Tùy thím, mình học chuyên ngành và thấy vậy. Ví dụ chữ phổ biến là 累 thím giải thích bằng chữ giản thế kiểu gì.
Tất nhiên là tùy trường hợp rồi thím. Ý t ở đây là phồn và giản đều như nhau cả, nếu muốn thực sự hiểu rõ nguồn gốc của chữ Hán, hãy cố truy tra đến chữ sớm nhất của nó có thể, chứ dựa vào mỗi phồn giản mà thực ra là dạng Khải thì ko có ý nghĩa lắm. Chỉ cần biết rõ phép tạo chữ Lục thư là đc.
Lũy phồn hay giản khác đâu có nhiều đâu thím nên ví dụ ko ý nghĩa lắm.
Như 狗 hiện tại là hình thanh, nhưng chữ gốc giáp cốt lại là tượng hình.
Như 气 với 氣 thì 气 mới là gốc, 氣 là từ tạo sau này nghĩa gốc là tặng người # thức ăn, sau dùng nhiều thay mất 气. 云, 雲 tương tự.
Như 責 (trách) nghĩa gốc là 債 (nợ).
Như 史,使,事,吏 đều là đồng nguyên.
Như 电, 申, 神 cũng đồng nguyên nghĩa gốc lôi điện.
Như 愛 cứ tưởng là hội ý nhưng đúng phải là hình thanh, nghĩa phù Tâm, âm phù Kí (既), thời cổ đại Kí và Ái cận âm.
Như 卿 (Khanh) nghĩa gốc lại là 饗 (Hưởng) thiết đãi.
Bắc 北 nghĩa gốc là Bối 背.
寅 矢 đồng nguyên nghĩa gốc mũi tên.
Còn 1 lô lốc những chữ giả tá (mượn âm) nên việc phân tích tự hình của nó là vô nghĩa, nghĩa gốc thì đã bị mai một theo thời gian ko sài nữa, chỉ sài những nghĩa phát sinh. "Dụng kì hình bất dụng kì nghĩa, độc kì âm dĩ thông kì ý", chỉ dùng chữ ko dùng nghĩa, đọc âm của chữ ắt hiểu nghĩa.
Như Tức 即 (ngồi ăn) và Kí 既 (ăn xong), Bá 霸 (1 giai đoạn của trăng), Đông 東 (túi buộc tóm lại ở 2 đầu), Tây 西 (ko rõ), Nam 南 (1 loại nhạc khí) .