hóng, phải chi VB ta cũng có nhân vật nào nổi tiếng mà thoát khỏi cái nhiệm vụ đánh giặc giữ nước thì tốt.
Đc ông thánh gióng có tí hư cấu hay hay thì cũng chỉ để đánh giặc.

Tấm cám quá nổi tiếng mà cốt truyện giống hệt cinderella nên cũng chán.
 
Mụ thiết phiến là bà la sát aka Yasha thuộc Bát bộ chúng thần hộ pháp phật giáo. Bối phận hơi bị cao nên cả phật lẫn đạo đ làm gì đc
h1kRuMc.jpg

Mà ngẫm lại bọn Trung Thổ thua cũng đ oan, Phật nô trong 3 tam giới đông như quân Nguyên. Tới cán bộ cao cấp nhất của Thiên Đình còn cài đc 1 em bí thư vào thì không toang cũng hơi phí
qZV215Z.png
qZV215Z.png

Mà tự dưng lại muốn đọc lại Tây du xem sao, nghi ngờ con khỉ quậy không phải là bt mà là do phe Thiên đình muốn lọc bọn Phật nô trong biên chế nên mượn tay con khỉ làm
ACJA04Q.png


Gửi từ Heaven bằng vozFApp
Nếu xét trên phương diện của Phật giáo thì nhiều khả năng La Sát là A-tu-la. Bởi trong Lục đạo thì chỉ có A-tu-la là gần tương đồng với hình tượng La sát. Điều này cũng hợp lý vì A-tu-la có 4 chủng loại: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Trong đó chủng Hóa sanh là mạnh nhất, có khả năng tranh đấu cùng Đế Thích, Phạm vương và Tứ thiên vương.
Chủng A-tu-la thiện có ác có. Có phước báo hơn loài Người nhưng bậc dưới của chư Thiên.
Đặc điểm: tính nóng như lửa (giống với bà La sát). A-tu-la nữ cũng thường rất xinh đẹp (cũng giống luôn), thích gây họa, chiến tranh, đánh nhau.
Là đối tượng chèo kéo cưa cẩm của A-tu-la nam và Thiên nam.
Khả năng cao Thiết Phiến là Atula, sinh ra từ Huyết hải của Minh Hà Lão Tổ.

Nhưng mà Atula có 1 đặc điểm là nam xấu xí, nữ sinh đẹp, tính dâm dục nhưng lại không sinh đẻ được như nhân loại.

La sát tư là phiên âm tiếng khựa của Rakshasi. Khỏi ngồi đoán mò atula yasha gì hết. Hindu & Phật giáo không chỉ có bát bộ chúng đâu mấy chú.
2SX6w5X.gif
 
La sát tư là phiên âm tiếng khựa của Rakshasi. Khỏi ngồi đoán mò atula yasha gì hết. Hindu & Phật giáo không chỉ có bát bộ chúng đâu mấy chú.
2SX6w5X.gif
Thằng át lát dưới sign fen còn có vẻ tìm hiểu nhiều phật giáo ấn độ phết.
Chính nó bảo đạo giáo copy nhiều thứ từ Bà la môn Ấn như thắp hương, đốt vàng mã, dâng sao giải hạn, cầu siêu... các kiểu mà.

Thờ cúng tổ tiên thì 1 số nơi ở 1 số nước ĐNA cũng có lệ đó,
Có 1 số đứa lại xuyên tạc là ông bà ta trước khi bị bắc thuộc thì k thờ cúng tổ tiên.
Mở mồm là anti tàu thì đập bàn thờ tổ tiên đi.
https://voz.vn/t/bao-dich-tau-que-h...-nguoi-trung-quoc.133827/page-15#post-4032331
#297 (bị ra đảo rồi)

Mịa làm như ko có tàu thì k biết thắp hương từ Ấn mới sợ.
Phật giáo truyền từ phía nam, vào ĐNA trước rồi mới đi lên phía bắc tung cẩu.
Phật giáo Ấn truyền vào Luy Lâu trước, đến bắc thuộc thì lại truyền thêm thứ dị bản của tàu tha về phổ biến hơn cái cũ.
 
