CHƯƠNG 1 (1)
Làng Vọng Khê, một ngôi làng nằm ngay trên trục đường thương mại huyết mạch nối liền các cửa biển lớn, nơi này là một mảnh ghép kỳ lạ của sự phồn hoa và bần hàn đan xen với nhau. Những xưởng tơ lụa tường cao cửa rộng, sực nức mùi thơm và tiền bạc của giới buôn tàu bè nằm san sát, chung vách với những mái tranh dột nát của dân chài nghèo khổ.
Giữa cái không gian bức bối và đầy rẫy sự phân tầng ấy, căn nhà lá nhỏ của thầy đồ Hiếu hiện lên như một sự kỳ quặc đến khó hiểu. Đó là một túp lều tranh thấp bé, xơ xác, nhưng lại sở hữu một cây khế cổ thụ to lớn khác thường. Tán cây xanh ngắt, che rợp cả một góc sân, cành lá trĩu nặng những chùm quả vàng mọng, mỡ màng. Điều trớ trêu nhất chính là ngay sát vách căn nhà lá tiêu điều này là một dinh cơ mái ngói rộng rãi, uy nghi với những hàng cột gỗ lim bóng loáng.
Phía trong căn nhà lá chật hẹp, một khoảng trống bên dưới mái tranh được Hiếu tận dụng làm nơi dạy chữ cho đám trẻ nghèo khó nhất trong làng. Thầy Hiếu chỉ mới ngoài đôi mươi, thầy ngồi trên một chiếc sập gỗ thấp, khoác lên mình chiếc áo dài nho sinh màu xanh nhạt tuy đã sờn ở gấu nhưng luôn được vuốt phẳng phiu. Gương mặt thầy thanh tú, mang vẻ thư sinh với đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ, khiến đám học trò nghèo vốn chịu nhiều thiệt thòi luôn cảm thấy được che chở và yêu quý thầy hết mực.
Thầy đang chậm rãi mài mực, từng vòng xoay của thỏi mực trên nghiên đá đều đặn, nhịp nhàng. Thầy khẽ gõ nhẹ cây thước tre xuống mặt bàn, nhìn xuống đám học trò mà nói: “Tí, con đứng dậy nào”.
Đứa nhỏ tên Tí, mặc chiếc áo cánh nâu bạc màu, vội vàng đứng bật dậy, gương mặt rạng rỡ, hai tay khoanh trước ngực lễ phép: “Dạ thưa thầy Hiếu, con đây ạ!”
“Con hãy đọc cho thầy và các bạn nghe đoạn nói về đạo hiếu với cha mẹ trong sách mình vừa học, rồi cắt nghĩa xem nào”.
Thằng bé hắng giọng, tự tin đọc bằng giọng lanh lảnh: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương. Dạ thưa thầy, nghĩa là: Khi cha mẹ còn sống, con cái không nên đi chơi xa, nếu có đi thì phải cho cha mẹ biết nơi mình đến để cha mẹ khỏi lo lắng ạ. Đạo làm con phải lấy sự an lòng của cha mẹ làm đầu ạ!”
Thầy Hiếu dừng tay mài mực, nở một nụ cười rạng rỡ. Thầy bước xuống khỏi sập gỗ, xoa đầu thằng Tí một cách âu yếm: “Giỏi lắm! Cha mẹ vất vả nuôi ta khôn lớn, lòng hiếu thảo chính là cái gốc rễ của đạo làm người. Chỉ cần các con luôn giữ được tấm lòng trong sáng và biết thương kính mẹ cha, thì sau này đi đâu, làm gì cũng sẽ được trời cao che chở.”
Đám trẻ đồng thanh "Dạ" một tiếng thật lớn, không khí lớp học bỗng chốc trở nên ấm áp và tràn đầy tiếng cười. Thầy Hiếu quay trở lại bàn, tay cầm bút lông nhúng vào nghiên mực đen lánh, vừa cười vừa nói với đám trẻ về những câu chuyện nhân nghĩa ở đời.
Từ phía sau gian bếp, một bóng người lầm lũi bước vào. Đó là nàng Sen, vợ thầy Hiếu. Nàng bưng một khay trà nhỏ đặt lên bàn cho chồng. Ánh mắt nàng khẽ lướt qua bức vẽ một loài chim khổng lồ đang dần hiện hình dưới nét bút của Hiếu, rồi lại nhìn sang nụ cười rạng rỡ của chồng mình với đám trẻ. Nàng im lặng mỉm cười, trong lòng tràn ngập hạnh phúc. Dẫu cuộc sống còn nhiều túng thiếu, nhưng nhìn thấy chồng được đám trẻ kính trọng và yêu mến như vậy, nàng cảm thấy lòng mình ấm áp lạ thường.
Buổi học kết thúc, đám học trò chưa vội về ngay. Mấy đứa nhỏ nhìn ra cây khế trĩu quả ngoài sân, đứa nào đứa nấy nuốt nước miếng ừng ực. Thằng Tí đại diện cả bọn, bẽn lẽn thưa: “Thầy ơi... khế chín vàng quá, thầy cho tụi con hái một ít ăn nha thầy?”
Thầy Hiếu ngẩng đầu lên, mỉm cười hiền hậu: “Được rồi, mấy đứa cứ ra hái mà ăn. Nhưng nhớ là chỉ lấy những quả ở thấp thôi, đừng có đứa nào leo trèo kẻo té ngã thì thầy không cho đi học nữa đâu đấy nha!”
“Dạ! Chúng con nhớ rồi ạ!”
