Ăn Khế Trả Vàng

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Một lần lướt tiktok, thấy một clip hài khá vui, trong vai ông quan đang tra hỏi về việc "vàng có từ chim thần". Nên mình viết bộ này, theo thể loại trinh thám (lần đầu theo thể loại này)
Các tác phẩm cũ của mình
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Mợ Cả

List chương:
Chương 1 (1)
Chương 1 (2)
Chương 2 (1)
Chương 2 (2)
Chương 3 (1)
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9 (1)
Chương 9 (2)
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13 (1)
Chương 13 (2)
Chương 14 (1)
Chương 14 (2)
Chương 15 (1)
Chương 15 (2)
Chương 16 END (1)
Chương 16 END (2)

DONE bộ này
An Khe Tra Vang-0aaa1.webp
 
Sửa lần cuối:

CHƯƠNG 1 (1)​

Làng Vọng Khê, một ngôi làng nằm ngay trên trục đường thương mại huyết mạch nối liền các cửa biển lớn, nơi này là một mảnh ghép kỳ lạ của sự phồn hoa và bần hàn đan xen với nhau. Những xưởng tơ lụa tường cao cửa rộng, sực nức mùi thơm và tiền bạc của giới buôn tàu bè nằm san sát, chung vách với những mái tranh dột nát của dân chài nghèo khổ.

Giữa cái không gian bức bối và đầy rẫy sự phân tầng ấy, căn nhà lá nhỏ của thầy đồ Hiếu hiện lên như một sự kỳ quặc đến khó hiểu. Đó là một túp lều tranh thấp bé, xơ xác, nhưng lại sở hữu một cây khế cổ thụ to lớn khác thường. Tán cây xanh ngắt, che rợp cả một góc sân, cành lá trĩu nặng những chùm quả vàng mọng, mỡ màng. Điều trớ trêu nhất chính là ngay sát vách căn nhà lá tiêu điều này là một dinh cơ mái ngói rộng rãi, uy nghi với những hàng cột gỗ lim bóng loáng.

Phía trong căn nhà lá chật hẹp, một khoảng trống bên dưới mái tranh được Hiếu tận dụng làm nơi dạy chữ cho đám trẻ nghèo khó nhất trong làng. Thầy Hiếu chỉ mới ngoài đôi mươi, thầy ngồi trên một chiếc sập gỗ thấp, khoác lên mình chiếc áo dài nho sinh màu xanh nhạt tuy đã sờn ở gấu nhưng luôn được vuốt phẳng phiu. Gương mặt thầy thanh tú, mang vẻ thư sinh với đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ, khiến đám học trò nghèo vốn chịu nhiều thiệt thòi luôn cảm thấy được che chở và yêu quý thầy hết mực.

Thầy đang chậm rãi mài mực, từng vòng xoay của thỏi mực trên nghiên đá đều đặn, nhịp nhàng. Thầy khẽ gõ nhẹ cây thước tre xuống mặt bàn, nhìn xuống đám học trò mà nói: “Tí, con đứng dậy nào”.

Đứa nhỏ tên Tí, mặc chiếc áo cánh nâu bạc màu, vội vàng đứng bật dậy, gương mặt rạng rỡ, hai tay khoanh trước ngực lễ phép: “Dạ thưa thầy Hiếu, con đây ạ!”

“Con hãy đọc cho thầy và các bạn nghe đoạn nói về đạo hiếu với cha mẹ trong sách mình vừa học, rồi cắt nghĩa xem nào”.

Thằng bé hắng giọng, tự tin đọc bằng giọng lanh lảnh: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương. Dạ thưa thầy, nghĩa là: Khi cha mẹ còn sống, con cái không nên đi chơi xa, nếu có đi thì phải cho cha mẹ biết nơi mình đến để cha mẹ khỏi lo lắng ạ. Đạo làm con phải lấy sự an lòng của cha mẹ làm đầu ạ!”

