khoe Truyện tự viết.

chosanbo clone 1.1

Junior Member
Truyện này là mình tự viết trong lúc rảnh rỗi, cũng được 65.000 chữ, nhắm tới đối tượng thiếu nhi, tuổi mới lớn, có thể nói là phù hợp với mọi lứa tuổi. Nội dung phiêu lưu vào thế giới thần tiên.
Motif tuy cũ nhưng mình đã cố gắng cho tình tiết và nội dung không hề cũ.
Viết xong có gửi 4 NXB nhưng đều bị từ chối hoặc không phản hồi, buồn thối ruột. :(
Nay mạo muội đăng lên đây cho các bác đọc cho đỡ uổng công mình cày phím.
Truyện mình đã trình bày hoàn chỉnh như file PDF đính kèm. Nếu các bác có yêu cầu thì mình sẽ đăng trực tiếp các chương lên bài post.
Rất mong nhận được phản hồi tích cực từ các bác. :)

Mình xin tổng hợp các post chương tại đây:
- Mở đầu
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Cậu bé mồ côi và chú chó hoang
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Con đường của chuột
- Chương 7
- Con trai của người tiều phu
- Chương 8
- Chương 9
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12
- Chương 13
- Chương 14
- Chương 15.1
- Chương 15.2
- Chương 16
 

Tệp đính kèm

Sửa lần cuối:
Để tìm được độc giả thì mình nghĩ cần cho họ không gian chứ (cho họ lựa chọn). Post từng chương lên đây xem sao. Rồi thu thập phản hồi mà phản tư. Mà quyết định nên viết tiếp hay ko chứ
 
Truyện thiếu nhi giờ khó lắm. Bọn trẻ tầm này toàn xem Youtube hoạt hình hoặc đọc truyện tranh nhiều hình ít chữ thôi. Đc mấy đứa ngồi cầm quyền truyện 157 trang đọc đâu, cùng lắm là truyện chục trang là căng:nosebleed:
Bác thử hướng đến nhóm đối tượng độc giả khác xem, truyện việt thực sự ít thể loại fantasy hay, biết đâu bác lại nổi bật:smile:
 
Mở đầu: Truyền thuyết về Hố Sao Băng

Xưa kia, vào một ngày nọ, Thượng Đế bắt được một con chim lông vàng quý hiếm,
liền nảy ý mời các vị thần đến cùng chiêm ngưỡng. Các thần được phép mang thú cưng
của mình tới, để sau đó họ cùng đọ xem, thú cưng của ai rực rỡ nhất, xinh đẹp nhất.

Rồi các vị thần tề tựu nơi vườn thượng uyển, họ mường tượng với nhau liệu chim
lông vàng xinh đẹp đến nhường nào. Thần Rừng khoe con chim cú mèo của mình với
các thần. Chú chim có đôi mắt màu lục bảo tuyệt đẹp như rừng lá non, ai nhìn vào cũng
đều thấy đắm say. Thần Biển bĩu môi, liền chìa tay ra khoe chú rùa nhỏ có mai bằng
ngọc. Hễ có ánh sáng chiếu vào thì cái mai sẽ tỏa chiếu sắc màu đại dương ra khắp. Thần Gió phẩy tay, liền dắt tới một con ngựa có bộ lông trắng tinh, bờm của nó dài và
mượt như lụa, tỏa sắc như cầu vồng.

Thế là hết Thần Gió thì tới Thần Núi, rồi tới Thần Sông, Thần Sấm… ai cũng khoe
thú cưng của mình là đẹp nhất, rực rỡ nhất, và họ tranh cãi nhau về điều đó. Riêng chỉ
có Diêm Vương là không tham gia. Ngài lẳng lặng đứng cách xa, vuốt ve bộ lông đen
mượt của chú mèo mun mà ngài cưng yêu hết mực.
Chợt xung quanh vang lên tiếng kèn trống và Thượng Đế bước tới. Trên tay ngài
là một cái lồng phủ kín khăn đỏ. Các vị thần đều dán mắt nhìn nơi cái lồng và hồi hộp
trông chờ.

Thượng Đế nhìn thoáng qua các vị thần và thú cưng của họ. “Thế gian này tạo vật
nào xinh đẹp hơn của ta,” ngài nói đoạn rút khăn che và chú chim lông vàng hiện ra
rực rỡ như mặt trời đang ở trước mắt, khiến các thần ai nấy cũng phải trầm trồ, tán
dương không ngớt. Các con vật trông thấy cũng đều tự ti cúi mặt.

Thượng Đế lấy làm tự hào, liền mời các thần dự yến tiệc khoản đãi. Trong lúc các
thần nâng ly chúc tụng nhau, con mèo của Diêm Vương lén lút mò tới chỗ chim lông
vàng, định bụng vồ tới. Thượng Đế trông thấy liền ném tới một viên đá to. Mèo ta
hoảng sợ né ngay, nhưng đồng thời cũng đạp đổ cái lồng, làm con chim xổng mất.
Thượng Đế liền sai thiên thần đuổi theo bắt chim.

Còn về phần viên đá của Thượng Đế, nó rơi xuống trần gian và hóa thành sao
băng, tạo nên cái hố trên mặt đất, sau này gọi là hố Sao Băng.
 
Sửa lần cuối:
Chương 1: Thành phố Sao Băng

Thành phố Sao Băng là một thành phố nhỏ bên cạnh hố Sao Băng. Mà cái hố ấy—
theo như các nhà khoa học lý giải—là kết quả của một tảng thiên thạch lớn từ vũ trụ
đâm vào Trái Đất từ rất lâu rồi, tạo thành một cái hố lõm lớn, đất đá quanh viền hố bị
vun cao lên như một bức tường.

Ban đầu thì cái hố trống trơ trọi. Qua thời gian dài, cây cối bắt đầu từ những cái
cây con con với bụi cỏ thì giờ đã là một rừng cây, động vật dần dần kéo đến rồi sinh
sôi nảy nở, hình thành nên một hệ sinh thái sống động và giàu màu sắc bên trong cái
hố, mà sau này người ta gọi là rừng Sao Băng. Động vật đã kéo đến được thì con người
cũng kéo đến được. Tuy nhiên, những con người đầu tiên đến đây khai phá không dám
mạo phạm đến khu rừng Sao Băng. Họ cảm nhận được một sức mạnh linh thiêng tỏa
ra từ khu rừng. Thế nên họ chỉ dám sinh sống bên ngoài bức tường đất cao xung quanh
hố Sao Băng.

Và những người đầu tiên đó đã dựng nên nền móng sơ khai của thành phố Sao
Băng. Ban đầu đó chỉ là một cái làng nhỏ bé của đấng tổ tiên khai phá. Ít lâu sau, cư
dân địa phương sinh nở, và thêm vào đó là những vị khách phương xa di cư tới tìm
kiếm chốn dung thân, cái làng liền mở rộng, phát triển trở thành một thị trấn nhộn
nhịp đông đúc. Và rồi những con người địa phương lại sinh nở, người di cư lại tìm đến,
cái làng nhỏ bé thời cổ xưa đã trở thành một thành phố Sao Băng hiện đại và đông đúc
ngày nay. Nhà cửa liền nhà cửa, đường xá nối tiếp đường xá, tạo thành một bức tường
bê tông vây quanh hố Sao Băng.

Người ta vẫn thường viếng thăm khu rừng, nhưng chỉ đến rồi lại đi, như là một
chuyến dạo chơi ngắn ngủi. Nếu có cầu xin bóng mát giữa trưa hè, vậy thì hãy nằm đó
chợp mắt đi, nhưng chớ có ngủ lại qua đêm. Nếu thấy có hoa thơm khoe sắc, vậy thì
hãy cứ ngắm và ngửi, nhưng chớ dại mà ngắt hoa. Nếu thấy cây kia sai quả chín mọng,
vậy thì cứ hái đi, nhưng chớ có làm gãy cành, chớ có làm rụng trái còn xanh. Nếu thấy
muông thú kia có thân thiện, vậy thì cứ nô đùa đi, nhưng chớ cho chúng ăn hay bắt
chúng về…

“Đừng bao giờ mạo phạm sự linh thiêng của khu rừng, bằng không sẽ phải hứng
chịu sự trừng phạt của khu rừng.” Các bậc cao niên vẫn hay dặn dò con cháu như thế.

Dù thời gian có thay đổi, con người có thay đổi, khu rừng vẫn bảo tồn nguyên
vẹn sắc màu tươi rói và sự linh thiêng huyền bí.
 
Sửa lần cuối:

Chương 2: Mai

Mùa hè đầy nắng và gió lại trở về với thành phố Sao Băng. Và những đứa trẻ lại háo hức và rộn ràng hơn bao giờ hết: kỳ nghỉ hè đã đến! Nhưng đối với cô bé Mai, mùa hè năm nay mất đi rất nhiều ý nghĩa.

Mai là một cô bé tám tuổi nhỏ nhắn, xinh xắn với mái tóc ngắn ngang vai. Vì tính tình nhút nhát, lúc nào cũng bẽn lẽn rụt rè, nên cô bé không có nhiều bạn bè thân thiết. Dường như, người bạn thân thiết duy nhất mà cô bé có chính là bà của cô bé. Đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ, Mai luôn được bà ru ngủ bằng những câu chuyện cổ tích, đôi khi là truyền thuyết, tích truyện của thời xa xưa về các con vật, về khu rừng, và về những vị thần. Kho tàng truyện cổ của bà dường như là bất tận, và mỗi câu chuyện là một cơn gió lành đưa cô bé phiêu lưu vào thế giới thần tiên, mà với người lớn thì đó chỉ là thể hiện của niềm tin tâm linh, hoặc giả là trí tưởng tượng của tổ tiên.

Mỗi khi hè đến, bà thường dẫn cô bé vào rừng chơi đùa với cây cỏ và thú rừng. Với Mai, mùa hè sẽ chẳng còn là mùa hè nếu thiếu bà. Khi đó, cô bé chỉ biết ngồi bên khung cửa sổ thở dài buồn chán, đưa đôi mắt tròn như bi ve ngóng trông nơi cánh cổng trước sân, tưởng tượng rằng sẽ thấy bóng dáng lom khom của bà khẽ đẩy cánh cửa vào và mang đến cả mùa hè rực rỡ.