Đám trẻ reo hò ầm ĩ rồi ùa ra vườn. Chúng nhanh nhảu tìm những cành tre, cành củi dài để khều những quả khế mọng vàng gần mặt đất nhất. Tiếng cười đùa vang lên rộn rã dưới tán lá xanh rì. Cả bọn vừa hái vừa ăn ngấu nghiến, vị chua ngọt thanh tao thấm vào đầu lưỡi làm đứa nào cũng khoái chí.
Trong lúc đang đùa nghịch, thằng Tí lỡ tay quăng mạnh cái cùi khế đã ăn hết về phía bức tường ngăn cách. Cái cùi khế bay vèo qua hàng rào, rơi trúng vào khoảng sân gạch bát tràng phẳng phiu của dinh cơ mái ngói rộng rãi ngay kế bên.
Tiếng cười bỗng khựng lại. Đám trẻ nín thở nhìn về phía bức tường cao vút. Từ bên kia sân, một người phụ nữ chậm rãi bước ra. Bà ta diện một bộ đồ lụa là đắt tiền, cổ đeo vòng vàng, môi đỏ thẫm vì nhai trầu liên tục. Nhìn thấy cái cùi khế nằm chình ình trên sân gạch sạch bóng, đôi mắt sắc sảo của bà ta lập tức hiện lên sự giận dữ.
“Đứa nào? Đứa mất dạy nào dám quăng rác sang nhà tao?”
Thằng Tí tái mét mặt mày, chân tay bủn rủn. Đám bạn đứng cạnh nó lấp bấp nói nhỏ, giọng run bần bật: “Trời ơi, bà Mận... mày chết rồi Tí ơi... bà ta dữ lắm…”
Bà Mận đứng bên kia tường, chống nạnh, miệng liên hồi chửi đổng những lời lẽ thô lỗ, khó nghe vô cùng. Chưa dừng lại ở đó, bà ta hừng hực khí thế đi thẳng ra cổng chính, đi vòng qua cửa trước nhà thầy Hiếu rồi xông thẳng vào sân.
Trong nhà, thầy Hiếu đang dọn dẹp sách tập thì nghe tiếng la lối om sòm ngoài sân. Thầy vội bước ra xem có chuyện gì thì vừa vặn nhìn thấy bà Mận đang túm lấy áo thằng Tí. Không đợi ai kịp giải thích, bà ta giơ tay vả liên tiếp mấy vả vào mặt đứa nhỏ.
“Cho mày chừa cái thói mất dạy! Nhà tao mà mày dám làm bẩn à? Đồ con hoang, không có người dạy!”
Thằng Tí đau điếng, òa khóc nức nở. Thầy Hiếu hốt hoảng lao ra can ngăn: “Chị ơi! Chị bớt giận, có gì từ từ nói. Đứa nhỏ lỡ tay thôi mà chị…”
Bà Mận quay sang trừng mắt nhìn Hiếu, cái miệng đỏ lòm vì nước trầu càng làm khuôn mặt bà ta thêm phần hung tợn. Bà xỉa xói vào mặt Hiếu: “Chị em gì với ngữ chú? Dạy học cho lắm vào rồi để chúng nó sang quấy nhiễu nhà tôi thế này à? Đúng là thứ thầy đồ nghèo hèn, dạy chẳng ra hồn người nên học trò mới vô giáo dục như vậy!”
Hiếu định lên tiếng phân trần thêm, nhưng đúng lúc ấy, ngoài cổng vang lên tiếng gọi lao xao. Vài người cha, người mẹ trong làng vừa đi làm về tiện đường ghé qua đón con. Thấy người lớn xuất hiện, đám trẻ đang sợ hãi bỗng ùa chạy ra ngoài cổng như đàn ong vỡ tổ. Thằng Tí thừa cơ bà Mận sơ hở, gạt mạnh tay bà ta ra rồi cắm đầu chạy biến ra với ba nó.
Bà Mận thấy đứa nhỏ chạy thoát thì tức tối vung tay, giọng chửi choe choét đuổi theo: “Thằng oắt con kia! Mày chạy đi đâu? Mày có chạy đằng trời cũng không thoát được tay tao đâu! Quân trộm cắp, quân phá hoại.”
Đến khi nhìn rõ người đàn ông đang ôm lấy thằng Tí ở cổng, đôi mắt bà ta nheo lại đầy khinh khỉnh: “À, ra là thằng Mẹo! Phu khuân vác của tiệm vải nhà tao đây mà. Thằng con mày giỏi thật đấy, dám làm dơ bẩn sân nhà tao. Được rồi, lỗi tại cha không biết dạy con, tao trừ mày một tuần lương!”
Anh Mẹo nghe thế thì mặt cắt không còn giọt máu. Một tuần lương đối với dân lao động nghèo là cả gia tài, là cơm gạo của cả nhà. Anh hốt hoảng buông con ra, quỳ thụp xuống sân gạch trước mặt bà Mận, giọng run rẩy: “Lạy bà... xin bà thương tình cho cha con con. Thằng nhỏ dại dột, bà đừng trừ lương tội nghiệp nhà con. Tí! Quỳ xuống xin lỗi bà ngay con!”
Thằng Tí vừa khóc vừa quỳ rạp xuống cạnh cha. Nhìn cảnh cha con anh khuân vác quỳ mọp dưới chân, bà Mận dường như đã hả dạ. Bà nhếch mép một cái rồi không thèm nói thêm lời nào, xoay người đi thẳng về phía cổng nhà mình.