Thầy Hiếu dừng tay mài mực, nở một nụ cười rạng rỡ. Thầy bước xuống khỏi sập gỗ, xoa đầu thằng Tí một cách âu yếm: “Giỏi lắm! Cha mẹ vất vả nuôi ta khôn lớn, lòng hiếu thảo chính là cái gốc rễ của đạo làm người. Chỉ cần các con luôn giữ được tấm lòng trong sáng và biết thương kính mẹ cha, thì sau này đi đâu, làm gì cũng sẽ được trời cao che chở.”

Đám trẻ đồng thanh "Dạ" một tiếng thật lớn, không khí lớp học bỗng chốc trở nên ấm áp và tràn đầy tiếng cười. Thầy Hiếu quay trở lại bàn, tay cầm bút lông nhúng vào nghiên mực đen lánh, vừa cười vừa nói với đám trẻ về những câu chuyện nhân nghĩa ở đời.

Từ phía sau gian bếp, một bóng người lầm lũi bước vào. Đó là nàng Sen, vợ thầy Hiếu. Nàng bưng một khay trà nhỏ đặt lên bàn cho chồng. Ánh mắt nàng khẽ lướt qua bức vẽ một loài chim khổng lồ đang dần hiện hình dưới nét bút của Hiếu, rồi lại nhìn sang nụ cười rạng rỡ của chồng mình với đám trẻ. Nàng im lặng mỉm cười, trong lòng tràn ngập hạnh phúc. Dẫu cuộc sống còn nhiều túng thiếu, nhưng nhìn thấy chồng được đám trẻ kính trọng và yêu mến như vậy, nàng cảm thấy lòng mình ấm áp lạ thường.

Buổi học kết thúc, đám học trò chưa vội về ngay. Mấy đứa nhỏ nhìn ra cây khế trĩu quả ngoài sân, đứa nào đứa nấy nuốt nước miếng ừng ực. Thằng Tí đại diện cả bọn, bẽn lẽn thưa: “Thầy ơi... khế chín vàng quá, thầy cho tụi con hái một ít ăn nha thầy?”

Thầy Hiếu ngẩng đầu lên, mỉm cười hiền hậu: “Được rồi, mấy đứa cứ ra hái mà ăn. Nhưng nhớ là chỉ lấy những quả ở thấp thôi, đừng có đứa nào leo trèo kẻo té ngã thì thầy không cho đi học nữa đâu đấy nha!”

“Dạ! Chúng con nhớ rồi ạ!”

Đám trẻ reo hò ầm ĩ rồi ùa ra vườn. Chúng nhanh nhảu tìm những cành tre, cành củi dài để khều những quả khế mọng vàng gần mặt đất nhất. Tiếng cười đùa vang lên rộn rã dưới tán lá xanh rì. Cả bọn vừa hái vừa ăn ngấu nghiến, vị chua ngọt thanh tao thấm vào đầu lưỡi làm đứa nào cũng khoái chí.

Trong lúc đang đùa nghịch, thằng Tí lỡ tay quăng mạnh cái cùi khế đã ăn hết về phía bức tường ngăn cách. Cái cùi khế bay vèo qua hàng rào, rơi trúng vào khoảng sân gạch bát tràng phẳng phiu của dinh cơ mái ngói rộng rãi ngay kế bên.

Tiếng cười bỗng khựng lại. Đám trẻ nín thở nhìn về phía bức tường cao vút. Từ bên kia sân, một người phụ nữ chậm rãi bước ra. Bà ta diện một bộ đồ lụa là đắt tiền, cổ đeo vòng vàng, môi đỏ thẫm vì nhai trầu liên tục. Nhìn thấy cái cùi khế nằm chình ình trên sân gạch sạch bóng, đôi mắt sắc sảo của bà ta lập tức hiện lên sự giận dữ.

“Đứa nào? Đứa mất dạy nào dám quăng rác sang nhà tao?”