Bà của Mai bị ốm, mẹ bảo thế. Bà ốm rất nặng, bệnh xá gần nhà không thể chữa bệnh cho bà được. Bố mẹ đã phải đưa bà lên bệnh viện lớn ở phía Bắc thành phố để chữa trị cho bà. Cô bé nhiều lần nài nỉ được đi thăm bà, nhưng bố mẹ cô bé vì lý do nào đó mà luôn hứa hẹn sẽ là một lúc nào đó, chứ không phải lúc này. Bệnh viện cách nhà cô bé chỉ chừng ba mươi phút chạy xe thôi, nhưng đối với cô bé, đó như là hành trình sang thế giới khác.

~~~~~~​

Buổi chiều hôm ấy, bố mẹ Mai lại lái xe đi đến bệnh viện, trông họ vội vã hơn mọi khi. Cô bé thì phải ở nhà, ngồi bên khung cửa sổ lặng nhìn chiếc xe đi xa dần cánh cổng, cho đến khi khuất bóng nơi góc phố. Bố mẹ cô bé hiển nhiên không thể để cô ở nhà một mình được, như mọi khi họ vẫn nhờ dì cô bé sang trông hộ một lúc.

Ở ngoài kia, bầu trời trong xanh và nắng vàng rực rỡ, nhưng trong lòng cô bé thì lại âm u mây mù. Chợt từ xa có tiếng cười đùa rôm rả của đám trẻ con hàng xóm, cô bé liền nhổm lên tò mò nhìn hóng. Thì ra là cậu bé nhà kế bên vừa xin được một chú cún, cậu liền hào hứng đem khoe và đám trẻ hàng xóm thì không giấu nổi niềm vui thích mà ùa tới. Mai cũng thế, đôi mắt cô bé sáng lên vì hiếu kỳ, trái tim cô bé rộn ràng vì thích thú, và đôi chân cô bé thì nhún nhảy không yên như muốn chạy đi thật nhanh. Thế nhưng, cô bé vẫn chỉ cứ ở đó bên khung cửa sổ, nhổm người hóng nhìn theo đám trẻ, cho tới khi chúng khuất dạng sau những bức tường và tiếng cười của chúng bị át hẳn bởi tiếng nổ xe chạy qua lại.

Cuối cùng thì cô bé lại ngồi thở dài bên khung cửa, đưa đôi mắt buồn chán lang thang nơi chân trời nhấp nhô. Cô bé ước mình có thể tận hưởng nắng hè hào hứng được như đám trẻ ấy, hay chí ít, là được như Mun vậy.
 
Sửa lần cuối:

Chương 3: Mun​

Mun là một chú mèo mun, vì thế chú mới có tên là Mun. Mun trông không giống một con mèo đáng yêu thích vuốt ve, đôi mắt của nó ẩn chứa sự già dặn, tinh đời, lắm lúc lại nhìn chủ bằng thái độ khinh khỉnh, bất cần. Mai không biết Mun bao nhiêu tuổi rồi, chỉ biết là Mun đã là thành viên của gia đình trước khi cô bé được sinh ra.

Mai không thích mèo chút nào, cô bé thích chó hơn. Bởi Mun lúc nào cũng hằn học, khó gần, nó chẳng bao giờ chịu để im cho cô bé ôm vào lòng cưng nựng, hay đơn giản chỉ là vuốt ve bộ lông đen mượt của nó. Mà không phải chỉ là mỗi Mun, tất cả những con mèo đều như thế cả, chúng là sinh vật đáng ghét nhất trên trần gian. Đáng ghét hơn cả chuột cống, hay nhện lông, hay sâu róm… bởi vì những con vật ấy vốn đã xấu xí rồi! Còn mèo chỉ kêu meo meo, tròn xoe mắt mỗi khi chúng cần ăn, hay muốn ra ngoài sưởi nắng liếm lông, đuổi chuột bắt bướm. Và rồi sau khi thỏa mãn thì chúng hiện nguyên hình là giống loài kiêu căng, vô ơn, chẳng xem ai ra gì.

Chó thì khác hẳn nhé—như cô bé thấy—chúng luôn gần gũi con người, lúc nào cũng năng động, vui vẻ, thích chơi đùa. Thậm chí khi ta buồn, chó sẽ luôn ở bên cạnh và an ủi ta.

Sự thật là khi còn bé, có một lần cô bé thấy Mun nằm ưỡn bụng ngoe ngẩy trông thật đáng yêu, thế là cô bé trót dại sờ tay vào bụng Mun thì liền bị Mun cào xước ba đường trên tay. Thế là từ đó cô bé luôn có ác cảm với chú mèo.

Cô bé luôn ao ước có một con chó, cô bé vẫn hay thủ thỉ với bà rằng cô ước có một chú cún như là quà sinh nhật. Cô bé hứa sẽ luôn yêu thương, chăm sóc chú cún cẩn thận, sẽ cho ăn đúng giờ, dắt đi dạo đúng giờ, rồi sẽ chải lông, rồi sẽ tắm sạch sẽ. Bà chỉ cười móm mém, đôi mắt nhăn nheo, rồi bảo con mèo là món quà bà dành tặng cho cô bé ngay từ khi cô bé chào đời.

Nghe thế, cô bé lại dậm chân dỗi, “Không! Cháu thích một con chó cơ! Cháu không thích mèo.”

Bà bảo, “Nhưng mà ông Mun nhà mình không phải là một con mèo bình thường. Bà bảo này, mèo bình thường có tới chín mạng đấy!”

“Nhưng mà cháu không thích mèo,” cô bé đáp nguây nguẩy.

Bà lại cười, rồi ôn tồn nói, “Cháu nghe này, mèo bình thường thì sau khi mất chín mạng thì chết. Nhưng ông Mun nhà mình thì không bình thường, bởi vì ông không bao giờ chết. Ông là mèo cưng của Diêm Vương đấy!”

Cô bé nhớ lại một câu chuyện cổ tích mà bà cô từng kể, rằng Diêm Vương có nuôi một con mèo mun và ngài hết mực yêu quý nó. Nhưng mà bà không có bảo con mèo của Diêm Vương tên là Mun. Mà cô bé nghĩ mình đã lớn, thấy không nên tin vào những câu chuyện cổ tích và thế giới thần tiên đầy phép mầu nữa. Thế là cô bé vẫn không bằng lòng, “Không, cháu không biết đâu. Cháu muốn một con chó!”

Bà lại bảo, “Cháu muốn một con chó vì nó sẵn lòng làm bạn với cháu. Nhưng với cháu, cháu có nghĩ mình luôn sẵn sàng làm bạn với người khác không? Để kết thân với bất kỳ ai, trước hết cháu phải hiểu họ đã, điều này cần lắm kiên nhẫn, và cháu phải mở lòng ra để họ hiểu cháu. Ông Mun cũng vậy, cháu không hiểu ông, ông không hiểu cháu. Chỉ vì chưa hiểu nhau mà cháu đã không muốn làm bạn với ông. Bây giờ thì cả hai chưa thể làm bạn, chỉ là chưa thôi, chứ không phải là không thể. Bà bảo cháu này, Ông Mun rất tài phép, để làm bạn được với ông thì cháu phải cần có sự nhẫn nại, và một chút kiên trì. Rồi sau đó à, ông Mun sẽ là người bạn quý nhất của cháu. Bà luôn tin là thế. Cháu có nghe lời bà bảo không?”

“Không! Không! Không! Cháu muốn một con chó!” Cô bé hét lên, lại dậm chân.
 
Sửa lần cuối:
Để tìm được độc giả thì mình nghĩ cần cho họ không gian chứ (cho họ lựa chọn). Post từng chương lên đây xem sao. Rồi thu thập phản hồi mà phản tư. Mà quyết định nên viết tiếp hay ko chứ
Mình sẽ post trực tiếp các chương lên. Ngoài ra thì truyện mình đã viết xong. NXB cũng đã từ chối thì chắc để dành để con nó đọc luôn.
 
Truyện thiếu nhi giờ khó lắm. Bọn trẻ tầm này toàn xem Youtube hoạt hình hoặc đọc truyện tranh nhiều hình ít chữ thôi. Đc mấy đứa ngồi cầm quyền truyện 157 trang đọc đâu, cùng lắm là truyện chục trang là căng:nosebleed:
Bác thử hướng đến nhóm đối tượng độc giả khác xem, truyện việt thực sự ít thể loại fantasy hay, biết đâu bác lại nổi bật:smile:
Mình có viết 1 bộ fantasy tương đối bạo lực, đặt là Nghiệp, đăng bên box tangthuvien\truyện sáng tác\truyện đang viết. Truyện có view, nhưng ít tương tác nên nản kinh khủng. Có gửi NXB mà cũng bị từ chối nên drop lâu rồi.
Không tiện gửi link ở đây sợ mod ban.
 

Cổ tích: Cậu bé mồ côi và chú chó hoang​

Xưa kia, ở một vương quốc nọ có một cậu bé mồ côi lang thang. Ngày qua ngày cậu sống bằng của bố thí của người qua đường. Mỗi lần nhận được thứ gì cậu cũng đều nói lời cảm ơn chân thành từ tận trái tim. Mỗi buổi sáng, cậu đều được nhận bánh mì từ một bà cụ nhân hậu sống trong khu phố.

Có ngày đói ngày no, nhưng cậu luôn san sẻ cái ăn với người bạn thân nhất mình—một chú chó hoang tai nâu. Chú chó cũng như cậu, chẳng bao giờ chê cái gì, luôn vẫy đuôi mừng rỡ khi nhận được dù chỉ là một mẩu bánh nhỏ. Như thế, cả hai nương tựa vào nhau mà sống lang thang.

Một ngày nọ, quân lính của nhà vua tới khu chợ trong phố, loan tin rằng đã có kẻ gian đột nhập vào cung điện và lấy trộm tiền vàng của nhà vua. Hễ ai biết danh tính kẻ trộm thì phải báo cho đức vua, ngài sẽ hậu thưởng. Cậu bé không quan tâm lắm, bởi chắc cả đời cậu sẽ chẳng bao giờ biết tiền vàng nó trông như thế nào đâu. Cậu chỉ thấy làm lạ là đã nhiều hôm rồi không thấy cụ bà ghé qua. Đến một ngày nọ thì cậu mới biết cụ bà bị ốm. Cô con gái duy nhất của cụ phải vay tiền để lo thuốc thang cho cụ. Ngặt nỗi, cô đã phải vay tiền của tên ác bá hống hách nhất vùng. Hắn rất giàu có, nhưng cũng vô cùng tham lam và gian xảo. Hắn ra điều kiện nếu người con gái không trả được nợ thì phải đồng ý làm vợ hắn.

Xế chiều hôm sau, tên ác bá lại mò tới nhà bà cụ và quấy rối người con gái xinh đẹp. Người con gái một mực cự tuyệt. Hắn liền đe dọa sẽ tịch thu nhà của cô, rồi đuổi cả hai mẹ con ra đường. Cậu bé mồ côi thấy vậy vô cùng bất bình, bèn nhặt đá ném tên ác bá. Hắn ta nổi sùng, liền sai lâu la tới bắt nhốt cậu bé vào nhà kho của hắn. Chú chó tai nâu trung thành liền lao tới cắn quần một tên tay sai thì bị hắn đá gãy chân, rồi bị đem nhốt luôn cả vào trong kho.

Tối hôm đó, cậu bé buồn tủi ôm chó chú trung thành khóc thảm thiết trong nhà kho tối tăm. Cậu khấn cầu các vị thần cứu giúp. Cầu được ước thấy, tức thì một vị thần xuất hiện với cây thước kẻ to, dài trên tay. Ngài là Thần Hài Đồng, vị thần bảo hộ cho trẻ nhỏ và công lý. Ngài cảm phục sự dũng cảm, đức tính chính trực và lòng nhân hậu của cậu bé, ngỏ ý ban cho cậu bé một điều ước, nhưng bù lại, cậu bé cũng phải nhận lấy một lời nguyền tương xứng.

Không một chút chần chừ, cậu bé tốt bụng ước ngay cho chú chó của mình lành lặn. Vị thần liền xoa đầu chú chó, thế là chân chú lại lành, chú lại có thể bay nhảy tung tăng. Sau đó thần xoa đầu cậu bé, cậu liền thu nhỏ lại, chỉ còn cao bằng cái niêu đất. Ngài nói rằng, đó là lời nguyền dành cho cậu, nếu muốn xóa bỏ lời nguyền, cậu buộc phải làm điều mà mình ghét nhất. Nói xong thì thần biến mất như cái cách thần bất chợt xuất hiện.

Cậu bé trong một chốc kinh ngạc, chẳng kịp hỏi gì, giờ lại đứng thần ra nghĩ ngợi. Trong khi đó thì chú chó tinh khôn đã bắt đầu đào một cái hang luồn dưới vách tường. Chỉ sau ít phút là cả hai đã thoát ra khỏi cái nhà kho tăm tối. Lúc này, cậu bé chợt phát hiện ra trên nền đất có một vật sáng lấp lánh dưới ánh trăng. Đó là một đồng tiền vàng có đúc chân dung đức vua! Đây hẳn phải là tiền vàng của nhà vua, và đám người kia chính là kẻ trộm. Chú chó dũng cảm lúc chiều đã cắn rách túi quần tên trộm, và tiền vàng rơi ra từ túi hắn mà hắn không hề hay biết.

Ngay sau đó cậu bé cưỡi trên lưng chú chó, đi theo dấu vết của những đồng tiền rơi vãi. Những đồng tiền vàng dẫn lối cho cả hai đến một khu đất trống gần cánh rừng. Ở đó chú chó đánh hơi thấy một khoảnh đất tơi xốp, liền dốc sức đào bới. Sau một chốc thì một cái túi vải kì lạ xuất hiện. Chú chó cắn rách túi vải thì những đồng tiền vàng hiện ra lấp lánh dưới ánh trăng.

Cậu bé và chú chó liền mang theo một đồng tiền vàng làm chứng, tức tốc tới cung điện báo tin ngay cho đức vua. Nhà vua ngay sau đó sai quân lính trói hết đám trộm cướp và tên ác bá. Còn về phần cậu bé tí hon, như đã hứa, nhà vua hỏi cậu bé muốn được ban thưởng gì. Cậu bé liền kể cho đức vua nghe cuộc gặp gỡ với thần Hài Đồng, và ước sao lời nguyền được phá vỡ.

Nhà vua khi đó mới hỏi, “Vậy khanh ghét điều gì nhất?”

Cậu bé trả lời, “Thần không ghét gì hết.”

Nhà vua đau đầu, không biết làm cách nào, nên đã đi hỏi những nhà thông thái. Một nhà thông thái đến hỏi cậu bé, “Vậy cháu quý thứ gì nhất? Việc từ-bỏ-thứ-cháu-quý-nhất sẽ là điều cháu ghét nhất.”

Sau một lúc đắn đo suy nghĩ, cậu bé mới chỉ vào chú chó và đáp, “Đây là người bạn mà cháu quý nhất. Cháu sẽ không bao giờ từ bỏ nó. Cháu chấp nhận lời nguyền của mình.”

Nhà thông thái liền hỏi tiếp, “Đó là ý muốn của cháu. Cháu có muốn biết liệu người bạn của cháu muốn giúp cháu không? Chúng ta hãy hỏi ý kiến của người bạn này nhé. Này anh bạn trung thành, anh bạn có muốn giúp chủ của mình hóa giải lời nguyền không? Nếu có thì hãy đến đứng bên cạnh ta.”

Chú chó liền đi đến đứng bên nhà thông thái. Nhà thông thái liền cười to, và biến hình thành Thần Hài Đồng. Vị thần cảm phục lòng thành cũng như tình bạn của cả hai, liền tới xoa đầu chú bé. Chú bé tí hon liền hóa lớn trả lại. Tuy thế, thần cũng phải công bằng, lời nguyền thì vẫn là lời nguyền, thần phải mang chú chó đi. Thần chúc phúc cho cậu bé sẽ sớm tìm thấy cho mình những người bạn mới, trung thành và tận tâm. Thần hứa sẽ yêu thương chú chó như chính cậu bé đã yêu thương nó. Nói rồi thần biến mất.

Từ đó về sau, chú chó trở thành bạn đồng hành của Thần Hài Đồng, luôn bên cạnh thần ở mọi lúc mọi nơi, không hề xa rời. Còn ở nơi trần gian, mỗi bức tượng thờ Thần Hài Đồng luôn có tượng chú chó của thần bên cạnh.
 

Chương 4: Chiếc lá và cây thước kẻ​

Đúng 9h tối, dì bắt Mai đi ngủ. Mai nài nỉ được xem ti vi thêm một tí nữa, nhưng dì thì nghiêm khắc, cương quyết nói không. Cô bé đành phải đi thay bộ pijama đỏ, rồi lầm lũi lên gác về phòng, thầm nghĩ có khi là vì khó tính quá mà dì giờ vẫn chưa có chồng. Lúc vào phòng rồi, cô bé vẫn còn nghe thấy tiếng dì ra lệnh, “Dì thấy phòng cháu vẫn còn sáng đấy!”

Mùa hè, dù có là đêm thì không khí vẫn cứ oi bức, Mai mở toang cửa sổ để đón những ngọn gió lang thang mát lành vào phòng, mà lúc cô bé vừa kéo rèm cửa là ánh trăng bạc đã chảy ào vào căn phòng tối. Trăng đêm nay tròn trịa, sáng vằng vặt làm lu mờ hết cả ánh sao bên cạnh. Cô bé lại kéo ghế tới ngồi bên khung cửa sổ, đưa đôi mắt tròn xoe nhìn ông trăng, tự hỏi liệu trăng sáng quá thì người ta có thấy được sao băng vút qua. Có chứ, cô bé tin thế, cô bé sẽ nhắm mắt, chắp tay lại và ước một điều ước, một điều ước bí mật.

Thế là cô bé cứ ngắm nhìn bầu trời đêm với muôn ngàn ánh sao, chờ đợi một ngôi sao sẽ rơi xuống và ban cho cô một điều ước. Cô chờ mãi, nhưng chẳng thấy sao băng đâu, chờ tới khi cơn buồn ngủ kéo tới, làm cô ngáp ngắn ngáp dài. Buồn nản, cô bé trở về giường nhanh chóng thiếp đi.

