Codex Alimentarius Commission được thành lập bởi FAO và WHO năm 1963 để (i) bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và (ii) đảm bảo công bằng trong thương mại thực phẩm [1a]. Tổ chức này không quy định giới hạn dư lượng tối đa cho ethylene oxide hay chất phân hủy (degradation product) 2-chloroethanol của nó [1b].
[1a]
https://www.usda.gov/.../documents/ORACBA_July%202019_v3.pdf
[1b]
https://www.canada.ca/.../2019/ethylene-oxide/document.html
1. Giới hạn dư lượng tối đa cho phép
- Theo nguồn tài liệu của EURL-SRM, nhiều nước bao gồm Úc, Nhật, Hàn, Thái không quy định hiển hiện giới hạn dư lượng tối đa (MRL) cho ethylene oxide (EO) [2]. Canada và Mỹ thì quy định giới hạn dư lượng tối đa của ethylene oxide (EO) là 7 mg/kg và 2-chloroethanol (2-CE) là 940 mg/kg -- cho gia vị, thảo mộc khô, rau khô, và hạt có dầu (quả óc chó thì có MRL cho EO là 50 ppm, tại Mỹ) [2]. Trong khi đó, ở Châu Âu, giới hạn dư lượng tối đa cho
tổng EO và 2-CE là 0.02 tới 0.1 mg/kg -- tùy loại thực phẩm; 0.1 mg/kg cho gia vị [2].
- Giả sử chọn MRL cho gia vị làm tiêu chuẩn để so sánh, thì giới hạn dư lượng tối đa của EO tại Mỹ rộng gấp 70++ lần so với giới hạn tại Châu Âu; và giới hạn dư lượng tối đa của 2-CE tại Mỹ rộng gấp 9,400+ lần so với giới hạn tại Châu Âu. Tại sao lại có sự khập khiễng này?
[2]
https://www.eurl-pesticides.eu/.../EurlSrm_Observation_EO...
2. Nguy hiểm của EO -- tiếp xúc qua đường hít thở
- 4 công ty hóa chất sản xuất/sử dụng ethylene oxide (EO) công nghiệp tại Anh, trong giai đoạn 1956 – 1985, có 1,471 lao động phơi nhiễm hóa chất qua đường hít thở -- với bình quân nồng độ EO trong không khí được duy trì theo quy định năm 1977, tức là ở dưới mức 5 ppm (9 mg/m3); còn trước năm 1977 thì có những thời điểm nồng độ phơi nhiễm vượt trên 700 ppm [3: trang 194]. Sau 15 năm theo dõi, tức là ở thời điểm năm 2000, có 120 người chết vì ung thư -- cao hơn con số ước tính bình quân quốc gia là 108.6 người (dựa trên các thông số cấp quốc gia về giới tính, tuổi tác, năm lịch) [3: trang 207, 227][4]. (Xin tham khảo tài liệu trích dẫn để có thông tin chính xác về tính toán, thống kê, ngoại lệ, y khoa, diễn giải -- cũng như các nghiên cứu khác).
- Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả theo dõi 8 bệnh viện với 1,405 lao động có thể bị phơi nhiễm EO, tại các phòng khử trùng của bệnh viện (sterilization units). Có 68 người chết vì ung thư; con số ước tính bình quân quốc gia là 75.6 [3][4].
- Nhìn chung, tài liệu đánh giá rằng bằng chứng về khả năng gây ung thư của EO lên con người là hạn chế, nhưng bằng chứng thí nghiệm trên động vật thì đầy đủ [3: trang 287]. (Trong 1 ví dụ thí nghiệm trên chuột, nồng độ phơi nhiễm EO trong không khí là ở mức 50 - 200 ppm, 6h/ngày, 5 ngày/tuần, liên tục trong 6 tháng tới 1 năm [3: trang 239] -- cao hơn mức phơi nhiễm của người.)
[3]
https://monographs.iarc.who.int/.../2018/06/mono97-7.pdf
[4]
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/15031395/
Chú thích: 50 ppm ethylene oxide trong không khí là nhiều hay ít?
- Tưởng tượng nhỏ 1 giọt giấm (acetic acid), ngưỡng để bắt đầu ngửi thấy nó là 1 – 5 ppm. Đối với mùi trứng ung (hydrogen sulfide), ngưỡng để bắt đầu ngửi thấy nó là 0.008 – 0.1 ppm. Đối với mùi nước tiểu (ammonia), ngưỡng để ngửi thấy nó là khoảng 17 ppm. Ethyne oxide là khí độc có mùi ngọt, ngưỡng để ngửi thấy nó ở khoảng 430 ppm. Có thể tạm suy là 50 ppm ethylene oxide là rất nhiều, nhưng mà ta không ngửi được.
3. Nguy hiểm của EO -- tiếp xúc qua đường thực phẩm
- Không có dữ liệu nguy hại của EO qua đường ăn uống trên người; chỉ có dữ liệu nguy hại trên chuột chù [5: trang 33]. Trong 1 ví dụ về phơi nhiễm trung hạn, 1 nhóm nghiên cứu thúc chuột chù (rat) uống dầu ăn chứa EO với tỉ lệ từ 0 tới 100 mg/kg/ngày (khối lượng EO trên trọng lượng cơ thể trên ngày) * 22 lần trong 30 ngày. Họ thấy rằng dầu chứa EO ở mức 30 mg/kg/ngày không mang đến tác dụng phụ (quan sát được). Giả sử loài chuột chù này có tuổi thọ 2 năm, thì đây là 4% cuộc đời bị thúc uống chất độc liên tục. (Xin tham khảo tài liệu trích dẫn để có thông tin chính xác hơn -- cũng như các ví dụ khác.)