Thằng Tí tái mét mặt mày, chân tay bủn rủn. Đám bạn đứng cạnh nó lấp bấp nói nhỏ, giọng run bần bật: “Trời ơi, bà Mận... mày chết rồi Tí ơi... bà ta dữ lắm…”

Bà Mận đứng bên kia tường, chống nạnh, miệng liên hồi chửi đổng những lời lẽ thô lỗ, khó nghe vô cùng. Chưa dừng lại ở đó, bà ta hừng hực khí thế đi thẳng ra cổng chính, đi vòng qua cửa trước nhà thầy Hiếu rồi xông thẳng vào sân.

Trong nhà, thầy Hiếu đang dọn dẹp sách tập thì nghe tiếng la lối om sòm ngoài sân. Thầy vội bước ra xem có chuyện gì thì vừa vặn nhìn thấy bà Mận đang túm lấy áo thằng Tí. Không đợi ai kịp giải thích, bà ta giơ tay vả liên tiếp mấy vả vào mặt đứa nhỏ.

“Cho mày chừa cái thói mất dạy! Nhà tao mà mày dám làm bẩn à? Đồ con hoang, không có người dạy!”

Thằng Tí đau điếng, òa khóc nức nở. Thầy Hiếu hốt hoảng lao ra can ngăn: “Chị ơi! Chị bớt giận, có gì từ từ nói. Đứa nhỏ lỡ tay thôi mà chị…”

Bà Mận quay sang trừng mắt nhìn Hiếu, cái miệng đỏ lòm vì nước trầu càng làm khuôn mặt bà ta thêm phần hung tợn. Bà xỉa xói vào mặt Hiếu: “Chị em gì với ngữ chú? Dạy học cho lắm vào rồi để chúng nó sang quấy nhiễu nhà tôi thế này à? Đúng là thứ thầy đồ nghèo hèn, dạy chẳng ra hồn người nên học trò mới vô giáo dục như vậy!”

Hiếu định lên tiếng phân trần thêm, nhưng đúng lúc ấy, ngoài cổng vang lên tiếng gọi lao xao. Vài người cha, người mẹ trong làng vừa đi làm về tiện đường ghé qua đón con. Thấy người lớn xuất hiện, đám trẻ đang sợ hãi bỗng ùa chạy ra ngoài cổng như đàn ong vỡ tổ. Thằng Tí thừa cơ bà Mận sơ hở, gạt mạnh tay bà ta ra rồi cắm đầu chạy biến ra với ba nó.

Bà Mận thấy đứa nhỏ chạy thoát thì tức tối vung tay, giọng chửi choe choét đuổi theo: “Thằng oắt con kia! Mày chạy đi đâu? Mày có chạy đằng trời cũng không thoát được tay tao đâu! Quân trộm cắp, quân phá hoại.”

Đến khi nhìn rõ người đàn ông đang ôm lấy thằng Tí ở cổng, đôi mắt bà ta nheo lại đầy khinh khỉnh: “À, ra là thằng Mẹo! Phu khuân vác của tiệm vải nhà tao đây mà. Thằng con mày giỏi thật đấy, dám làm dơ bẩn sân nhà tao. Được rồi, lỗi tại cha không biết dạy con, tao trừ mày một tuần lương!”

Anh Mẹo nghe thế thì mặt cắt không còn giọt máu. Một tuần lương đối với dân lao động nghèo là cả gia tài, là cơm gạo của cả nhà. Anh hốt hoảng buông con ra, quỳ thụp xuống sân gạch trước mặt bà Mận, giọng run rẩy: “Lạy bà... xin bà thương tình cho cha con con. Thằng nhỏ dại dột, bà đừng trừ lương tội nghiệp nhà con. Tí! Quỳ xuống xin lỗi bà ngay con!”

Thằng Tí vừa khóc vừa quỳ rạp xuống cạnh cha. Nhìn cảnh cha con anh khuân vác quỳ mọp dưới chân, bà Mận dường như đã hả dạ. Bà nhếch mép một cái rồi không thèm nói thêm lời nào, xoay người đi thẳng về phía cổng nhà mình.