~~~~~~​

Những ngọn gió lang thang cứ lùa qua khung cửa sổ và tìm đến chiếc giường của Mai. Mà chúng không đến đơn độc, chúng cuốn theo những chiếc lá, là những chiếc lá đến từ rừng. Một chiếc lá khẽ đáp lên trán cô bé. Ngay lập tức cô bé mở mắt ra, và thấy mình đang nằm trên một bãi cỏ mềm, xung quanh là cây rừng xanh ngắt, tán lá che kín cả bầu trời.

Nhìn xa ra phía trước, Mai thấy một cái ghế lớn phủ đầy lá xanh, ngồi quay lưng lại, nơi tay ghế có cánh tay của một người lớn. Cô bé rón rén lại gần thì người đó chợt đứng dậy và quay lại nhìn cô bé. Đó là một ông lão râu tóc dài bạc phơ, gương mặt nghiêm nghị, trên tay là một cái thước kẻ dài.

“Chào cô bé, ta là thần Hài Đồng. Ta sẽ ban cho cháu một điều ước,” ông lão mở lời. “Cháu có thể ước bất cứ điều gì trên đời. Nhưng hãy suy nghĩ cho thật kĩ, bởi điều ước càng lớn lao thì điều kiện đánh đổi cũng càng hà khắc.”

Cô bé há miệng ngơ ngác, mắt tròn xoe nhìn ông lão. Cô bé chợt nhớ lại câu chuyện cổ tích về thần Hài Đồng mà bà từng kể, rằng thần sẽ ban một điều ước và đi kèm với điều ước sẽ là một điều kiện. Cô bé đắn đo trong giây lát, rồi đáp, “Cháu muốn gặp bà.”

Ông lão liền quay lưng chỉ thước kẻ về phía bức tường dây leo buông phủ, tức thì dây leo tự động vén qua hai bên như bức màn rèm, để lộ ra một cái hang tối đen. Ông lão đứng nép sang một bên, rồi nói, “Điều ước của cháu nằm ở cuối con đường.”

Cô bé tỏ ra sợ sệt, thế là ông lão liền giục bằng những cái vẩy tay đưa đẩy. Cô bé đành đi vào hang vẻ dè chừng. Để trấn an, ông lão phù phép ra một ngôi sao nhỏ bay theo soi sáng cho cô bé.

Cái hang hiện ra dài thật dài. Cô bé cứ đi mãi đi mãi mà không thấy điểm cuối, trong khi ánh sáng nơi cửa hang thì đã bé tí như một ngôi sao giữa bầu trời đêm.

“Cửa hang ở ngay phía trước rồi,” ngôi sao chợt reo lên rồi biến mất.

Mai cũng nhìn thấy phía trước có ánh sáng lấp lánh. Khi đến nơi, cô bé thấy mình đang ở trong một hang động rộng lớn, ở phía trên thì sáng lấp lánh ánh kim yếu ớt, ở dưới bên lề phải là mặt nước tối đen như mực, rộng không thấy bờ. Ở đằng xa kia là một bến đò nhỏ, đứng bên bến đò chính là bà của cô bé.

Cô bé mừng rỡ liền cất tiếng gọi to, chạy ngay tới ôm lấy bà.

“Bà ơi, mấy hôm nay bà đi đâu thế?” cô bé nói. “Bà về với cháu. Cháu nhớ bà lắm.”

“Ừ, bà cũng nhớ cháu lắm,” bà ôm cô bé vào lòng, xoa đầu vỗ về. “Nhưng bà không về được.”

“Sao bà lại không về được?” cô bé thốt lên.

“Bà phải đứng đây đợi đò. Đò đưa bà sang sông.”

“Nhưng tại sao bà lại phải sang sông? Sao bà không về với cháu?”

“Vì bà đến lúc phải sang sông rồi. Ai cũng phải đến lúc sang sông cả. Cháu ở lại ngoan nhé, vâng lời bố mẹ, học thật giỏi. Bà chúc cháu luôn mạnh khỏe.”

Cô bé òa khóc, “Không, không, cháu không chịu. Bà phải về với cháu.”

Bà ôm cô bé vào lòng vỗ về. “Cháu đừng sợ. Sau cùng thì mọi thứ sẽ lại tốt đẹp. Nếu mọi thứ chưa tốt đẹp, thì đó vẫn chưa là sau cùng.”

Lúc đó ông lão lại chợt xuất hiện và nói, “Ước muốn của cháu đã được thực hiện. Tới lúc cháu phải đi rồi.”

Ông lão vừa dứt lời thì như có một sức mạnh phù phép nào đó kéo cô bé ra khỏi vòng tay bà. Cô bé dùng dằng, khóc to gọi bà, càng xa bà thì cô bé càng gào khóc to hơn.

“Không! Cháu không chịu! Không!”

Bà cô bé vẫn đứng đó hiền từ nhìn cô bé, vẫy tay từ biệt, “Bà thương cháu nhiều lắm.”

Cô bé cứ thế bị kéo đi, xa bà dần, xa bà dần, kéo trở lại cái cửa hang nhỏ nơi cô bé bước vào. Khi đó ông lão lại xuất hiện, rồi nói, “Và giờ thì là lời nguyền ta dành cho cháu: cháu sẽ bị thu nhỏ lại bằng một con chuột. Nếu cháu đến được chỗ bà cháu trước khi mặt trời ló dạng, thì lời nguyền sẽ bị phá bỏ.”

Ông lão vừa dứt lời thì cô bé choàng tỉnh giấc, dựng cả người dậy như vừa gặp phải ác mộng. Cô bé chợt nhận ra đó chỉ là một giấc mơ kì lạ, cũng quá đỗi chân thực khiến những giọt nước mắt vẫn còn lăn trên má cô bé.

Nhưng nghĩ lại thì cô bé tin mình vẫn còn đang mắc kẹt trong một giấc mơ kì lạ khác, khi mà cô bé thấy Mun đang đứng trước mặt cô bé, to lớn như một con hổ. Mun cứ đứng im đó đưa đôi mắt to tròn nhìn cô bé chằm chằm, trong một lúc thật lâu. Cô bé cũng im lặng không biết phải làm gì, phần vì ngơ ngác, phần vì sợ hãi. Mãi một lúc thì cô bé chợt nghe thấy có tiếng nói vang lên trong đầu, “Ông ta đã nói gì với cháu?”
 

Chương 5: Cánh cửa sổ vẫn mở​

“Chính là ta đang nói chuyện với cháu,” giọng nói trầm ấm lại vang lên đầu Mai, khi cô bé vẫn còn đang sững sờ nhìn Mun.

Rõ ràng, đây đúng là một giấc mơ kì quái mà Mai chẳng tài nào hiểu nổi. Mới chiều nay thôi Mun còn đứng tới chân cô bé, mà bây giờ cô bé chỉ đứng tới chân Mun. Mà không phải là Mun đột nhiên hóa khổng lồ, chính là cô bé đã bị thu nhỏ lại! Cái gối, cái bàn, cái ghế… và cả căn phòng, tất cả đều trở nên to lớn. Còn cái giường thì có khi còn rộng hơn sân trường. Mà còn kì lạ hơn nữa là Mun như đang nói chuyện với cô bé, nhưng không theo cái cách mà cô bé mường tượng.

Cô bé đã xem nhiều phim hoạt hình về động vật. Các con vật khi nói thì cũng đều mấp máy môi thật sinh động giống như là con người đang nói vậy. Nhưng Mun thì không, nó chẳng cử động gì cả, nó cứ nhìn cô bé chằm chằm bằng đôi mắt to tròn.

“Cậu… cậu… cậu đang nói với tớ à?” Mai lắp bắp run rẩy.

Và rồi giọng nói trong đầu cô bé lại vang lên lần nữa, “Cẩn trọng xưng hô! Ta lớn tuổi hơn cháu nghĩ nhiều. Trước hết, hãy kể ta nghe những gì cháu đã thấy.”

Mai kể lại tường tận giấc mơ của mình, một giấc mơ kì quái và khó hiểu như mọi giấc mơ khác. Nhưng giấc mơ này để lại cho cô bé nhiều ấn tượng sâu đậm nhất, nhờ đó mà cô bé nhớ rõ từng chi tiết, như thể đó chẳng phải là giấc mơ nữa mà là một trải nghiệm thực sự.

Mun vẫn chẳng biểu lộ một chút cảm xúc nào, chỉ đáp lại nhát gừng thông qua thần giao cách cảm, “Cháu không còn nhiều thời gian. Mau leo lên lưng ta. Cháu sẽ đi gặp Miên.” Nói rồi thì Mun hạ thấp thân mình xuống.

Có chuyện gì đang xảy ra vậy? Tại sao giấc mơ này lại lì lợm đến thế? Đây có phải Mun nhà mình không? Đầu óc Mai như bị xoắn tít lại bởi những điều dị thường. Mai leo lên lưng Mun một cách dè chừng, trong lòng nơm nớp run sợ. Tại sao mình lại phải nghe theo lời Mun? Bởi vì lúc này Mun thừa sức nuốt chửng cô bé. Tốt nhất là không nên làm phật ý nó. Sau khi cô bé ngồi vững rồi thì Mun liền phóng như bay qua khung cửa sổ và biến mất.

Mun chuyền thoăn thắt từ mái nhà xuống mái hiên, rồi từ mái hiên nhảy qua mái bạt, rồi chạy thẳng tới nhảy qua một cành cây, rồi lại chạy sang một cành khác dẫn tới bức tường rào. Mun tiếp tục chạy tới cuối dãy tường rào, rồi nhảy lên một cái thùng rác, rồi nhảy một cú nữa đáp xuống vỉa hè. Nhẹ nhàng và tinh tế là thế, nhưng mà Mai vẫn sợ. Cô bé cứ nhắm nghiền mắt lại và ôm ghì lấy Mun, cứ lo sợ là mình sẽ bị hất rơi như khi đang đi tàu lượn siêu tốc.