- Trong 1 nghiên cứu khác, Dunkelberg (1982) thực hiện thí nghiệm thúc chuột chù Sprague-Dawley uống dầu chứa EO với tỉ lệ từ 0 tới 30 mg/kg/ngày * 2 ngày/tuần * 150 tuần. Họ phát hiện tỉ lệ 7.5 mg/kg/ngày dẫn tới ung thư; tỉ lệ 30 mg/kg/ngày dẫn tới tử vong sớm [5]. Giả sử loài chuột này có tuổi thọ trung bình 3 năm, thì chúng bị thúc uống chất độc liên tục, đều đặn trong suốt cuộc đời.
- Trong khi tài liệu [5] xem xét vào tháng 09/2020 bởi US CDC (trang A-23) từ chối tính mức độ rủi ro tối thiểu của EO, với lý do không có dữ liệu phản ứng liều lượng trên người (no dose-response data for humans) thì tài liệu [6] xuất bản năm 2001 ước tính liều lượng 7.5 và 30 mg/kg/ngày trên chuột chù thành 0.51 và 2.03 mg/kg/ngày cho người (trang 5).
- Thử làm 1 bài tính nhỏ. Giả sử 1 người cân nặng 45 kg ăn 1 gói mì Hảo Hảo có trọng lượng 75 g, và ăn mì hàng ngày cho đến hết đời. Giả sử 1 gói mì Hảo Hảo chứa mức tồn dư tối đa cho phép của Mĩ, tức là 7 mg/kg EO. Như vậy có nghĩa là gói mì này chứa tổng cộng 0.525 mg EO. Chia cho bình quân cân nặng ta có 0.012 mg/kg/ngày, nhỏ hơn con số 0.51 mg/kg/ngày tính phía trên.
Ngoài ra, EO còn có đặc tính dễ bay hơi. Khi nấu nướng, ít nhất 90% EO được loại bỏ, biến đổi thành chất không ung thư như ethylene glycol hoặc 1,2-ethanediol [6]. Và cũng vì đặc tính dễ bay hơi này, mà sau khi phun xịt 14 ngày, phần lớn EO sẽ bay khỏi thực phẩm, tới mức dưới 5 mg/kg – ngưỡng phát hiện của công nghệ thời 1999 [6].
[5]
https://www.atsdr.cdc.gov/toxprofiles/tp137.pdf
[6]
https://www.foodstandards.gov.au/.../A445_FAR_091002.pdf
4. Nguy hiểm của 2-CE -- tiếp xúc qua đường thực phẩm
- Tài liệu [6] của Canada xuất bản năm 2001 có viết rằng 2-EC không phải là chất gây ung thư (known carcinogen). Tài liệu cũng ghi rằng độ nguy hiểm của 2-EC trong thực phẩm chưa có dữ liệu chứng minh. Có lẽ đó là 1 phần lý do vì sao Canada đặt ngưỡng dư lượng tối đa là 7 mg/kg cho chất gây ung thư EO, và ngưỡng 940 mg/kg cho 2-EC.
Tuy nhiên, tài liệu của Châu Âu thì lại xem vai trò của chất gây ung thư EO và chất không gây ung thư 2-EC là như nhau. Họ giải thích và lập luận như sau [2: trang 6]:
“EO quickly disappears in food through evaporation or reactions, so the exposure of consumers to EO-related residues through food consumption will mainly concern EO reaction products, the most prominent of which being 2-CE. 2-CE is also legally relevant as it is included in the current MRL residue definition. Ingested 2-CE will be oxidized by alcohol dehydrogenase to 2-chloroacetaaldehyde, and finally to 2-chloroacetic acid. Both 2-chloroacetaaldehyde, and 2-chloroacetic acid are detoxified through glutahion conjugation . 2-chloroacetaldehyde is toxicologically more critical than 2- CE and is classified as Category 2 carcinogen by ECHA. 2-CE and 2-bromoethanol are considered weakly genotoxic and potentially carcinogenic. A thorough overview on the toxicology of 2- chloroethanol is presented by Hartwig et al. (2019). The German Risk Assessment Authority (BfR) recently evaluated the toxicity of 2-CE. Given the inconclusive toxicological picture of 2-CE, it was decided to follow the precaution approach and consider 2-CE equally toxic to EO”
- Đây là cách diễn giải dựa trên phản ứng hóa sinh cô lập, thiếu bối cảnh hoạt động sinh hóa của tế bào, thiếu bối cảnh hoạt động sinh hóa của cả cơ thể. Việc bắc cầu 2-CE qua 2-chloroacetaldehyde mang nhiều tính chủ quan và giả định. (Xin tham khảo các tài liệu chuyên ngành để đóng góp, bổ sung, phản biện.)
- Trong bối cảnh thiếu chứng cứ xác đáng về tác hại của 2-CE, cũng như thiếu sự nhất quán với MRL của Codex Alimentarius Commission, có lẽ ta có thể đặt nghi vấn về tính thương mại của lệnh cấm EO này.
5. Tạm kết
- Đây là phần phân tích mang theo góc nhìn cá nhân, được triển khai trong bối cảnh hạn chế về năng lực và thời gian, nhưng người viết đã cố gắng tìm hiểu đến tận gốc các loại bằng chứng. Cũng theo góc nhìn cá nhân, việc ngửi vào hoặc tiếp xúc trực tiếp ethylene oxide (EO) thì rất độc hại. Còn đối với việc thực phẩm nhiễm EO, ta có lý do để e ngại, nhưng những hành động theo tri thức thông thường là đủ -- không ăn quá nhiều và thường xuyên mì gói; ăn uống đầy đủ dinh dưỡng; và sống lành mạnh khoa học.