Trước khi đi, bà ta còn đứng lại trước mặt Hiếu, hất hàm chỉ tay vào cây khế: “Tiện đây tôi bảo chú, chú coi làm sao chặt quách cái cây khế này đi cho rảnh nợ. Cứ tới mùa là lá rụng đầy sân, khế chín bay sang nhà tôi thối um lên, tôi lại phải tốn tiền thuê người dọn dẹp. Phiền phức không chịu nổi!”

Hiếu nhìn cây khế già, khẽ nói theo giọng đầy ưu tư: “Nhưng thưa chị, cây khế này có từ thời ba mẹ để lại, nó là kỷ niệm duy nhất còn sót lại của nhà ta…”

Bà Mận chẳng buồn nghe hết câu, bà ta hứ một tiếng rồi đi thẳng vào dinh cơ mái ngói, đóng sầm cửa lại. Những người quanh đó thấy cảnh tượng vừa rồi thì chỉ biết lắc đầu, thì thầm nhỏ to với nhau: “Anh em ruột thịt cùng một dòng máu mà sao người ta ác với nhau quá... Người giàu thì hống hách, người nghèo thì cứ khổ mãi thôi.”




Đêm đến, trái ngược với căn chòi lá hiu quạnh của Hiếu, dinh cơ của ông Tham rực rỡ ánh đèn lồng, mùi trầm hương thoang thoảng quyện cùng mùi thức ăn béo ngậy tỏa ra từ gian nhà ăn rộng thênh thang.

Bà Mận ngồi trên chiếc ghế bành gỗ trắc chạm trổ cầu kỳ, trước mặt là mâm cơm thịnh soạn. Bà ta vừa nhai trầu nhóp nhép, vừa thong thả gắp một miếng đùi gà, gương mặt vẫn chưa nguôi cái vẻ hậm hực lúc ban chiều.

Tiếng ngựa xe dừng trước cổng, rồi tiếng bước chân nện sàn gỗ vang lên vững chãi. Chồng bà Mận bước vào, người sực nức mùi vải lụa mới và cả cái vẻ hách dịch của kẻ vừa chốt được mớ hời ngoài thương cảng. Thấy chồng, bà Mận liền đặt mạnh đôi đũa xuống mâm, giọng lanh lảnh: “Kìa ông Tham! Vào đây tôi bảo cái này đã, đi đâu mà giờ mới vác mặt về?”

Ông Tham thong thả cởi chiếc áo choàng lụa giao cho con ở, mệt mỏi ngồi xuống phía đối diện, đưa tay vuốt chòm râu: “Chuyện gì mà bà cứ sồn sồn lên thế nhỉ? Tôi vừa lo chuyện xong lô hàng lụa cho bên phủ làng bên đây.”

Bà Mận bĩu môi, xỉa xói cái tay về phía bức tường ngăn cách với nhà em chồng: “Lụa là gì tầm này! Tôi bảo ông này, ông coi lại bên nhà chú Hiếu đi chứ lị. Cái giống cây khế gì mà to dữ thần, tán che hết cả nắng sân gạch nhà mình. Đã thế tới mùa là lá rụng, rồi khế chín khế thối cứ thế mà bay qua đây. Tôi vừa mới bảo con Thắm quét dọn sạch sẽ, mà loáng cái đã bẩn không chịu nổi. Ông xem chặt phứt nó đi cho rảnh nợ, để làm gì cái giống cây ám quẻ ấy!”

Ông Tham nghe đến hai chữ "chặt cây", đôi mày rậm khẽ nhướng lên. Ông lườm vợ một cái sắc lẹm, giọng trầm xuống: “Bà nói cái gì mà lạ thế? Chặt là chặt thế nào? Cái cây ấy từ thời ông nội tôi trồng, đến đời thầy tôi nó đã thành cổ thụ. Muốn chặt là chặt được ngay chắc? Bà không sợ động chạm, dông cả năm à?”

