thảo luận Tất tần tật sách tiếng Trung

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề Hipro
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Cho mình xin kinh nghiệm tự học. Chỉ nói và pinyyin ko học hán tự. Cảm ơn bác
Mìn đã ok phần đọc phiên âm
Mình ko dạy nguyên pinyin bác ạ. Học như vậy không học lâu dài đc. Sau pinyin nó lẫn hết vài nhau. Mình đang dạy 3 lớp là msutong 1, msutong 4 và hsk4 thôi. Lớp mới tinh cho người chưa biết gì nghỉ tết âm xong mình sẽ dạy.
 
Mình ko dạy nguyên pinyin bác ạ. Học như vậy không học lâu dài đc. Sau pinyin nó lẫn hết vài nhau. Mình đang dạy 3 lớp là msutong 1, msutong 4 và hsk4 thôi. Lớp mới tinh cho người chưa biết gì nghỉ tết âm xong mình sẽ dạy.
Sau tết nhớ cho tui đk học với
 
Mới quất msutong 4. Chiến thuật là học phủ >> lấy từ vựng >> luyện nói nhìn pinyin
Sau đó luyện hán tự >> luyện tập với các đoạn hội thoại trong sách
Viết theo sau cùng.
Cố gắng trước tết phủ xong msutong trình độ sơ cấp rồi luyện sơ cấp cho nhuyễn >> kết hợp học lên msutong trung cấp :(
Chặng đường tự học thật là dài
 
Bạn có tài liệu nào về chiết tự chữ hán ko
chiết tự dùng baidu đủ sài rồi bác ạ, nói viết cũng rất kĩ, ko thì chuyên nghiệp hơn bác có thể dùng 说文新证-季旭昇. Còn sách chiết tự đc dịch thành tiếng Việt thì đa phần 1 là sai hoàn toàn 2 là lỗi thời rồi. Trên page có 1 trang "Tự nguyên chữ Hán" do 1 bạn rất pro về lĩnh vực này viết, nhưng chỉ có mấy bài thôi do bạn ấy cũng bận, và rất chuyên sâu phân tích từ tự nguyên đến ngữ âm học.
 
Sửa lần cuối:
chiết tự dùng baidu đủ sài rồi bác ạ, nói viết cũng rất kĩ, ko thì chuyên nghiệp hơn bác có thể dùng 说文新证-季旭昇. Còn sách chiết tự đc dịch thành tiếng Việt thì đa phần 1 là sai hoàn toàn 2 là lỗi thời rồi. Trên page có 1 trang "Tự nguyên chữ Hán" do 1 bạn rất pro về lĩnh vực này viết, nhưng chỉ có mấy bài thôi do bạn ấy cũng bận, và rất chuyên sâu phân tích từ tự nguyên đến ngữ âm học.
Cảm ơn bạn, dạo này dùng Hanzi để "chiết tự" cũng ổn rồi.
Không phải là cách chiết tự chuẩn, nhưng cái mình cần là cách "giải thích" từ đó từ các bộ thủ thành phần.
 
Cảm ơn bạn, dạo này dùng Hanzi để "chiết tự" cũng ổn rồi.
Không phải là cách chiết tự chuẩn, nhưng cái mình cần là cách "giải thích" từ đó từ các bộ thủ thành phần.
Học cao và lâu rùi thì quay lại xem sẽ hợp lý hơn. Ban đầu chỉ cần xem từ phổ biến và đặc trưng thôi thím ạ, vì muốn giải thích cần xem chữ phồn thể ý, giản thể nhiều chữ thay đổi hẳn không luận nghĩa gốc được. Mai kia mình up mấy quyển giải nghĩa chữ Hán.
 