Trước khi đi, bà ta còn đứng lại trước mặt Hiếu, hất hàm chỉ tay vào cây khế: “Tiện đây tôi bảo chú, chú coi làm sao chặt quách cái cây khế này đi cho rảnh nợ. Cứ tới mùa là lá rụng đầy sân, khế chín bay sang nhà tôi thối um lên, tôi lại phải tốn tiền thuê người dọn dẹp. Phiền phức không chịu nổi!”
Hiếu nhìn cây khế già, khẽ nói theo giọng đầy ưu tư: “Nhưng thưa chị, cây khế này có từ thời ba mẹ để lại, nó là kỷ niệm duy nhất còn sót lại của nhà ta…”
Bà Mận chẳng buồn nghe hết câu, bà ta hứ một tiếng rồi đi thẳng vào dinh cơ mái ngói, đóng sầm cửa lại. Những người quanh đó thấy cảnh tượng vừa rồi thì chỉ biết lắc đầu, thì thầm nhỏ to với nhau: “Anh em ruột thịt cùng một dòng máu mà sao người ta ác với nhau quá... Người giàu thì hống hách, người nghèo thì cứ khổ mãi thôi.”
—
Đêm đến, trái ngược với căn chòi lá hiu quạnh của Hiếu, dinh cơ của ông Tham rực rỡ ánh đèn lồng, mùi trầm hương thoang thoảng quyện cùng mùi thức ăn béo ngậy tỏa ra từ gian nhà ăn rộng thênh thang.
Bà Mận ngồi trên chiếc ghế bành gỗ trắc chạm trổ cầu kỳ, trước mặt là mâm cơm thịnh soạn. Bà ta vừa nhai trầu nhóp nhép, vừa thong thả gắp một miếng đùi gà, gương mặt vẫn chưa nguôi cái vẻ hậm hực lúc ban chiều.
Tiếng ngựa xe dừng trước cổng, rồi tiếng bước chân nện sàn gỗ vang lên vững chãi. Chồng bà Mận bước vào, người sực nức mùi vải lụa mới và cả cái vẻ hách dịch của kẻ vừa chốt được mớ hời ngoài thương cảng. Thấy chồng, bà Mận liền đặt mạnh đôi đũa xuống mâm, giọng lanh lảnh: “Kìa ông Tham! Vào đây tôi bảo cái này đã, đi đâu mà giờ mới vác mặt về?”
Ông Tham thong thả cởi chiếc áo choàng lụa giao cho con ở, mệt mỏi ngồi xuống phía đối diện, đưa tay vuốt chòm râu: “Chuyện gì mà bà cứ sồn sồn lên thế nhỉ? Tôi vừa lo chuyện xong lô hàng lụa cho bên phủ làng bên đây.”
Bà Mận bĩu môi, xỉa xói cái tay về phía bức tường ngăn cách với nhà em chồng: “Lụa là gì tầm này! Tôi bảo ông này, ông coi lại bên nhà chú Hiếu đi chứ lị. Cái giống cây khế gì mà to dữ thần, tán che hết cả nắng sân gạch nhà mình. Đã thế tới mùa là lá rụng, rồi khế chín khế thối cứ thế mà bay qua đây. Tôi vừa mới bảo con Thắm quét dọn sạch sẽ, mà loáng cái đã bẩn không chịu nổi. Ông xem chặt phứt nó đi cho rảnh nợ, để làm gì cái giống cây ám quẻ ấy!”
Ông Tham nghe đến hai chữ "chặt cây", đôi mày rậm khẽ nhướng lên. Ông lườm vợ một cái sắc lẹm, giọng trầm xuống: “Bà nói cái gì mà lạ thế? Chặt là chặt thế nào? Cái cây ấy từ thời ông nội tôi trồng, đến đời thầy tôi nó đã thành cổ thụ. Muốn chặt là chặt được ngay chắc? Bà không sợ động chạm, dông cả năm à?”
Bà Mận hứ một tiếng rõ dài, tay mân mê chiếc vòng vàng to bản trên cổ tay, giọng càng thêm phần đanh đá: “Tổ tiên nào mà lại đi làm khổ con cháu thế này không biết! Ông xem, từ lúc bu mất, cái dinh cơ này, cái xưởng tơ lụa này đều một tay ông gây dựng cả. Vợ chồng mình chừa cho chú ấy cái mảnh đất bé tẹo với cây khế già đó, tôi cũng đã gật đầu cho êm chuyện rồi. Thế mà giờ chú ấy còn bày đặt mở lớp dạy học, đám con nít nghèo khổ trong làng cứ kéo đến ê a suốt ngày, nhức cả óc. Tôi là tôi chẳng thể nào chợp mắt nổi buổi trưa với cái lũ mục đồng ấy.”
Bà ta xích lại gần, hạ thấp giọng nhưng đầy vẻ hiểm độc: “Hay là nhà mình tính thế nào, đuổi phắt vợ chồng chú ấy đi chỗ khác mà ở. Lấy lại nốt cái mảnh đất ấy, phá bỏ cái lều tranh ấy đi cho cái cơ ngơi nhà mình nó thêm bề thế. Chứ để cái nhà lá tiêu điều đó nằm sát vách dinh cơ mái ngói, thiên hạ người ta nhìn vào lại bảo "vàng thau lẫn lộn", bẩn cả mắt ông ạ!”