Bà Mận hứ một tiếng rõ dài, tay mân mê chiếc vòng vàng to bản trên cổ tay, giọng càng thêm phần đanh đá: “Tổ tiên nào mà lại đi làm khổ con cháu thế này không biết! Ông xem, từ lúc bu mất, cái dinh cơ này, cái xưởng tơ lụa này đều một tay ông gây dựng cả. Vợ chồng mình chừa cho chú ấy cái mảnh đất bé tẹo với cây khế già đó, tôi cũng đã gật đầu cho êm chuyện rồi. Thế mà giờ chú ấy còn bày đặt mở lớp dạy học, đám con nít nghèo khổ trong làng cứ kéo đến ê a suốt ngày, nhức cả óc. Tôi là tôi chẳng thể nào chợp mắt nổi buổi trưa với cái lũ mục đồng ấy.”

Bà ta xích lại gần, hạ thấp giọng nhưng đầy vẻ hiểm độc: “Hay là nhà mình tính thế nào, đuổi phắt vợ chồng chú ấy đi chỗ khác mà ở. Lấy lại nốt cái mảnh đất ấy, phá bỏ cái lều tranh ấy đi cho cái cơ ngơi nhà mình nó thêm bề thế. Chứ để cái nhà lá tiêu điều đó nằm sát vách dinh cơ mái ngói, thiên hạ người ta nhìn vào lại bảo "vàng thau lẫn lộn", bẩn cả mắt ông ạ!”

Ông Tham đập mạnh tay xuống bàn, khiến chén rượu sóng ra cả ngoài. Ông gằn giọng, vẻ mặt giận dữ: “Bà thôi ngay cái giọng ấy đi! Bà có biết là đi làm ăn, cái "danh" nó đôi khi còn đắt hơn cả vàng không? Cái làng Vọng Khê này ai mà chẳng biết tôi là kẻ có máu mặt, nhưng khách khứa, đối tác họ nhìn vào cái cách tôi đối đãi với người nhà mà đánh giá cả đấy. Đuổi em ruột ra khỏi cái mảnh đất cắm dùi, mang tiếng tàn ác, bất nhân thì ai người ta còn dám tin tưởng mà bắt tay làm ăn với mình nữa? Lòng người hiểm ác, một đồn mười, mười đồn trăm, cái danh thương gia đức độ tôi dày công gây dựng bao năm không thể bị phá hỏng trong chốc lát được!”

Ông dừng lại một chút, nhấp một ngụm rượu rồi hạ giọng, ánh mắt lóe lên sự toan tính: “Với cả, bà quên rồi sao? Tôi đã trót rêu rao với mấy ông khách buôn trên phố rằng chú Hiếu nhà này tính nết hiền lành, vốn ưa lối sống giản dị, lại cứ nhất quyết đòi ở sát vách để sớm hôm sang hầu trà, kề cận anh chị cho tình cảm thêm bền chặt. Tôi mới "rộng lòng" cho chú ấy cái mảnh đất ấy đấy chứ lị. Giờ bà bảo đuổi là đuổi thế nào? Chẳng hóa ra tôi tự vả vào mặt mình, tự nhận mình là kẻ nói dối trước mặt thiên hạ à? Cứ để chú ấy ở đấy, vừa chứng minh cái lòng "nhân từ" tôi dành cho đứa em thầy đồ. Còn cái cây khế... lá rụng thì bà bảo đứa ở ra mà quét, việc gì mà phải sồn sồn lên cho nó mất cái tư cách bà chủ ra!”

Bà Mận thấy chồng nổi nóng thì hơi chột dạ, nhưng vẫn lầm bầm trong miệng: “Ông cứ sĩ diện hão... Để rồi xem, cái lũ học trò nhà nghèo ấy sớm muộn cũng làm loạn cái nhà này cho mà xem. Chiều nay tôi đã phải cho thằng con thằng Mẹo mấy vả vì cái tội quăng cùi khế qua đây rồi đấy!”

Ông Tham không nói gì thêm, ông nhấc chén rượu lên uống cạn một hơi, mắt nhìn chằm chằm vào bóng tối ngoài cửa sổ. Trong thâm tâm, ông vẫn luôn coi Hiếu như một cái gai nhỏ dưới chân, không đau nhưng luôn làm ông thấy ngứa mắt. Nhưng với ông, cái danh tiếng "nhân nghĩa" và sự sĩ diện với đối tác kinh doanh lại quý giá hơn nhiều.