Tôi ghét tàu mà còn phải vào hóng, phải chi VB ta cũng có nhân vật nào nổi tiếng mà thoát khỏi cái nhiệm vụ đánh giặc giữ nước thì tốt.
Đc ông thánh gióng có tí hư cấu hay hay thì cũng chỉ để đánh giặc.

Tấm cám quá nổi tiếng mà cốt truyện giống hệt cinderella nên cũng chán.
Có Đấng Messiah là người Việt, hiện đang ở Việt Nam đấy phen.😉
 
Thằng át lát dưới sign fen còn có vẻ tìm hiểu nhiều phật giáo ấn độ phết.
Chính nó bảo đạo giáo copy nhiều thứ từ Bà la môn Ấn như thắp hương, đốt vàng mã, dâng sao giải hạn, cầu siêu... các kiểu mà.

Thờ cúng tổ tiên thì 1 số nơi ở 1 số nước ĐNA cũng có lệ đó,
Có 1 số đứa lại xuyên tạc là ông bà ta trước khi bị bắc thuộc thì k thờ cúng tổ tiên.
Mở mồm là anti tàu thì đập bàn thờ tổ tiên đi.
https://voz.vn/t/bao-dich-tau-que-h...-nguoi-trung-quoc.133827/page-15#post-4032331
#297

Mịa làm như ko có tàu thì k biết thắp hương từ Ấn mới sợ.
Phật giáo truyền từ phía nam, vào ĐNA trước rồi mới đi lên phía bắc tung cẩu.
Phật giáo Ấn truyền vào Luy Lâu trước, đến bắc thuộc thì lại truyền thêm thứ dị bản của tàu tha về phổ biến hơn cái cũ.
Át nát họ Ngô sống ở Tây Nguyên mà.

Phật giáo khi truyền vào nước ta vào thế kỉ III trước Công nguyên, lúc này là Giao Chỉ, là bằng đường miệng và tín ngưỡng, khi đó chưa có kinh kệ gì. Phải tới thế kỉ I trước công nguyên thì người ta mới viết kinh bằng nhóm ngôn ngữ Prakrit.

Còn phía trên khựa nó đi qua Con Đường Tơ Lụa vào đầu công nguyên, lúc này có kinh kệ rồi mới xuất hiện mấy ông dịch giả gốc "Thiên Trúc" sang truyền đạo dịch sang chữ Hán rồi hệ thống lại, đẩy ngược xuống phía Nam.

Mà mấy ông đại sư đại sĩ thời xưa công nhận IQ cao học nhanh hiểu sâu. Mới sang khựa ở một thời gian học tiếng rồi là những người đầu tiên tự dịch lại luôn, chẳng có nhiều phương tiện để học ngoại ngữ như bây giờ mà vẫn thông. Không như đám sư cọ bần nông thời nay.
 
Sửa lần cuối:
Là bồ nhí của 1 cốp to trên thiên đình, sinh cho cốp 1 đứa con kháu khỉnh. Tình cờ là cả pháp bảo của công chúa (quạt 3 tiêu) và của đứa con (lửa 3 muội) đều giống với skill của cốp đó. :shame:

Ô dù vững trãi như vậy thì ai dám động vào :shame:
Nghe a tả giống thợ điện vậy
 
Át nát họ Ngô sống ở Tây Nguyên mà.

Phật giáo khi truyền vào nước ta vào thế kỉ III trước Công nguyên, lúc này là Giao Chỉ, là bằng đường miệng và tín ngưỡng, khi đó chưa có kinh kệ gì. Phải tới thế kỉ I trước công nguyên thì người ta mới viết kinh bằng nhóm ngôn ngữ Prakrit.