Ông Tham đập mạnh tay xuống bàn, khiến chén rượu sóng ra cả ngoài. Ông gằn giọng, vẻ mặt giận dữ: “Bà thôi ngay cái giọng ấy đi! Bà có biết là đi làm ăn, cái "danh" nó đôi khi còn đắt hơn cả vàng không? Cái làng Vọng Khê này ai mà chẳng biết tôi là kẻ có máu mặt, nhưng khách khứa, đối tác họ nhìn vào cái cách tôi đối đãi với người nhà mà đánh giá cả đấy. Đuổi em ruột ra khỏi cái mảnh đất cắm dùi, mang tiếng tàn ác, bất nhân thì ai người ta còn dám tin tưởng mà bắt tay làm ăn với mình nữa? Lòng người hiểm ác, một đồn mười, mười đồn trăm, cái danh thương gia đức độ tôi dày công gây dựng bao năm không thể bị phá hỏng trong chốc lát được!”
Ông dừng lại một chút, nhấp một ngụm rượu rồi hạ giọng, ánh mắt lóe lên sự toan tính: “Với cả, bà quên rồi sao? Tôi đã trót rêu rao với mấy ông khách buôn trên phố rằng chú Hiếu nhà này tính nết hiền lành, vốn ưa lối sống giản dị, lại cứ nhất quyết đòi ở sát vách để sớm hôm sang hầu trà, kề cận anh chị cho tình cảm thêm bền chặt. Tôi mới "rộng lòng" cho chú ấy cái mảnh đất ấy đấy chứ lị. Giờ bà bảo đuổi là đuổi thế nào? Chẳng hóa ra tôi tự vả vào mặt mình, tự nhận mình là kẻ nói dối trước mặt thiên hạ à? Cứ để chú ấy ở đấy, vừa chứng minh cái lòng "nhân từ" tôi dành cho đứa em thầy đồ. Còn cái cây khế... lá rụng thì bà bảo đứa ở ra mà quét, việc gì mà phải sồn sồn lên cho nó mất cái tư cách bà chủ ra!”
Bà Mận thấy chồng nổi nóng thì hơi chột dạ, nhưng vẫn lầm bầm trong miệng: “Ông cứ sĩ diện hão... Để rồi xem, cái lũ học trò nhà nghèo ấy sớm muộn cũng làm loạn cái nhà này cho mà xem. Chiều nay tôi đã phải cho thằng con thằng Mẹo mấy vả vì cái tội quăng cùi khế qua đây rồi đấy!”
Ông Tham không nói gì thêm, ông nhấc chén rượu lên uống cạn một hơi, mắt nhìn chằm chằm vào bóng tối ngoài cửa sổ. Trong thâm tâm, ông vẫn luôn coi Hiếu như một cái gai nhỏ dưới chân, không đau nhưng luôn làm ông thấy ngứa mắt. Nhưng với ông, cái danh tiếng "nhân nghĩa" và sự sĩ diện với đối tác kinh doanh lại quý giá hơn nhiều.
—
Đêm càng về khuya, làng Vọng Khê càng chìm sâu vào cái tĩnh lặng đáng sợ của vùng cửa biển. Mây đen từ đâu kéo tới, che lấp cả ánh trăng tròn, chỉ để lại những tia sáng mờ đục, bệ rạc.
Bên trong buồng ngủ của dinh cơ mái ngói, đôi vợ chồng ông Tham đang say giấc trên chiếc giường xà cừ đắt đỏ. Bỗng dưng, một luồng gió chướng từ phía biển thổi thốc vào đất liền, rít qua những kẽ lá phi lao rồi đập thẳng vào cửa sổ nhà ông Tham. Tiếng gỗ va đập "cầm cập, cầm cập" như có bàn tay ai đó đang cố cào cấu vào lớp cửa gỗ lim.
Bà Mận giật mình tỉnh giấc. Bà ta lầm bầm chửi đổng, tay quờ quạng vớ lấy chiếc gối mây: “Cái ngữ thời tiết quái thai gì không biết, làm người ta chẳng ngủ nổi!”
Bà ta ngồi dậy, toan bước xuống định đóng chặt cánh cửa sổ đang rung bần bật. Nhưng ngay khi vừa ngước mắt lên, bà ta khựng lại, hơi thở nghẹn nửa chừng nơi cổ họng. Ánh trăng xanh xao lúc này bất chợt xuyên qua kẽ mây, chiếu rọi lên khung cửa sổ mở hé.
Bóng cây khế từ nhà Hiếu đổ dài xuống sân, in hằn lên cánh cửa gỗ nhà ông Tham. Trong đêm tối, những tán lá rậm rạp mà chiều nay bà ta đòi chặt bỏ bỗng biến hình thành những cánh tay gầy guộc, vặn vẹo với hàng nghìn móng vuốt đang quờ quạng trong gió.
“Cái giống cây quái quỷ..”. Bà ta rủa thầm, định thần lại để bước tới khép chặt cánh cửa sổ, chặn đứng luồng gió đang lùa vào buồng.
Bà ta lầm lũi quay lại giường, rón rén nằm xuống bên cạnh chồng, cố xua đi những hình ảnh quái dị vừa hiện lên trong đầu. Bà ráng nhắm mắt, kéo tấm chăn nhung lên sát cổ, tự nhủ rằng đó chỉ là do mình mệt mỏi mà sinh ra ảo giác. Nhưng vừa khi hơi thở bắt đầu đều lại, định buông mình vào giấc ngủ, một cơn gió mạnh bất ngờ từ đâu ập đến, quật mạnh vào mái hiên.
Cành khế cổ thụ bên kia tường bỗng oằn xuống, phát ra tiếng kêu "răng rắc" khô khốc như xương bị bẻ gãy. Sức gió quá lớn khiến cánh cửa sổ vốn đã được khép lại bỗng "rầm" một tiếng, bật tung ra ngoài, đập mạnh vào vách tường.