Học cao và lâu rùi thì quay lại xem sẽ hợp lý hơn. Ban đầu chỉ cần xem từ phổ biến và đặc trưng thôi thím ạ, vì muốn giải thích cần xem chữ phồn thể ý, giản thể nhiều chữ thay đổi hẳn không luận nghĩa gốc được. Mai kia mình up mấy quyển giải nghĩa chữ Hán.
Phồn thể chưa chắc là chữ gốc thím, t thấy rất nhiều ng hay quá mức coi thường giản và xem trọng phồn, cả 2 đều là chữ Hán cả, và đều có lịch sử lâu đời, 2 cái chả cái nào hơn cái nào. Còn muốn chiết tự cho đúng thực sự nguồn gốc của chữ thì phải truy tra chữ sớm nhất mà nó xuất hiện, tức giáp cốt, bèo cũng phải kim văn, chứ khải là về sau rất lâu rồi. Còn nếu chỉ để học cho biết thôi thì sao cũng đc.
 
Phồn thể chưa chắc là chữ gốc thím, t thấy rất nhiều ng hay quá mức coi thường giản và xem trọng phồn, cả 2 đều là chữ Hán cả, và đều có lịch sử lâu đời, 2 cái chả cái nào hơn cái nào. Còn muốn chiết tự cho đúng thực sự nguồn gốc của chữ thì phải truy tra chữ sớm nhất mà nó xuất hiện, tức giáp cốt, bèo cũng phải kim văn, chứ khải là về sau rất lâu rồi. Còn nếu chỉ để học cho biết thôi thì sao cũng đc.
Tùy thím, mình học chuyên ngành và thấy vậy. Ví dụ chữ phổ biến là 累 thím giải thích bằng chữ giản thế kiểu gì.
 
Tùy thím, mình học chuyên ngành và thấy vậy. Ví dụ chữ phổ biến là 累 thím giải thích bằng chữ giản thế kiểu gì.
Tất nhiên là tùy trường hợp rồi thím. Ý t ở đây là phồn và giản đều như nhau cả, nếu muốn thực sự hiểu rõ nguồn gốc của chữ Hán, hãy cố truy tra đến chữ sớm nhất của nó có thể, chứ dựa vào mỗi phồn giản mà thực ra là dạng Khải thì ko có ý nghĩa lắm. Chỉ cần biết rõ phép tạo chữ Lục thư là đc.

Lũy phồn hay giản khác đâu có nhiều đâu thím nên ví dụ ko ý nghĩa lắm.

Như 狗 hiện tại là hình thanh, nhưng chữ gốc giáp cốt lại là tượng hình.

Như 气 với 氣 thì 气 mới là gốc, 氣 là từ tạo sau này nghĩa gốc là tặng người # thức ăn, sau dùng nhiều thay mất 气. 云, 雲 tương tự.

Như 責 (trách) nghĩa gốc là 債 (nợ).

Như 史,使,事,吏 đều là đồng nguyên.

Như 电, 申, 神 cũng đồng nguyên nghĩa gốc lôi điện.

Như 愛 cứ tưởng là hội ý nhưng đúng phải là hình thanh, nghĩa phù Tâm, âm phù Kí (既), thời cổ đại Kí và Ái cận âm.

Như 卿 (Khanh) nghĩa gốc lại là 饗 (Hưởng) thiết đãi.

Bắc 北 nghĩa gốc là Bối 背.

寅 矢 đồng nguyên nghĩa gốc mũi tên.

Còn 1 lô lốc những chữ giả tá (mượn âm) nên việc phân tích tự hình của nó là vô nghĩa, nghĩa gốc thì đã bị mai một theo thời gian ko sài nữa, chỉ sài những nghĩa phát sinh. "Dụng kì hình bất dụng kì nghĩa, độc kì âm dĩ thông kì ý", chỉ dùng chữ ko dùng nghĩa, đọc âm của chữ ắt hiểu nghĩa.
Như Tức 即 (ngồi ăn) và Kí 既 (ăn xong), Bá 霸 (1 giai đoạn của trăng), Đông 東 (túi buộc tóm lại ở 2 đầu), Tây 西 (ko rõ), Nam 南 (1 loại nhạc khí) .
 
Tất nhiên là tùy trường hợp rồi thím. Ý t ở đây là phồn và giản đều như nhau cả, nếu muốn thực sự hiểu rõ nguồn gốc của chữ Hán, hãy cố truy tra đến chữ sớm nhất của nó có thể, chứ dựa vào mỗi phồn giản mà thực ra là dạng Khải thì ko có ý nghĩa lắm. Chỉ cần biết rõ phép tạo chữ Lục thư là đc.