Còn phía trên khựa nó đi qua Con Đường Tơ Lụa vào đầu công nguyên, lúc này có kinh kệ rồi mới xuất hiện mấy ông dịch giả gốc "Thiên Trúc" sang truyền đạo dịch sang chữ Hán rồi hệ thống lại, đẩy ngược xuống phía Nam.

Phật giáo truyền vào nước ta bằng đường biển có cả thương nhân đi kèm theo.
https://langmai.org/tang-kinh-cac/v...u-luan/chuong-01-trung-tam-phat-giao-luy-lau/
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=52E612

Trong lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo châu Á nói chung, Luy Lâu được coi là trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, sớm hơn cả hai trung tâm Phật giáo khác là Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành của người láng giềng Trung Quốc.

Ðạo Phật truyền qua Trung Hoa bằng hai đường: Đường bộ từ Trung Á, và đường thủy ngang qua biển Nam Hải.

Sự thực là tuy con đường bộ nối liền Ấn Ðộ và Trung Hoa đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử truyền bá Phật giáo vào Trung Hoa, nhưng những vị tăng sĩ đầu tiên tới Trung Hoa hầu hết đều từ đường biển mà tới. Lý do giản dị nhất là hồi đó tuy con đường thủy có thể dài hơn nhưng tương đối an ninh và dễ dàng hơn con đường núi non và sa mạc rất nhiều.

Con đường bộ trở nên tương đối dễ dàng bắt đầu từ thế kỷ thứ tư. Tuy vậy Pháp Hiển (cuối thế kỷ thứ tư) và Huyền Trang (thế kỷ thứ bảy) vẫn còn phải trải qua bao khổ nhọc mới đi trọn được con đường ấy. Nhiều vị tăng sĩ ở các nước Trung Á đã sang Việt Nam rồi đến Trung Hoa bằng đường thủy, trong khi đó những nước Trung Á ấy lại nằm giữa Ấn Ðộ và Trung Hoa.

Nhưng tại sao người ta lại bịa đặt ra câu chuyện giấc mộng? Rất có thể vì trong đời nhà Hán, ngoài trung tâm Phật giáo Lạc Dương còn có trung tâm Bành Thành và trung tâm Luy Lâu. Những người theo Phật giáo ở kinh đô Lạc Dương trong khoảng giữa thế kỷ thứ hai có thể đã tạo dựng nên câu chuyện kia để chứng tỏ rằng Phật giáo Lạc Dương có sớm nhất, với mục đích tạo uy tín cho trung tâm này. Nếu câu chuyện thấy có chép trong tác phẩm Lý Hoặc Luận, chắc hẳn đó là một sự thêm thắt sau này. Mâu Tử học Phật ở Luy Lâu, không phải ở Lạc Dương; ông có thể chưa bao giờ nghe nói đến một nơi nào có Phật giáo ngoại trừ Giao Châu cả, và câu chuyện giấc mộng chắc đã được thêm vào tác phẩm sớm nhất là vào giữa thế kỷ thứ ba. Trong Lý Hoặc Luận, ta có thể tìm ra một số từ ngữ và cách hành văn có màu sắc thế kỷ thứ ba và thứ năm; những yếu tố này cho ta biết một vài điều sửa chữa và thêm thắt đã xảy ra cho tác phẩm trong các thế kỷ đó.