Bà Mận giật mình tỉnh dậy, nhìn ra ngoài thì thấy cánh cửa đã mở toang. Qua làn sương mù và ánh trăng, cảnh vật bên ngoài hiện lên mờ ảo. Một bóng đen khổng lồ từ trên cao hạ xuống, che khuất hoàn toàn ánh sáng trăng leo lắt. Đôi cánh của nó dang rộng đến mức bao trùm cả một góc sân, lông vũ đen mượt như nhung nhưng lại tỏa ra một thứ ánh sáng ma mị dưới bóng đêm.
Bà ta hoảng loạn lay mạnh vai chồng: “Ông nó ơi! Ông dậy mà xem... dậy mau! Có cái gì... có cái gì kinh khiếp lắm trên cây khế!"
Ông Tham bị gọi giật giọng, lờ đờ mở mắt định gắt gỏng, nhưng nhìn thấy gương mặt tái mét, không còn một giọt máu của vợ, ông cũng lạnh gáy. Ông lồm cồm bò dậy, nhìn ra phía cửa sổ cùng bà Mận.
Hai vợ chồng run bần bật, bốn mắt nhìn chằm chặp qua khung cửa đang mở toang. Trên cành khế to nhất, một con chim khổng lồ đang đậu ở đó. Thân hình nó to ngang một con bò mộng, đôi mắt tròn xoe, lấp lánh như hai viên ngọc quý nhưng lại mang cái nhìn lạnh lẽo qua lớp sương đêm. Nó thong thả dùng cái mỏ sắc lẹm mổ vào một quả khế chín vàng.
“Cái... cái giống gì kia?”. Ông Tham lắp bắp, hàm răng va vào nhau lập cập. “Chim... chim hay là ma quỷ hiện hình hả bà?”
“Tôi... tôi làm sao biết được! Ông nhìn kìa, nó ăn khế nhà thằng Hiếu...!”
Bà Mận hoảng sợ tột độ, vội vàng vớ lấy cái chăn bông trùm kín mít lên đầu, không dám nhìn thêm một giây nào nữa. Bà vừa run rẩy vừa thúc mạnh khuỷu tay vào người chồng, giọng nghẹn lại vì sợ: “Ông ơi... đóng cửa lại đi! Ông ra đóng ngay cái cửa sổ lại cho tôi nhờ... ghê quá, tôi không chịu nổi nữa đâu!”
Ông Tham nghe vợ nói mà mặt cũng xanh lét, ông nép sát vào góc giường, đùn đẩy ngược lại: “Bà nói hay nhỉ! Tôi cũng có… có phải gan sắt dạ đồng đâu mà dám ra đấy? Bà gần cửa hơn mà…!”
“Ông là đàn ông cơ mà, ông phải bảo vệ tôi chứ! Ra đóng ngay không nó bay vào nhà bây giờ!”
“Mặc xác bà! Nó mà mổ cho một cái thì mất mạng như chơi à? Bà muốn chết thì tự đi mà đóng!”
Cả hai cứ thế túm chặt lấy mép chăn, đùn đẩy, qua lại một hồi lâu dưới lớp vải dày. Trong lúc họ đang mải mê tranh cãi trong sợ hãi, tiếng vỗ cánh phạch phạch bỗng nhiên im bặt.
Không khí bỗng chốc trở nên đặc quánh. Giữa tiếng gió biển rít gào, hình như có tiếng người nói vọng lại... Nhưng vì tiếng gió quá lớn, cộng thêm lớp chăn bông dày sụ đang trùm kín tai, hai vợ chồng ông Tham chẳng thể nào nghe rõ con quái điểu ấy hay ai đó vừa nói ra điều gì.
Cho đến khi mọi thứ hoàn toàn chìm vào sự im lặng, không còn tiếng gió, không còn tiếng cành cây răng rắc, ông Tham mới đánh bạo hé mở một góc chăn. Bà Mận cũng run rẩy nhìn theo.
Cánh cửa sổ vẫn mở toang, nhưng bên ngoài sương mù đã tản đi quá nửa. Cây khế già vẫn đứng đó lặng lẽ dưới ánh trăng, con chim khổng lồ đã biến mất như một bóng ma, như thể nó chưa từng tồn tại.
—
Sáng hôm sau, làng Vọng Khê bừng tỉnh trong cái nắng hanh hao của vùng cửa biển. Ông Tham đã rời nhà từ sớm tinh sương trên xe ngựa để kịp buổi giao hàng tại xưởng vải. Dinh cơ mái ngói giờ chỉ còn lại bà Mận cùng đám người làm. Bà ta ngồi thơ thẩn bên hiên nhà, miệng nhai trầu nhóp nhép nhưng ánh mắt cứ dán chặt vào cây khế cổ thụ phía bên kia bờ tường thấp. Sự kinh hoàng đêm qua vẫn còn lảng vảng trong tâm trí khiến bà ta chốc chốc lại rùng mình, miếng trầu trong miệng cũng chẳng còn thấy vị thơm cay.
Nghe tiếng "sột soạt" của chổi tre quét trên nền đất, bà Mận tò mò đứng dậy, lững thững đi về phía bờ tường ngăn cách giữa hai nhà. Bên kia sân, thầy Hiếu đang thong thả quét những chiếc lá khế rụng tan tác sau trận gió lớn đêm qua.
Bà Mận chống tay lên bờ tường gạch, hắng giọng hỏi: “Chú Hiếu đấy à? Thế tối qua chú thím ngủ có nghe thấy cái gì lạ lùng không?”