“Cháu sợ lắm!” Mai hét lên.

Mun không trả lời, vẫn cứ chạy tiếp qua những con hẻm tối.

“Ông định đưa cháu đi đâu đấy?”

“Cháu sẽ đi gặp Miên,” Mun đáp.

“Nhưng người đấy là ai?”

“Là bà của cháu.”

“Là bà của cháu á?” Cô bé tròn xoe mắt. “Nhưng bà cháu đang ở bệnh viện. Cháu nên gặp dì mới phải, dì sẽ đưa cháu tới bệnh viện.”

“Không được đâu.”

Rồi Mun cứ chạy còn Mai thì lại đổ băn khoăn. Cô bé cứ đinh ninh rằng gặp dì sẽ là cách tốt nhất. Cuối cùng thì cô bé cũng đi tới quyết định.

“Cháu sẽ nói với dì,” Mai nói rồi nhảy xuống.

Cú ngã không đau như Mai tưởng tượng. Cô bé biết rõ khu phố này, từ đây về nhà cũng không xa lắm. Với đôi chân nhỏ bé của cô thì sẽ lâu hơn bình thường một chút, nhưng rồi sau đó thì chỉ cần mất nửa tiếng là cô bé sẽ được ở bên bà.

Khi cô bé chạy ngang qua bãi tập kết thùng rác thì nghe thấy tiếng kêu của chuột cống. Cô chẳng lo nghĩ gì nhiều, bởi chuột cống lúc thấy bóng người lại chẳng chạy mất hút, thế nên chúng vô hại. Đấy là cho tới khi chúng ùa ra đuổi theo cô, kêu lên chít chít ghê rợn, đôi mắt nhìn hung ác giống y như của những con sói chuyên làm điều xấu trong truyện cổ tích.

Cô bé liền chạy thật nhan, la lên sợ hãi, chạy được một đoạn thì lại vấp té. Lúc này thì cô bé chỉ biết ôm mặt, khóc to cầu cứu. Một con chuột đuổi kịp cô bé, định bụng vồ tới thì bị Mun nhảy xuống đè bẹp. Chú mèo mun tiếp đó gầm gừ, khiến cho cả đàn chuột phải kinh sợ bỏ chạy tán loạn.

Khi lũ chuột đã biến mất dạng thì Mai mới mếu máo, “Cháu muốn bà! Cháu muốn bà! Cháu không muốn ở đây nữa! Ông đưa cháu về đi!”

Mun chợt thở dài, nhẹ nhàng đặt bàn chân phải trước lên đầu Mai, khẽ vỗ mấy cái. “Ta muốn liếm lông cho cháu, nhưng cháu không phải mèo. Đừng khóc nữa, sẽ chẳng có ai nghe thấy cháu trừ lũ hung rợ ấy. Chuột cống không vô hại, chỉ vì chúng không thể làm hại cháu trước kia, thì không có nghĩa là chúng không muốn làm hại cháu ngay bây giờ. Hãy đứng dậy và đi với ta.”

“Không, cháu muốn về,” cô bé ôm mặt khóc thút thít.

“Được, vậy thì ta sẽ đưa cháu về. Nhưng nghĩ xem, người lớn liệu sẽ tin cháu?” Mun định nghiêm nghị nhìn Mai, nhưng con ngươi nó lại nở to trong đêm tối, khiến nó trông chẳng nghiêm nghị chút nào. “Khi dì thấy cháu, cô ta đầu tiên sẽ hét lên, rồi lăn ra bất tỉnh. Còn nếu cô ta giữ được tỉnh táo, cô ta sẽ gọi cảnh sát, rồi gọi bác sĩ, rồi cuối cùng là đến bố mẹ cháu. Tất cả sẽ đến với cháu, chứng kiến sự thật, rồi đâm hoảng loạn. Tiếng nói của cháu sẽ quá nhỏ bé để hét vào mặt họ. Rồi sau cùng, không một ai tin cháu. Người lớn không tin vào phép mầu nên họ sẽ chẳng bao giờ thấy phép mầu. Vì họ không thấy phép mầu thì họ lại càng không tin vào phép mầu.”

“Thế cháu phải làm gì?”

“Đi theo ta. Trước khi bọn chúng tới.”

“Ý ông là lũ chuột à?”

“Không. Lũ mèo hoang.”

~~~~~~​

Nửa đêm, điện thoại di động đổ chuông, người dì liền tới nhấc máy, là cuộc gọi của người chị gái, tức là mẹ của Mai. Mẹ báo rằng tình hình sức khỏe của bà đang chuyển biến xấu lắm, bác sĩ lo sợ bà sẽ không qua khỏi. Thế nên, mẹ muốn nhờ dì đưa Mai đến bệnh viện ngay bây giờ, để hai bà cháu nhìn nhau lần cuối.

Người dì biết tin lòng xót xa lắm, lấy tay lau vội nước mắt trước khi lên gác, dì không muốn Mai biết trước tin buồn. Lúc dì mở cửa ra thì liền đứng sững chết lặng, bất giác đánh rơi cả điện thoại đắt tiền khi không thấy Mai đâu, còn hai cánh cửa sổ phòng thì mở toang, rèm vải bay phấp phới trong gió.
 

Chương 6: Nơi con đường giao nhau​

Những con hẻm tối của phố Sao Băng được rọi sáng bởi những ngọn đèn vàng treo trên cột điện. Cứ cách chục bước thì ta lại thấy một vòng tròn sáng trên nền đường, cách đều tăm tắp. Khi ấy, nơi những vòng tròn sáng xuất hiện bóng dáng của một chú mèo mun chạy vút qua, lặng lẽ và đầy quyết tâm.

Trên lưng chú mèo là một cô bé loài người đã bị hóa thành tí hon. Những con vật sống về đêm nấp trong bóng tối ngước cổ lên nhìn cặp đôi mèo–người như trông thấy một điềm lạ lẫm, có khi chẳng có dịp chứng kiến lần nữa.

Cưỡi trên lưng mèo, đối với Mai đó là một trải nghiệm kinh hoàng, nhưng chỉ là với giây phút đầu tiên thôi. Giờ thì cô bé đã bớt bỡ ngỡ, tự tin mở to đôi mắt tí hon ra để ngắm nhìn và trải nghiệm một thế giới thú vị kì lạ về đêm.

“Tại sao ông lại giúp cháu?” Mai chợt hỏi.

Mun im lặng một lúc lâu, như thể là nó đang đắn đo, rồi mới trả lời, “Cứ xem là cháu may mắn.”

“Ông có ghét cháu không? Vì cháu nắm đuôi ông, vì cháu sờ bụng ông…”

“Ta không ghét cháu. Ta ghét hành vi của cháu. Đừng hỏi những câu hỏi ngớ ngẩn.”

Thế là Mai không hỏi gì nữa. Cô bé thấy người lớn không thích trẻ con hỏi nhiều, hỏi dai. Mỗi lần trẻ con như thế thì người lớn lại quát mắng, như thể chúng là một mối phiền nhiễu vậy. Bố, mẹ, hay dì cô bé, ai cũng vậy cả, trừ bà ra. Thế là cô bé đâm ra không thích trò chuyện với ai cả, ngoài bà.

Ở phía trước là cuối con hẻm rồi, nơi có đường lớn cắt ngang, Mai có thể nhìn thấy có ô tô thỉnh thoảng chạy vút qua. Con đường đó có tên là Vành Đai. Trước kia, vì người ta không thể băng ngang qua hố Sao Băng, họ đã làm một con đường vòng tròn bao bọc lấy hố Sao Băng để tiện đi lại. Dần dà theo nhịp phát triển của thành phố, con đường được trải nhựa, mở rộng và giờ thì nó có tới tám làn đường. Ở bên kia con đường, Mai có thể nhìn thấy bức tường vanh đai sừng sững xám xịt, ngay sau bên kia bức tường đã là khu rừng Sao Băng rồi.

Mun dừng lại trước vạch kẻ đường cho người đi bộ, nó chờ cho tới khi đèn giao thông cho người đi bộ chuyển màu xanh. Nó thấy thật không hay chút nào nếu vi phạm luật giao thông trước mắt trẻ con, và đặc biệt hơn là trước cảnh sát, bởi đang có một chiếc xe cảnh sát đang sắp chạy qua.

~~~~~~​

Trên chiếc xe cảnh sát là hai viên cảnh sát già. Viên cảnh sát có bộ râu quai nón ở bên ghế phụ chợt thốt lên, “Này, anh có nhìn thấy gì không, cái mà tôi vừa nhìn thấy ấy?”

“Là cái vậy hả? Anh nói luôn đi,” viên cảnh sát râu kẽm ngồi sau tay lái nói.

“Một con mèo và một bé gái tí hon. Không. Là một bé gái tí hon cưỡi trên lưng mèo! Chúng đang ở phía sau chúng ta rồi.”

“Ô vậy à, tuyệt thật đấy, cộng sự, tuyệt thấy đấy. Đó là một khám phá vĩ đại, tôi nói thật đấy.”

“Anh có thể đơn giản là không tin thôi, nhưng mà đừng có mỉa mai tôi như vậy chứ.”

“Chúng ta đang có một vụ mất tích, bạn à, một bé gái mất tích. Và giờ thì anh bạn lại thấy một cô bé trên lưng mèo. Tôi nghĩ chúng ta sắp tới lúc về hưu thật rồi. Nhãn lực của anh bạn từng rất tuyệt vời và sắc bén, nhưng tôi nghĩ là nó hết dùng được rồi.”

“Được rồi, được rồi,” ngài râu quai nón phẩy tay. “Giờ chúng ta nói về vụ mất tích, chúng ta sẽ đi đâu trước đây?”

“Tôi gọi nó là một vụ mất tích, mặc cho người giám hộ của cô bé cứ lu loa là bị bắt cóc. Là bởi vì cô bé hẳn phải có động cơ trốn chạy.”

“Thế thì phải gọi đây là một vụ đào tẩu.”

“Ừ, thế cũng được. Bà cô bé bị ốm, cô bé muốn được thăm bà, gia đình từ chối nguyện vọng của cô bé, cô bé buộc phải hành động một mình theo ý nguyện.”

“Hợp lý lắm chứ,” ngài râu quai nón gật gù. “Trẻ con bây giờ lớn nhanh lắm, lại nông nổi, bồng bột.”

“Thời nào cũng có trẻ nông nổi. Cô bé không thể đi bộ được. Cô bé được mô tả là nhút nhát, ngại tiếp xúc người khác. Tôi không nghĩ cô bé dám bước lên xe người lạ. Cô bé phải bắt một chuyến xe buýt. Chúng ta sẽ đến trạm xe buýt. Khoảng thời gian từ lúc báo mất tích cho đến giờ vừa đủ cho cô bé đi bộ ra đấy.”

“Như thế thì là chúng ta khôn ngoan hay lười biếng đây, anh bạn?”

“Là chúng ta đã già. Đám lính trẻ nghĩ điều gì thì cứ để chúng làm như chúng muốn. Tôi cũng không thể nói trước được điều gì. Khách quan mà nói, đây có khi lại là một vụ bắt cóc thật.”

“Thủ phạm là một con mèo.”