Lũy phồn hay giản khác đâu có nhiều đâu thím nên ví dụ ko ý nghĩa lắm.

Như 狗 hiện tại là hình thanh, nhưng chữ gốc giáp cốt lại là tượng hình.

Như 气 với 氣 thì 气 mới là gốc, 氣 là từ tạo sau này nghĩa gốc là tặng người # thức ăn, sau dùng nhiều thay mất 气. 云, 雲 tương tự.

Như 責 (trách) nghĩa gốc là 債 (nợ).

Như 史,使,事,吏 đều là đồng nguyên.

Như 电, 申, 神 cũng đồng nguyên nghĩa gốc lôi điện.

Như 愛 cứ tưởng là hội ý nhưng đúng phải là hình thanh, nghĩa phù Tâm, âm phù Kí (既), thời cổ đại Kí và Ái cận âm.

Như 卿 (Khanh) nghĩa gốc lại là 饗 (Hưởng) thiết đãi.

Bắc 北 nghĩa gốc là Bối 背.

寅 矢 đồng nguyên nghĩa gốc mũi tên.

Còn 1 lô lốc những chữ giả tá (mượn âm) nên việc phân tích tự hình của nó là vô nghĩa, nghĩa gốc thì đã bị mai một theo thời gian ko sài nữa, chỉ sài những nghĩa phát sinh. "Dụng kì hình bất dụng kì nghĩa, độc kì âm dĩ thông kì ý", chỉ dùng chữ ko dùng nghĩa, đọc âm của chữ ắt hiểu nghĩa.
Như Tức 即 (ngồi ăn) và Kí 既 (ăn xong), Bá 霸 (1 giai đoạn của trăng), Đông 東 (túi buộc tóm lại ở 2 đầu), Tây 西 (ko rõ), Nam 南 (1 loại nhạc khí) .
Nếu trường hợp chỉ là đổi cách viết của bộ thì mình thấy giản và phồn ko khác gì, nhưng chưa đầy 100 năm trước Tq mới bắt đầu thực thiện đơn giản hoá chữ viết và thực hiện tới những năm 1970, 1980. Rất nhiều chữ giản thể thay đổi hoàn toàn hoặc là 2 3 chữ phồn thể rút gọn thành cùng 1 chữ giản thể, nên luận chữ thường đổi về phồn thể, xong mới lần tiếp về trước nữa. Nó mới thành 1 chuỗi để thấy sự thay đổi. Do đó chữ giản thể nào được thay đổi so với chữ phồn thể thì nó tạo ra sau chữ phồn thể, nên đổi lại chữ phồn thể sẽ dễ tìm nguồn gốc của nó hơn.
Chữ giáp cốt (viết trên xương thú, mai rùa) hoặc chữ kim (viết trên kim loại) như thím nói có chung đặc điểm là hình vẽ, ông vẽ xấu ông vẽ đẹp chữ khó đồng nhất. Nên đến thời chữ lệ 隶书 nó mới là giai đoạn chuyển biến quan trọng nhất, chuyển sang dùng ký hiệu trừu trượng. Còn về việc đoán nghĩa thì ngoài chữ tượng hình (số lượng ít nhưng cũng có những cái ko còn xuất hiện ở hiện tại nên giờ cũng ko giải nghĩa đc), thì phần lớn là hình thanh như thím nói, cũng là đoán khả năng có thể nhất, nên nhiều chữ ở nhiều sách khác nhau cũng giải nghĩa khác nhau, nhiều chữ có thể xếp hội ý hay hình thanh đều được.
Mà thím lấy vị dụ cũng phải dùng chữ phồn thể để viết đó thôi. Còn nhiều từ không thay đổi thì nó vừa là giản vừa là phồn. Chung thời gian hình thành.
Với môn học có nguồn gốc chữ Hán thì bọn mình phải tìm nghĩa ban đầu chữ ko phải tìm nghĩa hiện tại, vì nghĩa hiện tại tìm ở từ điển được.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
Hipro,
Người trả lời cuối
Patitana,
Trả lời
836
Lượt xem
114.325
Quay lại
Lên đầu trang