Hiếu dừng tay chổi, ngẩng đầu lên, gương mặt vẫn giữ vẻ thư sinh điềm tĩnh vốn có. Thầy khẽ mỉm cười, lễ phép thưa: “Dạ, thưa chị. Đêm qua gió biển thổi mạnh quá, rít gào suốt cả mấy canh giờ. Nhà em mái lá đơn sơ, gió đánh suýt nữa thì bay cả nóc, vợ chồng em cứ phải thức canh chừng mãi, chẳng nghe thấy gì khác ngoài tiếng gió chị ạ. Mà có chuyện gì sao chị?”
Bà Mận nheo mắt, nhìn kỹ nét mặt của Hiếu nhưng chẳng tìm thấy chút gì bất thường. Bà ta lẩm bẩm trong miệng về sự hèn nhát của chồng mình đêm qua, rồi lại đưa mắt nhìn quanh sân nhà em chồng. Ánh mắt bà ta chợt khựng lại khi thấy nàng Sen đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu dưới gốc khế. Nàng đang cặm cụi, tỉ mỉ khâu vá một cái túi vải khá lớn, đường kim mũi chỉ vô cùng cẩn thận.
Bà Mận chau mày, cất giọng hỏi với vẻ tò mò pha chút mỉa mai: “Thím Sen đấy à? Đang may vá cái gì mà to thế kia? Từ dạo chú thím về đây, tôi có thấy thím ấy đụng tay vào kim chỉ bao giờ đâu nhỉ?”
Nàng Sen nghe thấy tiếng người gọi thì giật mình, đôi vai khẽ run lên. Nàng không ngước mắt nhìn, chỉ càng cúi thấp đầu hơn, đôi tay run rẩy tiếp tục công việc. Hiếu thấy vậy liền buông chổi, bước lại gần vợ rồi thong thả đỡ lời: “Dạ, chẳng là mấy hôm tới em định đi tỉnh một chuyến để tìm mua thêm ít sách quý và giấy về dạy học. Đường sá xa xôi, lại phải ngủ lại dọc đường nên vợ em mới tranh thủ may cho cái túi để đựng đồ đạc và ít lương khô mang theo cho tiện đấy mà chị.”
Bà Mận nghe xong thì hừ một cái rõ dài, vẻ mặt đầy khinh khỉnh. Bà ta chẳng buồn hỏi thêm, quay ngoắt người đi vào nhà, đôi guốc mộc gõ lạch cạch trên sân gạch bát tràng. Vừa đi, bà ta vừa lẩm bẩm với giọng đầy ác ý: “Đúng là cái đồ dở hơi! Chẳng biết kiếp trước làm gì nên tội mà kiếp này chú ấy lại đi rước cái con câm về làm vợ. May túi với chả may bao, chỉ tổ làm bẩn mắt!”
Bà Mận không hề hay biết rằng, ngay khi bóng dáng bà ta khuất sau cánh cửa kính sang trọng, nụ cười hiền hậu trên môi thầy Hiếu bỗng chốc tan biến. Anh nhìn xuống chiếc túi vải trong tay nàng Sen, một cái túi có kích thước kỳ lạ, to hơn hẳn những chiếc túi đựng sách thông thường. Ánh mắt Hiếu lại lướt qua cây khế già, nơi những quả khế chín vàng vẫn còn đung đưa như đang chờ đợi một cuộc hẹn ước nào đó.
—
Đêm ấy, ông Tham không về. Ông lấy cớ có lô hàng tơ lụa quan trọng cập bến muộn để ngủ lại luôn ngoài xưởng vải, nhưng thực chất là để né tránh cái không khí rùng rợn đang bao trùm lên ngôi nhà sát vách cây khế già. Dinh cơ mái ngói rộng thênh thang giờ chỉ còn lại một mình bà Mận giữa những ánh đèn dầu leo lắt.
Bà Mận sợ đến phát hoảng. Mỗi tiếng gió lùa qua kẽ cửa, mỗi tiếng kẽo kẹt của đồ gỗ trong đêm đều làm bà ta nhảy dựng lên. Không chịu nổi sự cô quạnh, bà gọi giật giọng con Thắm, đứa người làm nhỏ tuổi nhất trong nhà lên buồng ngủ chung với mình.
Con Thắm mặt cắt không còn giọt máu, đứng nép ngoài cửa buồng, giọng run rẩy: “Lạy bà... con... con phận tôi tớ, làm sao dám nằm chung giường với bà ạ? Ông nhà về biết được thì chết con mất..."
Bà Mận trừng mắt, tay nắm chặt mép chăn, vừa nài nỉ vừa đe dọa: “Ông mày đêm nay không về! Tao bảo mày lên là mày phải lên! Liệu hồn đấy, không lên thì sáng mai tao bảo ông đuổi phắt mày ra khỏi nhà, cho mày đi ăn mày nghe chưa?”
Cực chẳng đã, con Thắm đành ôm chiếc chiếu cói len lén trải xuống sàn gạch cạnh giường bà Mận.
Đêm ấy, bà Mận vẫn chẳng thể nào chợp mắt. Phần vì nỗi sợ quái điểu đêm qua cứ lởn vởn, phần vì con Thắm sau cả ngày làm lụng vất vả, vừa nằm xuống là đã ngáy như kéo gỗ, tiếng ngáy vang dội khắp căn buồng yên tĩnh làm bà ta càng thêm nhức óc.