Cả hai viên cảnh sát cùng bật cười sảng khoái.

~~~~~~​

Khi qua tới bên kia đường, Mun tiếp tục hướng về một trạm xe buýt gần đó. Kế hoạch của nó thì cũng đơn giản thôi, đó là trèo lên nóc của một chiếc xe buýt, rồi quá giang một chuyến tới bệnh viện. Như thế là tiện sức lực nhất, mà cũng nhanh nhất. Nhiều lắm thì mất hai giờ đồng hồ là cả hai sẽ tới đích.

Khi đến trạm xe buýt, Mun liền trèo lên một cái cây lớn bên vỉa hè, định bụng chờ xe buýt đỗ vào trạm là sẽ nhảy xuống nóc ngay. Sắp tới 12h khuya, đó là lúc có chuyến xe cuối cùng đến bệnh viện. Nếu Mun bắt trượt chuyến này, thì cả hai phải chờ tới 4h sáng mới có chuyến tiếp theo, mà giờ đương là mùa hè, ông mặt trời dậy sớm lắm, Mai sẽ không kịp đến bệnh viện mất.

Từ trên cao, Mun đã thấy bóng dáng to lớn của chiếc xe buýt đang lăn bánh lại gần, sắp sửa đỗ vào trạm. Rồi từ đâu có một chiếc xe cảnh sát áp sát lại gần. Hai viên sĩ quan bước xuống và tiến tới nói chuyện với bác tài xế xe buýt. Sau một lúc, vẻ như cả hai bên đã thống nhất với nhau một vấn đề gì đó, nên họ mới gật đầu rồi vẫy tay tạm biệt nhau. Chiếc xe cảnh sát chạy đi hướng khác rồi biến mất sau góc phố. Còn chiếc xe buýt màu vàng thì cũng từ từ lăn bánh để kết thúc hành trình trong ngày của nó, với chẳng vị khách nào trên ghế nhưng lại có hai vị khách trốn vé ở trên nóc.

Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi, Mai tự nhủ như thế. Chỉ là sẽ thôi, chứ không phải ngay lúc này! Chiếc xe buýt vừa tăng tốc được một đoạn ngắn thì chợt chạy chậm lại, chậm dần, chậm dần, cuối cùng là phát một tiếng thật to rồi dừng hẳn. Bác tài xế già thốt lên bực dọc, vẻ như chiếc xe đang bị trục trặc và không thể chạy tiếp được nữa. Người Mun chợt run lên, vẻ như chính nó cũng không thích chuyện này. Những cơn gió ập tới một cách bất chợt rồi lại tan biến đi nhanh sau đó, giống như có kẻ đã làm điều ám muội rồi bỏ trốn.

Trong khi bác tài xế còn đang loay hoay thử nổ lại máy, thì từ đâu có một con mèo mun nhảy xuống nắp ca-po. Cưỡi trên lưng nó hình như là một búp bê bé gái. Cả con mèo lẫn con búp bê đều ngoái lại nhìn bác tài trong ít giây—khiến cho bác tài phát rợn sống lưng—trước khi lao vút vào trong bụi rậm ven đường. Bác tài ngồi đó trợn mắt sững sốt nhìn theo hai bóng dáng biến mất trong bóng tối, toát mồ hôi trán, không thốt nên lời. Sau một lúc bần thần, bác đưa bàn tay run rẩy cầm lấy cốc cà phê ấm nốc lấy một ngụm to, rồi dụi mắt, quét mồ hôi trán, rồi đặt lại hai bàn tay lên vô lăng. Những ngón tay của bác vẫn chưa thôi run rẩy.

~~~~~~​

“Ông mèo ơi, chúng ta đang đi đâu vậy?” Mai chợt hỏi, khi thấy Mun đang hướng về phía bức tường đá.

“Chúng ta không đi bằng con đường của loài người nữa. Chúng ta đi bằng con đường của các vị thần. Chúng ta sẽ đi qua khu rừng.”

“Chúng ta sẽ leo qua bức tường ư?”

“Không, chúng ta sẽ chui qua bức tường.”

Mun cứ đáp ẩn ý, điều đó làm Mai thêm nơm nớp. Những chuyện đã xảy ra thật đáng sợ, và chẳng thể biết được điều bất ngờ nào đang chờ đợi cô bé ở phía trước.
 
Sửa lần cuối:

Cổ tích: Con đường của chuột​

Xưa kia, ở bên ngoài bức tường Sao Băng có một vương quốc của loài chuột. Vương quốc đó là một hệ thống các hang đất kết nối chằng chịt do loài chuột đào nên, ở nơi đó loài chuột trú ẩn, trốn tránh kẻ thù, và tìm kiếm báu vật của lòng đất: những củ ngọt. Trị vì vương quốc là vua chuột, ngài là con chuột to béo nhất, đuôi dài nhất, râu xoăn tít nhất, và cũng thông thái nhất.

Vương quốc của loài chuột tận hưởng yên bình qua nhiều thế hệ, cho tới khi con người xuất hiện. Họ cày xới đất làm nông nghiệp, phá sập hết những cái hang chuột. Loài chuột mất đi ngôi nhà của mình, phải theo vua chuột tìm kiếm một vùng đất hứa khác. Chẳng được bao lâu thì con người lại kéo đến, lại xới đất, lại khoanh ruộng. Cứ thế, loài chuột đi đến đâu thì con người lại kéo đến đấy. Dần dà loài chuột chẳng còn nơi nào để đi, đành phải sống trốn chui trốn nhủi trong nhà của loài người. Không thể đào hang kiếm củ ngọt được nữa, chúng phải lén ăn trộm hoa màu của loài người. Thế là loài người thả mèo ra, giết hại biết bao nhiêu là chuột.

Rồi con người bắt đầu xây dựng vương quốc của mình. Đầu tiên họ xây hệ thống cống ngầm trước, loài chuột thấy thế mừng rỡ, từ nay chúng đã có chốn an toàn để trú ẩn. Tuy nhiên, đó là nơi cực kì bẩn thỉu và ngột ngạt. Con người trút hết xuống đó bao nhiêu là chất thải hôi hám và tệ hại. Nhưng vì đói, loài chuột ăn mọi thứ chất thải và rác rưởi mà con người ném xuống. Dần dà, chúng trở nên biến chất, ích kỉ và xấu xa như chính con người vậy.

Vua chuột sợ rằng sự tối tăm, hôi hám và đói kém sẽ hủy hoại loài chuột và làm mục rửa vương quốc của ngài. Nhưng ngài không biết phải làm gì, ngài trở nên lạc lối, chỉ còn biết khấn cầu các vị thần cứu rỗi. Một đêm nọ, một vị thần báo mộng cho vua chuột. Vị thần xưng là vua của tất cả các vua ngự trị trong lòng đất, thần của mọi tín đồ tin vào sức mạnh của lòng đất, ngài là Diêm Vương. Thần dặn, để thoát khỏi cảnh lầm than, loài chuột phải dùng chính thiên tính của mình để đến được miền đất hứa. Nếu loài chuột đi đúng lối, thần sẽ cho dấu hiệu.

Sáng hôm sau, vua chuột bò lên mặt đất, ngài liền bắt gặp một con mèo mun to lớn. Nó rượt ngài chạy khắp. Ấy nhưng, khi ngài chạy về hướng bức tường Sao Băng thì nó không rượt nữa. Tin đó là dấu hiệu, ngài liền kêu gọi thần dân—trung thành và còn đó thiên tính của loài chuột—cùng tiến về phía bức tường Sao Băng, cùng hợp sức lại đào một cái hang thật rộng, thật dài xuyên qua bức tường. Ở ngay phía bên kia chính là miền đất hứa, nơi loài chuột sẽ gầy dựng lại vương quốc của chúng.

Ngay trong đêm đó, loài chuột khởi hành chuyến di cư vĩ đại. Hàng ngàn con chuột nối đuôi theo sau vua chuột tìm đến bức tường. Đến đó, chúng hợp sức lại đào hang, đó sẽ là cái hang rộng nhất, dài nhất, vĩ đại nhất mà loài chuột từng đào.

Những con chuột tha hóa mà vua chuột gọi là chuột cống ấy, chúng tức tối vì bị bỏ rơi. Thế là chúng kết thành đàn đuổi theo vô cùng hung hãn. Lúc chúng đuổi kịp thì cái hang đã đào xong, thần dân của vua chuột vẫn còn đang xếp hàng lần lượt chui qua. Vua chuột lúc đấy vô cùng lo sợ, nếu để đám chuột cống lọt qua hang thì miền đất hứa kia cũng sẽ bị ô uế mất. Ngài đành quỳ xuống, chạm chiếc mũi đen bóng xuống mặt đất, nhắm mắt lại thành tâm cầu nguyện.

Lời thỉnh cầu của vua chuột được Diêm Vương chấp nguyện. Từ đâu không rõ, một con mèo mun dũng mãnh lao tới đánh đuổi hết lũ chuột cống. Cuối cùng thì thần dân chuột cuối cùng đã chui vào hang, chỉ còn lại mỗi vua chuột và sứ giả của Diêm Vương. Ngài chợt nhận ra đó cũng là con mèo đã dọa ngài một phen khiếp vía, liền cúi đầu tạ ơn, rồi trở lại hang vẫy tay từ biệt.

Qua bên kia bức tường, loài chuột tìm thấy một khu rừng tươi tốt, nơi mặt đất mềm và phủ cỏ xanh, mà hơn hết là không có bóng dáng con người. Một lần nữa, vương quốc dưới lòng đất của loài chuột được hồi sinh.
 

Chương 7: Vào rừng​

Ngay từ lúc đầu, khi mà người ta phát hiện ra hố Sao Băng thì họ đã nảy lên ý nghĩ phải trèo qua bức tường kia, để thấy, để khám phá và để thỏa lòng tò mò. Những cư dân đầu tiên họ đơn giản chỉ là trèo qua bức tường như leo núi vậy. Cách đó thì vô cùng nguy hiểm, chỉ dành cho ai gan dạ và dẻo dai. Còn những người không đủ can đảm nhưng lại thừa lòng quyết tâm, họ đào và đắp nên lối đi bậc thang hình chữ chi áp lên bức tường. Họ mất mấy chục năm để đắp nên được một lối đi lên thoải mái và vững chắc, rồi còn tạc luôn cả lối để đi xuống ở phía bên kia bức tường nữa.

Lên xuống bức tường dễ dàng rồi thì có vài người nghĩ tới chuyện định cư luôn trong rừng Sao Băng Tuy nhiên họ chỉ ngủ được mấy đêm lại phải mò trở ra, đem theo khuôn mặt khiếp đảm và những câu chuyện kể về yêu quái rừng. Người bên ngoài, dù tin hay không tin, thì cũng đều nhất trí rằng không có gì quý giá trong rừng đáng để họ phải nhọc công leo trèo, trừ phi có kẻ thực sự rảnh rỗi buồn chán hoặc có ý định chọc giận yêu quái rừng.

Rồi có một viên công chức nọ thấy việc đi vòng qua bức tường tốn kém thời gian và công sức, nên rỉ tai xúi thị trưởng cho phá một góc tường để làm đường băng rừng, cũng là tiện đường khai phá khu rừng, một công đôi việc. Ngài thị trưởng thấy đó là ý hay, bèn cho dốc ngân khố tuyển phu thuê thợ. Đến ngày khởi công đại công trình, ngài thị trưởng giành lấy nhát búa đầu tiên, tên tuổi ngài sẽ đi vào sử sách. Ngài đứng trên tường cao, giơ cao búa, đương chuẩn bị giáng xuống thì bỗng nhiên bị sét đánh, cháy đen hết cả râu tóc. Lúc ấy trời trong mây trắng, ai nấy cũng tin đó là do thần thánh trừng phạt. Từ đó về sau không một ai dám có ý nghĩ phá tường. Sự kiện đó trở thành điển tích, con trẻ mới lớn đều được nghe kể, quả thực là tên tuổi ngài thị trưởng đã được lưu danh như đúng nguyện vọng.

Ngày nay, lối đi bậc thang sơ khai kia không còn nữa, nó đã thay đổi rất nhiều. Người ta đã cải tạo, tu sửa nó nhiều lần, đắp bê tông, đúc cốt thép, mở rộng lối đi và lắp lan can che chắn an toàn. Cả thành phố bây giờ có đến mười hai lối đi thang bộ như thế, rải đều như mười hai mốc giờ trên đồng hồ.

Tuy nhiên, Mun không chọn một lối nào trong số đó cả.

Mun tìm đến một tảng đá to tròn nằm nơi chân tường, gần bậc thang sáu giờ. Tại đó nó đọc một câu thần chú kì lạ bằng thứ ngôn ngữ mèo. Tức thì, tảng đá lăn qua một bên, để lộ ra một cái hang đen ngòm.

“Đường hầm của chuột!” Mai reo lên. “Cháu cứ nghĩ nó chỉ có trong truyện cổ tích.”

“Sẽ còn nhiều thứ lắm,” Mun nói đoạn đi vào trong đường hầm.

Đó là một đường hầm dài, tối tăm và ngột ngạt. Mai chẳng thể nhìn thấy gì, nên cô bé nhắm nghiền mắt lại, cầu mong cho mình không gặp phải con quái vật xấu xí hung ác nào hết, giống như những con quái vật hay rình rập trong bóng tối, và đặc biệt là những con trốn dưới gầm giường.

Rồi Mai chợt nhận thấy có luồng không khí tươi mát, trong lành tràn vào mũi mình, thế là cô bé liền mở toang hai mắt, để thấy mình đã ra khỏi đầu kia của đường hầm. Thế giới trước mắt cô bé chính khu rừng Sao Băng—âm u tĩnh lặng đến rợn người, kể cả là khi trăng tròn tỏ.

Mai nom rõ sợ sệt, Mun thì trái ngược. Nó cứ lao thẳng vào trong bóng tối của khu rừng không một chút ngại ngùng, bởi đôi mắt của loài mèo nhìn được nhiều thứ trong đêm hơn đôi mắt của người có thể thấy. Chạy được một đoạn thì Mun chợt dừng lại dưới một gốc cây to: có kẻ đang chặn đường phía trước.