Nhà học giả Trung Hoa Hồ Thích (Hồ Thích Luận Học Cận Trước, Thượng Hải, 1935) nói rằng hồi đó đã có những đường liên lạc giữa trung tâm Luy Lâu và trung tâm Bành Thành. Ông cho rằng đã có những vị tăng sĩ khởi hành đi từ Giao Châu đến Vũ Châu (ở Quảng Tây) rồi từ Quảng Tây đến Quảng Ðông, và từ Quảng Đông vượt qua núi non đi tới miền hạ lưu châu thổ sông Dương Tử. Hậu Hán Thư cũng có nói đến những chuyến đi từ Giao Châu đến miền hạ lưu sông Dương Tử bằng đường biển. Hậu Hán Thư ghi chép: Quận Nhật Nam đem phẩm vật cống hiến Hán Ðế bằng đường biển. Khương Tăng Hội là một vị tu sĩ dòng dõi người Khương Cư (Sogdiane), sinh trưởng trên đất Giao Châu vào đầu thế kỷ thứ ba, đã đi từ Giao Châu đến hạ lưu sông Dương Tử để truyền đạo. Ngoài lý do trên còn có những chứng cớ sau đây giúp ta kết luận rằng trung tâm Luy Lâu vào đời Ðông Hán là một căn cứ Phật giáo quan trọng, từ đó Phật giáo đã được truyền vào đất Hán:

  1. Trong ba trung tâm Phật giáo đời Hán, trung tâm Luy Lâu là trung tâm có tổ chức tăng đoàn sớm nhất. Trong sách Lý Hoặc Luận, viết về những tệ trạng của giới tăng sĩ Giao Châu vào hạ bán thế kỷ thứ hai, Mâu Tử nói: “Sa môn ngày nay có kẻ lại thích uống rượu ngon, có khi có vợ con, biết cất giữ tiền bạc, của quý, lại chuyên môn lừa dối”. Như vậy ta biết rằng tăng đoàn Giao Châu thời đó đã khá đông đảo – chỉ khi nào quá đông đảo mới có nhiều tệ đoan như vậy. Danh từ “Sa môn ngày nay” mà Mâu Tử dùng không thể để chỉ một số ít tăng sĩ Ấn Ðộ có mặt tại Giao Châu, mà là chỉ cho số đông tăng sĩ Giao Châu vậy.
  2. Ở Trung Hoa, mãi đến năm thứ hai niên hiệu Gia Bình (năm 250) mới có Ðàm Ma Ca La từ Trung Ấn qua thực hành pháp “thập nhân thọ” để làm lễ trao giới xuất gia cho người muốn làm Sa môn. Theo phép này, lễ xuất gia truyền giới phải do một hội đồng mười vị tăng sĩ làm chủ tọa mới được hợp pháp. Trong mười vị đó, có ba vị thầy (Tam sư: hòa thượng, yết ma và giáo thọ) và bảy vị Tôn chứng chứng minh. Ở Giao Châu, phép “thập nhân thọ” này đã được áp dụng chậm nhất là vào hạ bán thế kỷ thứ hai. Ta thấy Khương Tăng Hội (sinh trưởng tại Giao Châu, cha mẹ mất lúc mười tuổi, đã đi xuất gia tại Giao Châu khoảng mười năm sau đó) viết trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý, có than thở rằng Tam sư của mình đã viên tịch quá sớm: “Tôi sinh ra như dấu tích cuối cùng, vừa mới đủ sức vác củi thì mẹ cha đều mất, bậc Tam sư cũng viên tịch, nhìn lên mây trời, buồn thấy mình thiếu người chỉ dạy…”. Trong số mười vị truyền giáo cho Khương Tăng Hội, ta không biết có vị nào là tăng sĩ ngoại quốc không. Ta cũng không thể nói tất cả mười vị kia đều là tăng sĩ ngoại quốc được. Khương Tăng Hội tuy là dòng dõi người Khương Cư, nhưng theo Lương Cao Tăng Truyện, thì cha mẹ ông đã sang cư trú tại Giao Châu làm nghề buôn bán, và khi ông lên mười tuổi thì cha mẹ đều mất. Sinh trưởng tại Giao Châu, cố nhiên ông nói tiếng Giao Châu; xuất gia học Phật tại Giao Châu và có khả năng dịch thuật kinh Phạn ra kinh Hán, ông chắc chắn đã học Phạn ngữ và Hán ngữ tại Giao Châu. Cao Tăng Truyện (viết vào khoảng 520 sau Tây lịch) cho rằng Tăng Hội là vị tăng sĩ đầu tiên xuất hiện sớm nhất ở Giang Nam, và trước đó tại đất này chỉ có một vị cư sĩ tên là Chi Khiêm người nước Nhục Chi từ phương Bắc chạy loạn xuống.
  3. Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật bằng Hán tự đã được viết tại Giao Châu. Tác giả, như ta đã biết, là Mâu Tử, sinh vào khoảng 165 – 170. Người Phật tử này đã học Phật tại Giao Châu và viết cuốn sách kia để đáp lại những kích bác về Phật giáo của những người không theo đạo Phật, nhất là những người theo Khổng Lão từ đất Hán chạy qua tị nạn Tam Quốc. Bài tựa sách Lý Hoặc Luận nói: “Sau khi Hán Linh Ðế mất[4], trong nước rối loạn, chỉ có đất Giao Châu tạm yên, những bậc dị nhân Bắc phương đều đến ở lại đây, nhiều người theo thuật tịch cốc trường sinh của thần tiên. Thời ấy có nhiều bậc học giả, Mâu Tử thường đem Ngũ Kinh ra vấn nạn, nhiều đạo gia và thuật sĩ không làm sao đối đáp lại được”. Mâu Tử học Phật ở Giao Châu, chắc chắn không phải với những nhân sĩ theo đạo tịch cốc trường sinh, mà là với những tăng sĩ Ấn Ðộ có mặt tại Giao Châu thời ấy và với những tăng sĩ người Giao Châu. Không biết Mâu Tử có góp phần vào công việc dịch thuật kinh sách Phạn ngữ ra Hán ngữ đầu tiên về Phật giáo không? Có lẽ Mâu Tử đã phải học tiếng Phạn để nghiên cứu Phật giáo. Cũng có thể đồng thời với những kinh điển Phạn ngữ lưu hành, đã có một số kinh được dịch ra Hán ngữ rồi, do những vị tăng sĩ Ấn Độ và những tăng sĩ Giao Châu vừa biết Hán tự vừa biết Phạn ngữ phụ trách. Trong những nhân sĩ từ nhà Hán qua lánh nạn có thể có một số ít người theo gương Mâu Tử theo đạo Phật và góp công vào việc dịch thuật kinh điển. Xét về hình thức cũng như nội dung kinh Tứ Thập Nhị Chương, ta có thể nói rằng kinh này đã được trích dịch lại từ nhiều kinh điển, và xuất hiện tại Giao Châu trong thế kỷ thứ hai Tây lịch, chứ không phải do phái đoàn của Hán Minh Ðế mang từ nước Nhục Chi về.
  4. Sách Ngô Chí có chép một lá thư của Viên Huy nhà Hán gửi từ Giao Châu cho thượng thư lệnh là Tuân Húc năm 207, trong đó có một đoạn như sau: “Sĩ Nhiếp ở Giao Châu đã học vấn sâu rộng lại giỏi chính trị, nên trong buổi đại loạn, vẫn giữ được một quận yên ổn hơn 20 năm, bờ cõi không việc gì, dân vẫn yên nghiệp. Anh em đều làm quan coi quận, hùng tướng một châu, ở lánh xa muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết: kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường; người Hồ đi sát bánh xe đốt hương thường có đến mấy mươi người…”. Danh từ Hồ ở đây chỉ cho người Ấn Ðộ. Ðây cũng là một chứng cớ về tính chất Ấn Ðộ của đạo Phật Giao Châu trong hạ bán thế kỷ thứ hai.
  5. Vào thời Mâu Tử và Khương Tăng Hội (cuối thế kỷ thứ hai, đầu thế kỷ thứ ba) ở Giao Châu đã có lưu hành ít nhất là mười lăm bộ kinh rồi, và số tăng sĩ tại Giao Châu đã có vào khoảng năm trăm vị. Tài liệu này được chép trong cuốn Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục, một tác phẩm hoàn thành đầu đời Trần, nói về ba phái Thiền tông Việt Nam trước đó. Sau đây là đoạn văn liên hệ tới tiểu sử thiền sư Thông Biện, tuy hơi dài nhưng là tài liệu quan trọng nhất của Việt Nam về lịch sử du nhập của Phật giáo vào Giao Châu:
 