Bà Mận bực dọc trở mình, liếc xéo cái bóng con nhỏ đang nằm dưới sàn, rủa thầm trong bụng: "Đúng là cái đồ ăn hại, chỉ được cái ngủ như lợn là giỏi. Bảo lên thức canh cho tao, thế mà nó nằm xuống là ngáy như sấm, chẳng biết ai hầu ai nữa. Cha bố nhà nó, mai tao mà không đuổi thì tao không phải bà Mận!"
Trời về khuya, không khí đột ngột lạnh buốt. Bà Mận đang lúc thiu thiu ngủ thì bỗng nghe thấy tiếng gió biển bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội.
Phạch... phạch... phạch...
Âm thanh ấy lại đến. Nó nặng nề và mãnh liệt hơn cả đêm trước. Bà Mận bủn rủn chân tay, vội vàng kéo chăn trùm kín mặt, miệng lâm râm khấn vái đủ mọi phương trời. Bà ta cảm thấy như cả căn buồng đang rung chuyển dưới sức nặng của một thứ gì đó vô cùng to lớn đang đáp xuống ngay sát vách tường.
Bỗng nhiên, một tiếng thét thất thanh vang lên xé toạc màn đêm: “Bà ơi! Bà ơi cứu con với! Cái gì kia... Bà nhìn kìa!"
Con Thắm lay mạnh vai bà Mận, tay nó chỉ trỏ về phía cửa sổ. Bà Mận hé mở một góc chăn, hàm răng va vào nhau lập cập. Cánh cửa sổ ban sáng bà đã bảo người gia cố lại chắc chắn, vậy mà giờ đây dưới sức gió, nó lại đang rung bần bật như sắp rời ra khỏi bản lề.
Qua lớp sương đêm mờ ảo bên ngoài, bà Mận thấy bóng con chim khổng lồ đang từ từ vỗ cánh bay vút lên từ tán cây khế già. Nhưng lần này, một cảnh tượng khác hiện ra ngay trước mắt bà, trên cái lưng rộng thênh thang của con quái điểu, dường như có một dáng người đang ngồi trên đó.
Dưới ánh trăng mờ mờ, con chim đập cánh một nhịp mạnh, mang theo bóng người ấy tan biến vào không trung, hướng thẳng về phía biển đông bát ngát.
Bà Mận nhìn thấy cảnh ấy thì rụng rời chân tay, miệng há hốc nhưng chẳng thốt ra được lời nào. Con Thắm thì quỳ sụp xuống sàn, vừa khóc vừa lạy như tế sao.
Mọi thứ bỗng chốc im bặt. Ánh trăng lại rọi xuống sân gạch nhà bà như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Bà Mận và con Thắm run rẩy bước tới, nhìn ra ngoài cửa sổ thì chỉ còn thấy tán cây khế già đứng im lìm trong bóng tối.
Bà Mận quay sang, nắm lấy vai con nhỏ hầu gái, giọng run bần bật không giấu được sự hãi hùng: “Mày... mày có thấy con chim đó không?”
Con Thắm mặt xám ngoét như người chết trôi, lí nhí đáp: “Dạ... dạ... con thấy ạ..."
Bà Mận lại dán mắt vào khoảng không vô định ngoài kia, lắp bắp hỏi tiếp: "Thế mày... mày có nhìn thấy cái bóng trên lưng nó không? Hình như trên đó, có người ngồi...”
Con Thắm run bần bật, đầu cúi gằm xuống, giọng khóc mếu: “Dạ bẩm bà... lúc đó con không biết, con sợ quá nên nhắm tịt mắt lại... con chẳng nhìn rõ được nữa ạ..."
Bà Mận ngồi thẫn thờ trên giường, hơi lạnh đêm sâu dường như đang thẩm thấu vào tận xương tủy. Bà không biết liệu mình vừa nhìn thấy thần tiên giáng thế hay là một điềm báo tai ương cho cái gia đình này.
—
Sáng sớm hôm sau, bà Mận đã hớt hải chạy thẳng ra xưởng vải. Gương mặt bà ta phờ phạc, đôi mắt quầng thâm vì mất ngủ, bước chân líu ríu như người mất hồn.
Giữa xưởng vải sầm uất, tiếng thoi đưa lạch cạch và tiếng mặc cả của khách buôn vang lên huyên náo. Ông Tham đang đứng giữa đám thợ, tay vân vê xấp lụa mới, mặt mày rạng rỡ vì chốt được món hời. Thấy vợ cứ lù lù xuất hiện với vẻ mặt ma dại, ông Tham khó chịu ra mặt. Ông đuổi bà về mấy bận, giọng gắt gỏng: “Bà nó hay nhỉ! Nhà cửa bao việc không lo, cứ ra đây ám lấy tôi làm gì? Kẻo khách khứa người ta nhìn vào, người ta cười cho vào mặt tôi bây giờ!”
Bà Mận không màng đến sĩ diện của chồng, bà nắm chặt lấy tay áo ông, giọng run rẩy: “Tôi nói thật mà ông nó ơi... Đêm qua không chỉ có mình tôi, cả con Thắm cũng thấy. Con chim ấy nó to như cái đình, mà trên lưng nó... trên lưng nó có người!”
Ông Tham bật cười khan một tiếng, vội vàng xua tay để đám thợ và khách hàng xung quanh không nghe rõ. Ông hạ giọng nhưng đanh thép: “Bà rõ là lắm chuyện! Chắc là ngủ mớ, nằm mơ thấy thần thấy thánh rồi quáng gà thôi. Làm gì có cái giống chim nào to khổng lồ mà lại còn chở được người bay lên trời? Mà có chở thì chở ai?”