“Kính chào Diêm Vương, ngài lại ghé thăm khu rừng!” kẻ đó cất tiếng.

“Vua chuột, râu ông vẫn dài,” Mun đáp.

“Lông ngài vẫn mượt.”

Một lần nữa, Mai lại thấy một nhân vật ngỡ như chỉ có trong truyện cổ tích. Cô bé chợt cảm thấy phấn khích biết bao khi biết mình lúc này có thể hiểu được tiếng nói của động vật. Nhưng rồi sau đó cô bé lại đổ hụt hẫng, bởi đôi mắt cô bé chẳng thể nhìn thấy được gì ở vua chuột nhiều hơn ngoài một bóng đen mù mờ, tẻ nhạt.

“Ông có điều gì muốn nói với ta sao?” Mun hỏi.

“Cứ hễ trăng tròn là muôn thú trong rừng lại rộn ràng. Nhưng đó chẳng phải là điềm lạ. Điềm lạ nằm ở những cơn gió lang thang. Ta gọi chúng là những cơn gió lang thang vì chúng không phải là gió mùa. Chúng ghé vào tai của những cái cây cổ thụ và thì thầm điều bí mật. Những cái cây lại chuyền cành nhau điều bí mật đó, và còn kể với đất bằng bộ rễ cắm sâu. Ta sống ngần này tuổi vẫn chưa hiểu hết được ngôn ngữ của đất, của trời, nhưng ta biết đó là điềm lạ thường. Ta bèn chui ra khỏi hang và ngóng chờ xem liệu những cư dân khác có hiểu được ý nghĩa của điềm. Thật trùng hợp là đêm nay Diêm Vương lại ghé thăm, thế thì ta càng tin chắc linh tính của ta là đúng đắn.

“À, và ngài đến cùng với một vị khách nữa. Đó là một cô bé loài người. Cô bé trông rất quen. Chẳng phải đây là cô bé năm xưa sao? Cô bé lại mắc phải lời nguyền à? Ồ, không thể. Ta lẩm cẩm quá. Con người không sống thọ đến thế. Cô bé chỉ là hơi giống thôi… nếu không phải nói là giống y như đúc!” vua chuột chợt thốt lên.

“Ta không có bất kỳ liên hệ nào với gió. Nếu ông hứng thú thì cứ việc ở đây nghe ngóng. Thời gian của ta là vàng bạc.”

“Ta không dám làm phiền ngài, hay có ý tọc mạch, nhưng ngài định đi đâu lúc này?” Vua chuột dò hỏi.

“Ta phải băng qua khu rừng.”

“Diêm Vương, ngài biết rõ luật lệ thiêng liêng: con người không được phép vào rừng buổi tối. Trừ phi, ngài phải xin phép Chúa Rừng.”

“Vậy thì Chúa Rừng giờ đang ở đâu?”

“Câu hỏi này ta không biết lời giải đáp,” vua chuột lắc đầu. “Có lẽ, ngài nên tìm thần gác rừng.”

“Vậy ta sẽ đi tìm hắn trước. Hắn vẫn ở chỗ cũ chứ?”

“Ngài ấy không còn ở đấy nữa,” vua chuột đáp. “Tôi sẽ chỉ đường cho Diêm Vương.”
 

Cổ tích: Con trai của người tiều phu​

Ngày xưa, có một ngôi nhà nhỏ ở trong rừng, nơi bác tiều phu cùng vợ và hai người con trai sinh sống. Ngày ngày, bác tiều phu vào rừng đốn cây, rồi kéo gỗ vào làng để bán. Một ngày nọ, bác đổ bệnh, vợ bác vô cùng lo lắng, liền gọi người con trai lớn đến sai bảo.

“Con hãy theo đường mòn vào làng, tìm đến nhà thầy lang và mời thầy về nhà để chữa bệnh cho cha. Trên đường đi con không được la cà, không được chểnh mảng đi khỏi con đường mòn. Khu rừng này có rất nhiều sói, chúng vô cùng mưu mô và gian ác, chúng sẽ dụ dỗ con đi ra khỏi đường mòn rồi bắt con. Buổi sáng con đi thì buổi chiều con sẽ tới làng.”

Người con lớn vâng lời mẹ, sáng sớm hôm sau đã vội lên đường. Khi đi ngang qua một con suối nhỏ, cậu dừng lại nghỉ chân và uống nước mát. Khi đó, chàng trai chợt nghe thấy tiếng cầu cứu của một con rùa bị lật ngửa ở đằng xa.

“Hỡi chàng trai loài người, xin hãy rũ lòng thương mà lật tôi dậy. Tôi nguyện sẽ đền ơn.”

Chàng trai nhớ tới lời mẹ dặn, nghi rằng đó là trò lừa của sói, nên phớt lờ con rùa. Chàng trai đi tiếp, tới trưa thì lại dừng chân ở một con suối khác, tại đây cậu uống nước mát và dùng bữa với bánh mì. Dường như con suối bị nhiễm bẩn, chàng trai sau đó lên cơn đau bụng, nôn thốc nôn tháo, ra hết cả bữa trưa. Sau một lúc hồi lại sức, cậu lại tiếp tục lên đường.

Chàng trai đi tiếp và tìm thấy một con cú non bị rơi khỏi tổ. Nhìn thấy chàng trai, con cú mừng rỡ cầu cứu.

“Hỡi chàng trai loài người, tôi là một con cú đáng thương chưa biết bay đã ngã khỏi tổ. Xin hãy rũ lòng thương đưa tôi trở về tổ, bằng không, những con sói sẽ ăn thịt tôi mất. Cha mẹ tôi sẽ đền ơn chàng xứng đáng.”

Một lần nữa, chàng trai nghi ngờ đó là mưu mẹo của sói. Cậu lại phớt lờ rồi bỏ đi. Một lúc sau, chàng trai đương đói bụng thì tìm thấy bên ven đường một cây táo lớn sai quả, táo chín rụng đầy ra đất. Nghĩ rằng những trái táo rụng đã thối rữa, có thể sẽ gây đau bụng, cậu bèn nhặt đá ném rụng những trái táo còn trên cành. Cậu không biết là gần đó có một bầy khỉ. Chúng vô cùng giận dữ khi biết có kẻ ném đá lên cây, liền lao tới hái táo ném trả lại. Chàng trai sợ hãi liền bỏ chạy trước bầy khỉ hung hăng và cơn mưa táo.

Chàng trai lại tiếp tục lên đường với cái bụng đói lả và cái cổ khát khô. Tới một con suối nữa, cậu dừng chân uống nước, tại đây cậu nghe thấy những lời thì thầm kì lạ đến từ rừng cây.

“Đừng tin con đại bàng… Đừng tin con đại bàng…”

Những lời thì thầm quái đản khiến chàng trai tò mò, nhưng không đủ để khiến cậu trôi dạt khỏi nhiệm vụ. Mà quả thật, chẳng lâu sau trên đường chàng trai gặp phải một con đại bàng. Nó đậu trên cành cao, đưa đôi mắt cao ngạo nhìn xuống chàng trai.

“Hỡi kẻ loài người kia, ta căm ghét các ngươi, chính các ngươi làm ta ra nông nỗi này, nhưng giờ cũng chỉ các ngươi mới có thể cứu giúp được ta. Sau những gốc cây lớn kia là một hốc đá nhỏ, nơi trong đó có mọc một cây nấm thần kì. Hãy đem cây nấm về cho ta, và ta sẽ cho ngươi lời khuyên đắt giá.”

Chàng trai chợt nhớ lại lời cha dạy bảo, rằng sói thường làm tổ trong hốc đá, hốc đất. Những lời thì thậm kì lạ trước đó cũng khuyên rằng đừng tin con đại bàng. Tin rằng con đại bàng đang giở trò lừa phỉnh, cậu bèn phớt lờ nó và đi tiếp.

Đến xế chiều, chàng trai đã có thể nhìn thấy bóng dáng ngôi làng từ trên đồi cao. Lúc này cậu đã rất mệt và đói khát. Đi được một lúc nữa thì cậu phát hiện thấy sâu trong cánh rừng bên đường là một bụi dâu rừng chín mọng sai quả, nhìn mà ứa nước miếng thòm thèm. Dẫu nhớ lời mẹ dặn là không được đi khỏi đường mòn, nhưng vì thấy mình sắp tới làng, nên cậu đánh liều tiến tới chỗ bụi dâu. Ở đó, cậu bị lũ sói vây bắt.

Người mẹ chờ cả ngày thứ hai, đến khi trời sập tối nhưng không thấy người con lớn trẻ về, liền ôm mặt khóc đau khổ. Bà gọi người con út tới dặn dò.

“Anh con đã bị sói bắt mất. Mai con hãy lên đường thay anh đi tìm thầy lang. Nhớ lấy lời mẹ, đừng bao giờ đi khỏi con đường mòn.”

Sáng sớm hôm sau, người con út vâng lời mẹ lên đường. Khi đi ngang qua con suối nhỏ, cậu dừng chân uống nước và gặp con rùa nọ. Con rùa lại nói, “Hỡi chàng trai loài người, xin hãy rũ lòng thương mà lật tôi dậy. Tôi nguyện sẽ đền ơn.”

Chàng trai chần chờ trong một lúc, nhớ lại lời mẹ dặn. Nhưng vì thấy con rùa trông thật đáng thương, nên cậu đánh liều tới lật con rùa lại. Thật may, không có con sói nào xuất hiện.

Con rùa chợt nói, “Để đền ơn lòng tốt bụng của chàng, ta xin mách nước. Suối ở đây vừa mát vừa lành, hãy uống nước thật no, bởi con suối phía trước đã bị nhiễm độc, uống vào sẽ bị đau bụng. Con suối thứ ba mà chàng gặp thì mới lại uống được.”

Người con út nhớ lấy lời của con rùa. Khi đến con suối tiếp theo, chàng trai dừng lại nghỉ trưa, ăn bánh mì. Dù bánh mì có khô và khó nuốt thật, nhưng cậu vẫn không hớp lấy một giọt nước suối. Tỉnh dậy khỏe khắn sau một lúc chợp mắt, chàng trai lại tiếp tục lên đường. Chàng đi một lúc thì lại gặp con cú nọ, lần nữa nó cầu cứu.

“Hỡi chàng trai loài người, tôi là một con cú đáng thương chưa biết bay đã ngã khỏi tổ. Xin hãy rũ lòng thương đưa tôi trở về tổ, bằng không, chó sói sẽ ăn thịt tôi mất. Cha mẹ tôi sẽ đền ơn chàng xứng đáng.”

Chàng trai chần chờ trong một lúc, nhớ lại lời mẹ dặn. Nhưng vì thấy con cú đáng thương, nên cậu đánh liều giúp con cú trở lại tổ. Cái tổ nằm trên cành của một cái cây ở sâu trong rừng, nhưng thật may, không có con sói nào xuất hiện.

Ở trên tổ, con cú nói, “Cha mẹ tôi chưa về, ngay khi họ về tôi sẽ bảo họ tới cảm tạ chàng. Tôi chỉ có thể mách nước cho chàng. Phía trước con đường mòn có một cây táo sai quả. Chàng hãy nhặt những trái táo rụng để ăn, chớ đừng dại dột trèo lên hái táo trên cành. Lũ khỉ nếu phát hiện được, chúng sẽ kéo tới đánh chàng một trận.”

Người con út nhớ lấy lời con cú, tiếp tục vững dạ lên đường. Đúng như con cú nói, chàng trai tìm thấy một cây táo sai quả bên đường mòn, táo chín rụng đầy mặt đất. Cậu chỉ nhặt lấy những quả táo rụng, chọn lựa lấy những quả còn tươi nhất để ăn. Táo rất giòn và ngọt, cậu vừa đi vừa ăn.

Khi tới con suối thứ ba, chàng trai dừng lại uống nước như lời con rùa đã mách. Tại đây, cậu nghe thấy những lời thì thầm đến từ rừng cây.

“Đừng tin con đại bàng… Đừng tin con đại bàng…”

Chàng liền hỏi lại, “Ai đấy? Ai vừa nói đấy? Có chuyện gì với con đại bàng?”

“Đừng tin con đại bàng! Đừng tin những lời lừa lọc! Nó gian ác hơn cả sói.”

“Đại bàng kia nó đã làm chuyện gì mà ác hơn cả sói?”

“Đừng tin con đại bàng… Đừng tin con đại bàng…”

Những lời thì thầm cứ lặp đi lặp lại, khiến người con út không khỏi lo sợ. Thế nhưng, cậu vẫn phải đi tiếp. Không lâu sau, cậu gặp một con đại bàng đậu trên cành cao, nhìn cậu bằng ánh mắt cao ngạo, khinh thường.