Các fence đang nhầm giữa La Sát và A tu la thì phải. La sát thần không hẳn là xấu mà la sát thần đại diện cho chiến tranh, cho chết chóc. Nó không giống với diêm vương vì diêm vương dựa theo quy luật sinh lão bệnh tử còn la sát dựa theo quy luật luân hồi : chiến tranh - chết chóc - tái sinh. Giống như thanh lọc member vậy. Còn a tu la là ác quỷ đầu thai để hại creep ko có nội năng
 
Thằng Lôi Chấn Tử thì mạnh gì?
Lôi Chấn Tử sau làm Lôi Công, cả ngày đi khua búa tạo sét, chịu Long Vương điều khiển, Lôi Chấn Tử hình như dẹo nên phải lên Bảng Phong Thần thì phải.

Na Tra nó nhục thân thành thánh, tự do tự tại.
Thế chính ra lên bảng phong thần cũng không hay ho mấy fen nhỉ, kiểu bị ép về thiên đình làm việc. Hên thì được chức ngon, đen thì ...
 
Thế chính ra lên bảng phong thần cũng không hay ho mấy fen nhỉ, kiểu bị ép về thiên đình làm việc. Hên thì được chức ngon, đen thì ...
cũng gần đúng vậy, Nguyên ra, sau khi Nhị Lang đại náo thiên đình, được sư phụ giả lệnh Nguyên thủy thiên tôn đến cứu, Ngọc đế sân si đến méc hồng quân lão tổ, hồng quân lão tổ thấy trời đất vẫn còn hỗn loạn, chưa ra kỷ cương, không có ai làm việc, nên lập bảng phong thần gọi Nguyên thủy nguyên tôn, thông thiên giáo chủ, lão tử, nữ oa, ngọc đế, và vài ông khác đến trao bảng phong thần về chuẩn bị làm việc. nữ oa về gọi 3 con yêu đi phá trụ vương. Chính bảng phong thần cốt chỉ để phân bổ công việc. thường mấy chư tiên bị chết hay thua thì việc hẻo lắm.
 
Át nát họ Ngô sống ở Tây Nguyên mà.

Phật giáo khi truyền vào nước ta vào thế kỉ III trước Công nguyên, lúc này là Giao Chỉ, là bằng đường miệng và tín ngưỡng, khi đó chưa có kinh kệ gì. Phải tới thế kỉ I trước công nguyên thì người ta mới viết kinh bằng nhóm ngôn ngữ Prakrit.

Còn phía trên khựa nó đi qua Con Đường Tơ Lụa vào đầu công nguyên, lúc này có kinh kệ rồi mới xuất hiện mấy ông dịch giả gốc "Thiên Trúc" sang truyền đạo dịch sang chữ Hán rồi hệ thống lại, đẩy ngược xuống phía Nam.

Mà mấy ông đại sư đại sĩ thời xưa công nhận IQ cao học nhanh hiểu sâu. Mới sang khựa ở một thời gian học tiếng rồi là những người đầu tiên tự dịch lại luôn, chẳng có nhiều phương tiện để học ngoại ngữ như bây giờ mà vẫn thông. Không như đám sư cọ bần nông thời nay.
Sao lâu nay không thấy atlas ?
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
nomercy_plz,
Người trả lời cuối
vannguyen1994.ver2,
Trả lời
76
Lượt xem
19.265
Quay lại
Lên đầu trang