Bà Mận mím môi, đôi mắt vẫn chưa hết bàng hoàng, bà nói nhỏ vào tai chồng: “Dáng người đó... tôi thấy quen lắm ông ạ. Nhìn từ xa qua màn sương, tôi cứ thấy hình như... hình như là chú Hiếu nhà mình…”
Vừa nghe đến tên Hiếu, ông Tham bỗng cười ngất, nụ cười đầy vẻ chế giễu: “Đấy! Càng nói bà càng lú lẫn. Chú Hiếu nhà mình đang lo lên tỉnh mua sách, mua giấy bản về dạy học cho đám trẻ. Hôm qua chú ấy đã sang thưa chuyện, xin phép tôi hẳn hoi rồi. Chú ấy đi tỉnh thì làm sao mà cưỡi chim cưỡi cò gì được? Bà rõ là rỗi hơi quá hóa rồ rồi!”
Bà Mận bị chồng mắng nhiếc, đuổi khéo trước mặt bao nhiêu người thì vừa ức, vừa sợ. Bà lủi thủi đi về nhà, bụng bảo dạ chắc mình quáng gà thật. Nhưng cái nỗi sợ hãi đêm qua đã cắm rễ vào tâm trí, bà nhất quyết không dám lên lầu ngủ trong căn buồng sang trọng nữa. Tối đến, bà ôm gối xuống dãy nhà cho người làm, trải chiếu nằm chung với con Thắm trên cái sập gỗ chật chội.
Ông Tham sau khi lo xong việc ở xưởng, về đến nhà thấy vợ sợ sệt như vậy thì cũng có chút suy nghĩ. Nhưng rồi ông tự trấn an bản thân, cho rằng hôm ấy chắc cả ông và bà đều mệt mỏi, làm lụng vất vả nên nhìn gà hóa cuốc mà thôi. Ông vẫn thong thả nhâm nhi chén rượu nhài đêm khuya, gạt phăng mọi sự kỳ quái ra khỏi đầu.
Tuyệt nhiên, từ tối hôm đó, làng Vọng Khê lại yên bình đến lạ kỳ. Tiếng vỗ cánh phạch phạch không còn nghe thấy, bóng chim khổng lồ cũng chẳng thấy tăm hơi.
Vài ngày sau, thầy Hiếu trở về từ chuyến đi tỉnh. Nhưng điều làm cả làng Vọng Khê và đặc biệt là vợ chồng ông Tham ngạc nhiên nhất là ngay khi vừa về, thầy đã gọi thợ đến dỡ bỏ căn nhà lá tiêu điều. Thay vào đó, một căn nhà gạch nhỏ nhắn nhưng khang trang được dựng lên nhanh chóng, có cả một phòng dạy học rộng rãi, cửa gỗ đàng hoàng.
Bà Mận đứng bên kia bờ tường, nhìn thợ nề đang tất bật xây trát, không giấu nổi sự tò mò lẫn nghi hoặc. Bà ta cất giọng hỏi vọng qua: “Kìa chú Hiếu! Tôi hỏi thật chú, tiền đâu mà chú lại có để xây nhà xây cửa to đẹp thế này? Chẳng hóa ra bấy lâu nay chú giấu chúng tôi có của riêng à?”
Hiếu dừng tay đang sắp xếp mấy quyển sách mới, bước lại gần tường, mỉm cười lễ phép: “Dạ thưa chị, em làm gì có của riêng nào giấu chị đâu ạ. Chẳng qua là mấy năm nay em dạy học cũng có tích cóp được một chút đỉnh. Vừa rồi lên tỉnh, em lại tình cờ gặp một vị phú ông hào phóng. Ông ấy từng nhận một đứa con nuôi vốn là học trò cũ của em ở đây. Nể tình thầy cũ của con mình, lại thấy em muốn có chỗ dạy học đàng hoàng cho đám trẻ nghèo nên phú ông ấy mới rộng lòng cho em mượn thêm một ít để cất cái nhà này cho xong đấy chị ạ.”
Bà Mận nghe xong thì bĩu môi, hừ một cái rõ dài, trong lòng trào dâng một nỗi ghen tị cháy bỏng. Bà lủi thủi quay vào nhà, miệng lẩm bẩm đầy cay độc: “Gớm, cái ngữ ấy mà cũng có quý nhân phù trợ cơ đấy. Khéo lại làm chuyện khuất tất gì, hay lại nhặt được của rơi mà không trả. Để rồi xem, cái giống nhà lá đòi xây nhà gạch, mượn tiền với chả cho mượn, chỉ giỏi lòe thiên hạ chứ giàu sang gì cái giống ấy!”
Thế nhưng, điều làm bà Mận và cả làng Vọng Khê phải chấn động hơn cả chính là vài tuần sau đó, khi căn nhà gạch vừa xây xong xuôi. Người ta thấy vợ chồng thầy Hiếu, nàng Sen thuê hẳn mấy chuyến xe ngựa chở đầy thóc gạo, vải vóc và quần áo mới về. Không chỉ dừng lại ở đó, thầy Hiếu còn đích thân mang từng túi tiền, từng xấp vải đi phát cho những gia đình nghèo khổ nhất trong làng.
Cả một góc làng Vọng Khê bỗng chốc huyên náo như trẩy hội. Đám trẻ nghèo và những người lao động lam lũ vây quanh căn nhà nhỏ, ai nấy đều rưng rưng cảm động trước tấm lòng của thầy đồ trẻ. Bà Mận đứng bên hiên dinh cơ nhìn sang, mặt mày xám ngoét vì tiếc của và ghen tức.