“Hỡi kẻ loài người kia, ta căm ghét các ngươi, chính các ngươi làm ta ra nông nỗi này, nhưng giờ cũng chỉ các ngươi mới có thể cứu giúp được ta. Sau những gốc cây lớn kia là một hốc đá nhỏ, nơi trong đó có mọc một cây nấm thần kì. Hãy đem cây nấm về cho ta, và ta sẽ cho ngươi lời khuyên đắt giá.”

Chàng trai liền hỏi, “Con người đã làm gì phải tội với mi?”

“Mũi tên của con người đã làm ta bị thương. Ta không thể bay cao, bay xa được nữa. Các ngươi phải chuộc lại lỗi lầm. Cây nấm thần kì dưới hốc đá có thể chữa lành vết thương của ta.”

Chàng trai liền nhớ lại lời cha mẹ dặn. “Mi đừng hòng lừa ta. Hốc đá kia ắt hẳn là tổ sói. Tại sao mi không tự vào đấy?”

“Mi có thể không giúp ta, nhưng đừng phỉ báng ta. Đại bàng là vua của bầu trời, đôi cánh của chúng ta cao quý. Hang hốc là sự sỉ nhục cho chúng ta.”

Thấy đại bàng cứng rắn, chàng trai tin lời đại bàng nói là thật, liền liều chui xuống hốc đá. Quả thật, ở dưới đó có một cây nấm to. Thật may là không có con sói nào xuất hiện.

Đại bàng ăn cây nấm xong, thì gửi chàng trai lời khuyên. “Khi qua ngọn đồi, mi sẽ thấy một bụi dâu chín mọng trong rừng. Dù mi có thèm thuồng tới mấy thì cũng chớ dại dột vào hái dâu, bởi lũ sói sẽ ùa ra vây bắt. Một kẻ đến từ con đường mà mi tới đã bị chúng bắt đi.”

“Ôi, đó có thể là anh trai ta. Làm sao để ta cứu anh ta đây?”

“Sào huyệt của lũ sói cách không xa bụi dâu ấy. Nếu may mắn, lũ sói sẽ để dành anh mi cho mùa đông sắp tới.”

Nhớ lời đại bàng, người con út lập tức lên đường. Khi vừa ngọn đồi, cậu đã thấy ngôi làng, xa xa phía kia chính là bụi dâu mà đại bàng đã mách bảo. Vì bỏ thời gian cứu giúp những con vật, cậu vừa xuống tới lưng chừng đồi thì trời đã tối mù. Chàng trai đâm hoảng hốt, không biết phải làm sao để đi được trong tối. Nếu ngờ nghệch đi khỏi đường mòn, cậu sẽ bị sói bắt. Chợt lúc ấy có một con cú mèo bay tới bên cậu.

“Chào chàng trai loài người tử tế. Chàng đã cứu giúp đứa con bé nhỏ của ta, ta đến để báo ơn. Ta sẽ dẫn đường cho cậu đến nơi cậu muốn.”

Đi theo tiếng kêu của cú mèo, trong đêm tối người con út đã tới được làng bình an vô sự. Ngày hôm sau, dân làng kéo vào rừng, họ sau đó tìm thấy một tổ sói không xa bụi dâu. Họ đánh đuổi lũ sói, rồi tìm thấy người con trai lớn của bác tiều phu, cùng với những đứa trẻ khác bị sói bắt cóc.

Chiều hôm đó, hai anh em đã trở về nhà cũng với thầy lang. Người mẹ vui mừng khôn xiết, khóc hết nước mắt. Nhờ thảo dược của thầy lang mà bác tiều phu đã khỏe mạnh sau ít ngày. Từ đó, gia đình bác tiều phu tiếp tục những ngày hạnh phúc êm đềm.
 
Sửa lần cuối:

Chương 8: Thần gác rừng​

Vua chuột nói là ngài sẽ chỉ đường chứ không phải dẫn đường. Hiển nhiên rồi, vì ngài đã già, thậm chí còn to béo. Ngài sai chú chuột chạy nhanh nhất dẫn đường cho Mun, còn dặn là phải chạy cho thật nhanh. Chú chuột dẫn đường kia rõ là chạy rất nhanh, chạy mà xới tung cả lá rụng dưới đất lên. Động lực giúp chú chạy nhanh như thế phần nhỏ là vì phải tuân lệnh đức vua, còn phần lớn là vì sau lưng chú là một con mèo trông thật đáng sợ.

Chú chuột dẫn Mun và Mai băng qua một bãi đất mọc cỏ um tùm, xung quanh là mấy thân cây đại thụ nằm mục, phủ rêu xanh và mọc thưa thớt mấy cây nấm con con.

“Cái gì có thể làm những cái cây khổng lồ đổ xuống cơ chứ?” Mai tự hỏi.

“Con người làm đấy,” Mun đáp.

Sau một lúc dẫn đường băng qua nhiều gốc cây, leo qua nhiều con dốc, lội qua nhiều đoạn trũng, chú chuột chạy chui tọt xuống cái hang đất dưới gốc thông to. Ở dưới đó chú thở hổn hển, nói run rẩy, “Chính là… cái cây… này đây.”

Mun ngước nhìn lên trên, ước chừng cái cây rất cao, dễ chừng cao hơn cả tòa nhà hai mươi tầng, bèn nói, “Cô bé, ôm chặt lấy ta,” rồi leo thẳng lên cây.

Mai sợ hãi nhắm nghiền mắt lại, hai tay ôm chặt lấy cổ Mun. Thế nhưng, lông của Mun khá trơn, những ngón tay của cô bé cứ mỗi lúc lại trượt một tí. Cứ thế cho tới khi hai tay tuột hẳn, và cô bé rơi khỏi lưng Mun, sợ hãi hét to. Ngay lúc đấy, Mun liền quẫy đuôi bắt lấy cô bé rồi cuộn tròn đuôi lại. Chú mèo cứ thế giữ chặt lấy cô bé và tiếp tục hành trình chinh phục ngọn cây.

Tốn khá nhiều thời gian và sức lực, cuối cùng thì Mun cũng leo lên được cái cành cao nhất của cây thông. Chú mèo thả Mai xuống, và bảo cô bé đợi. Lúc này cô bé mới nhận ra đây là cái cây cao nhất của khu rừng. Cô bé tò mò muốn biết thần gác rừng là ai, nhưng không dám hỏi. Thế là cả hai cùng im lặng chờ đợi, chiêm ngưỡng vẻ đẹp về đêm của khu rừng dưới ánh trăng.

Vì đây là nơi cao nhất, nên chẳng có gì có thể che khuất ánh trăng khỏi mắt họ, trừ những đám mây lang thang. Mặt Trăng hiện ra tròn trịa và sáng vằng vặc, lu mờ cả ánh sao. Khu rừng thì hiện ra rộng lớn, kỳ vĩ đến choáng ngợp, khoác một sắc màu tĩnh lặng, xám xịt, nhấp nhô những mảng tối sáng. Khi có cơn gió lạ tạt qua làm khu rừng trở nên khuấy động, ngọn cây ngả nghiêng theo từng làn sóng, gợi nhớ cho cô bé về bãi cỏ đung đưa lau trước nhà.

Mun chợt ngước nhìn sang một hướng khác, cô bé nhận thấy điều đó và ngước nhìn theo. Cô bé để ý thấy có một bóng đen đang sải cánh liệng vòng vòng trên cao. Sau một lúc, bóng đen sà xuống và đáp xuống ngay bên cạnh cô bé, quay lưng về phía Mai và Mun, hiện ra là một con chim to lớn.

“Đừng có bất lịch sự, thần gác rừng,” Mun nói.

Sinh vật đó liền quay ngược đầu 180o lại nhìn Mun và Mai, “Cu cu! Ta có thể thấy các vị, cu cu!” Nó hiện ra là một con cú mèo.

Mai sợ hãi chạy tới nấp đằng sau Mun. Cô bé chưa từng nhìn thấy con gì có thể bẻ ngược đầu ra sau lưng như thế, trong giây lát liền liên tưởng tới yêu tinh trong truyền thuyết.

“Cô bé đừng sợ, cu cu!” Thần gác rừng vẫn dán mắt nhìn cô bé, trong lúc xoay thân mình lại. “Cú mèo không thể đảo mắt như con người, cu, nhưng bù lại cái cổ của cú mèo rất linh hoạt, như thế này…” thần vừa nói vừa dựng lông, vừa lắc lư cái đầu nhún nhảy như một vũ công đang thả hồn phiêu lưu trong vũ điệu sôi động. “Xin tự giới thiệu với cô bé, ta là kẻ gác đêm, cu cu.”

“Thần gác đêm,” Mun lên tiếng, “chúng ta cần ngài giúp đỡ.”

“Cu! Diêm Vương, lâu lắm ta không gặp nhau, nhỉ, cu cu?” thần gác rừng nói tiếp. “Ô mà cũng không trách được, cái cây trước kia đã đổ vì già nua quá. Bọn ta phải kiếm một cái cây mới. Bọn ta đã cãi nhau gay gắt lắm đấy, cu cu! Nhưng ta đã quyết định đó phải là cái cây này—”

“Thần rừng!” Mun đột ngột ngắt lời. “Ông biết gì vễ những cơn gió?”

Thần gác rừng nghe thế thì lông trên mình xẹp xuống, cái đầu thì ngưng lắc lư, đôi mắt nhướng to nhìn thẳng về phía Mun vẻ nghiêm túc lắm. “Những cơn gió à? Cu cu cu, tối nay mọi thứ thật rộn ràng. Không chỉ đơn giản là trăng tròn thôi đâu. Diêm Vương ghé thăm khu rừng, mang theo một con người tí hon bị nguyền rủa bởi vị thần vô cùng quyền lực. Cô bé lại trông thật quen, gương mặt này ta đã từng nhìn thấy, cũng phải mấy chục năm trôi qua rồi.”

“Thần rừng, xin đừng lan man. Những cơn gió.”

“Diêm Vương lại tò mò về những cơn gió, từ khi nào vậy nhỉ, cu cu?” Thần gác rừng lại lắc lư nhún nhảy cái đầu. “Đó cũng là một điềm lạ, cu cu. Những cơn gió tối nay đúng là lạ thường, chúng đến từ nơi xa lạ, chúng nói với nhau bằng ngôn ngữ của các vị thần cổ xưa, chúng cứ lặp đi lặp lại vỏn vẹn mấy lời, như thể đó là thông điệp cần phải truyền tải. Từ ai chứ? Ta không biết. Tới ai chứ? Ta cũng không biết, cu cu.”

“Ông có hiểu những thông điệp đó không?”

“Ta biết rất nhiều thứ, nhưng cũng có lắm thứ ta không biết. Thật xấu hổ, cu cu.”

“Nếu như thông điệp đã tìm đến đây, thì ít nhất phải có kẻ hiểu được chúng chứ?”

“Diêm Vương nói chí phải, cu cu,” thần gác rừng lại nhún nhảy. “Nhưng chúa tể của lòng đất hứng thú điều gì ở cơn gió chứ?”

“Ta chỉ tò mò một chút. Chúng khá phiền nhiễu.”

“Những cái cây, chúng có thể hiểu. Nhưng có cái cây nào biết nói không nhỉ, cu cu?”

“Thôi không quan trọng nữa.” Mun thở dài, nom chán nản. “Ta muốn đưa cô bé này tới được phía Bắc của khu rừng.”

“Ngài muốn ta giúp gì à, cu cu?”

“Đó là điều ta đã nói trước đó. Hãy cho cô bé mượn đôi cánh của ngài.”

“Điều đó dễ thôi. Nhưng ta chỉ có thể đưa cô bé tới được bức tường. Ngài biết là ta không thể bay qua bức tường, cu!”

“Hãy đợi ta ở đó.”

Thần gác rừng chợt nghiêng cổ nhìn Mun vẻ thắc mắc. “Nếu thế thì sao ngài không tự mình đưa cô bé tới đó? Thời gian là như nhau mà, cu cu.”

“Những con thú đang bất an, chúng sẽ không thích con người đi qua lãnh địa của chúng,” Mun đáp.

“Ta lại hồ đồ rồi, cu cu. Được rồi, ta sẽ đưa cô bé tới đó.”

“Hãy cẩn thận những cơn gió. Ta sẽ chờ ông ở đó,” nói rồi Mun nhảy thẳng từ đó xuống mặt đất.
 

Chương 9: Món quà của thần​

Mai nhìn theo Mun biến mất sau tầng lá và thốt lên, “Ở đây cao lắm!”

“Yên tâm, hắn không chết được đâu,” thần gác rừng nói và nhìn theo.

“Ông ấy sẽ không sao chứ?” Mai tròn xoe mắt.

“Cô bé không biết gì về hắn à, cu cu?” thần gác rừng nhún nhảy cái đầu. “Thế thì ta sẽ kể cho cô bé biết mọi thứ ta biết về hắn, cu. Nhưng mà trước hết ta có món quà muốn tặng cho cô bé, hãy nhìn vào mắt ta.”

Thần gác rừng tiến tới gần Mai, dí đầu sát tới và mở thật to đôi mắt. Mai sợ quá liền đưa tay lên che. Thần liền trấn an, “Cu cu, đừng sợ, hãy nhìn vào mắt ta.”

Mai miễn cưỡng nhìn vào mắt của thần, nheo mắt dè chừng. Đôi mắt của thần gác rừng từ từ hóa thành hai viên ngọc óng ánh sắc lục bảo tuyệt đẹp, tỏa ra một luồng ánh sáng nhẹ nhàng và cuốn hút đến ma mị. Cô bé như bị hớp hồn bởi vẻ đẹp kì ảo ấy, đôi mắt mở to lúc nào không biết. Sau ít giây, cô bé đột nhiên nằm xuống bất tỉnh.

Tiếp chục phút sau đó, thần gác rừng mới gọi cô bé dậy. Thần nói, “Cháu vừa ngủ một giấc thật sâu, cu cu, sâu như ngủ đủ giấc. Nhìn vào đôi mắt cháu, ta thấy sự mệt mỏi. Cũng phải thôi, cu cu, con người không phải là loài sống về đêm.”

Mở mắt được ít giây thì Mai chợt giật mình hoảng hốt, thần liền nói tiếp, “Cu cu! Đừng sợ, đó là món quà thứ hai ta tặng cho cháu. Từ từ cháu sẽ quen với đôi mắt của loài cú. Hãy nhìn ra xa thử xem, cu cu.”

Mai nhìn ra xa khắp nơi, quả thực, thế giới trong mắt cô bé đã thay đổi. Trên cao mặt trăng vẫn tỏa sắc vàng rực rỡ, bầu trời đen giờ đã thay sắc thiên thanh tối. Khu rừng xám xịt trước kia giờ đã lấy lại sắc xanh như vốn có của cây cỏ. Còn thần gác rừng, ngài không còn là cái bóng đen mờ ảo nữa, mà hiện ra là một con cú mèo chân thực, sống động với đôi mắt mở to thật to, con ngươi đen lay láy, trên đầu là hai chùm lông mọc dựng như tai nhọn, bộ lông thì phúng phính với nhiều mảng màu trắng, đen, nâu đan xen.

“Khi tia sáng mặt trời đầu tiên lọt vào mắt cháu thì đôi mắt cú mèo sẽ biến mất, cu cu. Mọi thứ không giống như là ban ngày, nhưng chí ít, vẫn còn tốt hơn đôi mắt của loài người, cu cu. Cháu thử nhìn xem có vật nào dưới kia không.”

“Cháu không thấy Mun đâu.”

“Mun…?” Thần gác rừng chợt mở to mắt, lông dựng hết cả lên vì sửng sốt. “Cu! Chúng ta quên mất con mèo rồi! Cô bé mau leo lên lưng ta. Cu! Tại sao ta lại hốt hoảng nhỉ? Bởi đường chim bay là đường ngắn nhất, cu cu. Vậy thì hãy thong thả, cu. Cô bé cứ làm ta bối rối. Ôm thật chặt vào cô bé, vì ta sẽ bay rất cao, vì ta không muốn những con thú biết tới sự hiện diện của cô bé. Ta đã hứa là sẽ kể cho cô bé nghe chuyện của con mèo đấy, và ta sẽ kể trên đường bay. Chúng ta còn rất nhiều thời gian, hãy thong thả, cu cu.”
 

Chương 10: Bay trên đôi cánh của thần​

“Hắn nói đúng thật, cu cu. Những cơn gió thật khó lường,” thần gác rừng nói khi sải cánh lướt trong gió. “Con mèo đấy từng rất quyền phép, cu. Vì hắn là thú cưng, là báu vật của một vị thần vô cùng quyền lực—chúa tể của lòng đất, Diêm Vương! Hắn quyền phép đến nỗi hễ bọn ta thấy hắn thì cứ ngỡ như là nhìn thấy Diêm Vương vậy.”

Thật không thể tin được!” Mai thốt lên trầm trồ. “Thì ra vì thế mà ai cũng gọi Mun là Diêm Vương. Bà cháu cũng từng bảo với cháu thế, vậy mà cháu không tin.”

“Cu, nhưng về bản chất hắn cũng chỉ là một con mèo, cũng vì thế mà giờ hắn phải sống như một con mèo trần thịt.”

“Tại sao vậy thần?”

“Cô bé có biết chuyện gì đã xảy ra giữa hắn và Thượng Đế không, cu?”

“Có phải là về con chim lông vàng không hả thần? Nếu thế thì bà cháu đã kể cho cháu rồi.”

“Thế thì phải, cu cu. Sau khi bị xổng mất con chim, Thượng Đế giận lắm, ngài muốn trừng phạt con mèo ấy. Diêm Vương phải đứng ra cầu xin. Thượng Đế nể tình, nên đày hắn xuống trần gian, cấm không cho đặt chân trở lại cõi của các thần. Nếu con mèo ấy chết như sinh vật phàm, thì nó sẽ phải xuống địa ngục, mà như thế thì chẳng khác nào là được về nhà cả. Thế là Thượng Đế nguyền rủa hắn phải bất tử. Mà đã bất tử thì sao còn là kẻ phàm trần được. Nhiều lúc ta nghĩ Thượng Đế cũng thật là mâu thuẫn, cu cu cu.”

“Thảo nào lúc nãy thần bảo Mun sẽ không sao,” Mai thở phào nhẹ nhõm.

Đôi cánh của thần gác rừng vẫn đập đều đặn trong không trung. Ở bên dưới, những cái cây cứ như mọc chân lên và đi ngược chiều với Mai. Chưa bao giờ cô bé lại thấy khu rừng rộng lớn đến thế và chất chứa biết bao nhiêu là cây cối. Thỉnh thoảng, cô bé lại thấy những khoảng đất trống mọc um tùm cỏ, và những khoảng trống này như xếp thành một hàng dọc chạy dài theo hướng bay của thần.

“Tại sao ở đó lại trống cây vậy thần?” Mai liền hỏi.

“Là do con người làm đấy, cu,” thần gác rừng đáp, nhưng giọng điệu ngài không con vui tươi như trước.

“Con người? Mun cũng bảo cháu thế. Họ đã làm gì à?”

Thần im lặng. Mai có thể cảm thấy đôi cánh của ngài đập lạc nhịp hẳn đi. Rồi khi nhịp đập cánh lại đều đặn, thần mới nói, “Là hành vi đánh nhau của con người. Con vật dù cùng loài, cùng bầy, khi có mâu thuẫn hay thù hằn gì thì cũng quay sang đánh nhau cả, ta không trách cứ gì con người nếu họ cũng có hành vi tương tự. Nhưng nếu là thật nhiều con người tham gia đánh nhau, thì đó không còn là một trận ẩu đả nữa, đó là chiến tranh. Con người đã tiến hành chiến tranh với nhau từ thời xa xưa rất xưa.

“Rồi con người chinh phục được bầu trời bằng chim sắt. Từ trên chim sắt họ ném xuống sự thù ghét lên đầu những con người khác. Họ gửi gắm sự thù ghét đó vào những quả bóng bằng sắt mà họ gọi là bom. Những trái bom đó biết nổ, đã nổ thì to như sét đánh, hủy diệt còn hơn cuồng phong, núi lở, khiến cho cây đại thụ ngàn năm cũng phải bật gốc, đá cứng từ thời trời đất hình thành cũng phải vỡ tan thành cát, đất đai chết đi và cây không thể cắm rễ. Bầy sói có cắn nhau thì cũng chỉ có bầy sói tàn tật. Con người đánh nhau thì cả muôn loài thương vong, biết bao sinh linh liên lụy.”

“Cháu xin lỗi… Cháu không biết…”

“Cháu không cần phải xin lỗi vì những chuyện cháu không làm, những chuyện cháu không biết, những chuyện xảy ra trước khi cháu chào đời. Những con người ngoài kia bức tường có vẻ yếu thế, hễ có chiến tranh thì họ đều kéo nhau trốn vào rừng. Cuộc chiến gần đây nhất đã trôi qua hơn nửa thế kỉ. Khi đó, những con người từ phương xa cưỡi chim sắt đến, trút bom xuống tổ của con người ngoài kia, và rồi trút xuống luôn cả khu rừng.”

“Ra là thế,” Mai khẽ nói.

“Con mèo lúc đó cũng đèo trên lưng một bé gái tí hon như cháu vậy, rất giống cháu là đằng khác. Hắn chỉ muốn đưa cô bé đó tới bờ kia của khu rừng. Thời điểm ấy, luật lệ vẫn là luật lệ, nhưng con người vào ra khu rừng thật dễ dàng hơn bây giờ rất nhiều.”

“Tại sao vậy thần?”

“Vì lúc đó các vị thần rừng còn chưa nổi giận, những con vật cũng thế. Giờ luật lệ siết chặc, con người bị cấm vào rừng buổi tối. Những kẻ gác rừng như bọn ta phải bảo vệ luật lệ.”

“Bọn ta? Cháu không hiểu.”

“Cu! Là khu rừng này có hai kẻ gác rừng, một kẻ gác đêm và một kẻ gác ngày. Kẻ gác đêm chính là cú mèo ta, kẻ gác ngày là đại bàng. Chúng ta vốn là anh em họ hàng xa, cu!”

“Các thần trừng phạt con người xâm phạm như thế nào ạ?”

“Cháu không nên biết. Cháu chỉ nên biết là bọn họ không bao giờ dám bén mảng trở lại, cu.”

Mai có vẻ hụt hẫng, nhưng đành chịu. Người lớn không thích trẻ con hỏi nhiều, cô bé cứ đinh ninh như thế.

“Hãy nói ta nghe cô bé, tại sao cháu cần phải tới bờ Bắc của bức tường? Hãy nói ta nghe đi bởi con mèo kiêu kì kia sẽ chẳng chịu hé một lời nào đâu, cu cu. Có phải cháu đang đi tìm một người nào đó?”

“Cháu phải đi tìm bà cháu.”

“Ta đã đoán đúng, cu cu,” thần gác rừng trông phấn khởi.

“Làm sao mà thần đoán được?”

“Bởi cô bé trước kia cũng thế. Chuyện đã lâu nhưng ta vẫn còn nhớ. Cũng vào một đêm trăng tròn, cô bé đó bị lạc gia đình trong khi bom đang trút xuống, và con mèo đã giúp cô bé. Hắn nhờ tới đôi cánh và đôi mắt của ta để tìm họ. Cô bé đã bị Thần Hài Đồng nguyền rủa thu nhỏ, nhưng trước đó lão cũng giúp cô bé biết bố mẹ cô bé ở đâu. Cô bé phải tìm được bố mẹ trước khi trời sáng, bằng không cô bé sẽ phải bị tí hon vĩnh viễn. Lúc đấy hỗn loạn lắm, cu cu, nhưng ta đã tìm được họ và dẫn đường cho con mèo xấu tính kia. Cháu bé, chuyện gì đã xảy ra với cháu, cu?”

“Đó là một giấc mơ kì lạ, cháu không chắc nữa. Ở đó có một cái hang lấp lánh, một con sông đen tối, và bà cháu đứng ở đó.”

Thần gác rừng chợt im lặng trong một lúc. Vẻ vui tươi phấn khởi của thần mới đó rồi lại vụt tắt. Thần nói, “Ta biết bà cháu ở đâu. Nhưng ta không thể đưa cháu tới đó, cu. Ta không biết con mèo định đưa cháu đi đâu. Ta mong rằng con mèo đó biết rõ hắn đang làm gì, cu. Cu! Ôm chặc lấy!”

Thần vừa dứt lời thì những cơn gió nhiễu loạn ập đến khiến thần chao đảo đôi cánh. Thần bèn thả lỏng, nương mình theo cơn gió, chờ cho tới khi không trung yên ắng trở lại. Tuy nhiên, gió mỗi lúc mỗi mạnh và hỗn loạn, thần đành phải bay thấp xuống gần ngọn cây. Bỗng chợt một luồng gió cực mạnh khác ập tới hất tung đôi cánh của thần, khiến thần phải xoay vòng vòng trên không trung. Mai sợ quá hét lên, những cú xoay vòng làm cô bé từ từ tuột tay khỏi cổ thần, và rồi rơi khỏi lưng thần.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
chosanbo clone 1.1,
Người trả lời cuối
kuromugi,
Trả lời
29
Lượt xem
1.480
Quay lại
Lên đầu trang