Đêm càng về khuya, làng Vọng Khê càng chìm sâu vào cái tĩnh lặng đáng sợ của vùng cửa biển. Mây đen từ đâu kéo tới, che lấp cả ánh trăng tròn, chỉ để lại những tia sáng mờ đục, bệ rạc.

Bên trong buồng ngủ của dinh cơ mái ngói, đôi vợ chồng ông Tham đang say giấc trên chiếc giường xà cừ đắt đỏ. Bỗng dưng, một luồng gió chướng từ phía biển thổi thốc vào đất liền, rít qua những kẽ lá phi lao rồi đập thẳng vào cửa sổ nhà ông Tham. Tiếng gỗ va đập "cầm cập, cầm cập" như có bàn tay ai đó đang cố cào cấu vào lớp cửa gỗ lim.

Bà Mận giật mình tỉnh giấc. Bà ta lầm bầm chửi đổng, tay quờ quạng vớ lấy chiếc gối mây: “Cái ngữ thời tiết quái thai gì không biết, làm người ta chẳng ngủ nổi!”

Bà ta ngồi dậy, toan bước xuống định đóng chặt cánh cửa sổ đang rung bần bật. Nhưng ngay khi vừa ngước mắt lên, bà ta khựng lại, hơi thở nghẹn nửa chừng nơi cổ họng. Ánh trăng xanh xao lúc này bất chợt xuyên qua kẽ mây, chiếu rọi lên khung cửa sổ mở hé.

Bóng cây khế từ nhà Hiếu đổ dài xuống sân, in hằn lên cánh cửa gỗ nhà ông Tham. Trong đêm tối, những tán lá rậm rạp mà chiều nay bà ta đòi chặt bỏ bỗng biến hình thành những cánh tay gầy guộc, vặn vẹo với hàng nghìn móng vuốt đang quờ quạng trong gió.

“Cái giống cây quái quỷ..”. Bà ta rủa thầm, định thần lại để bước tới khép chặt cánh cửa sổ, chặn đứng luồng gió đang lùa vào buồng.

Bà ta lầm lũi quay lại giường, rón rén nằm xuống bên cạnh chồng, cố xua đi những hình ảnh quái dị vừa hiện lên trong đầu. Bà ráng nhắm mắt, kéo tấm chăn nhung lên sát cổ, tự nhủ rằng đó chỉ là do mình mệt mỏi mà sinh ra ảo giác. Nhưng vừa khi hơi thở bắt đầu đều lại, định buông mình vào giấc ngủ, một cơn gió mạnh bất ngờ từ đâu ập đến, quật mạnh vào mái hiên.

Cành khế cổ thụ bên kia tường bỗng oằn xuống, phát ra tiếng kêu "răng rắc" khô khốc như xương bị bẻ gãy. Sức gió quá lớn khiến cánh cửa sổ vốn đã được khép lại bỗng "rầm" một tiếng, bật tung ra ngoài, đập mạnh vào vách tường.

Bà Mận giật mình tỉnh dậy, nhìn ra ngoài thì thấy cánh cửa đã mở toang. Qua làn sương mù và ánh trăng, cảnh vật bên ngoài hiện lên mờ ảo. Một bóng đen khổng lồ từ trên cao hạ xuống, che khuất hoàn toàn ánh sáng trăng leo lắt. Đôi cánh của nó dang rộng đến mức bao trùm cả một góc sân, lông vũ đen mượt như nhung nhưng lại tỏa ra một thứ ánh sáng ma mị dưới bóng đêm.

Bà ta hoảng loạn lay mạnh vai chồng: “Ông nó ơi! Ông dậy mà xem... dậy mau! Có cái gì... có cái gì kinh khiếp lắm trên cây khế!"

Ông Tham bị gọi giật giọng, lờ đờ mở mắt định gắt gỏng, nhưng nhìn thấy gương mặt tái mét, không còn một giọt máu của vợ, ông cũng lạnh gáy. Ông lồm cồm bò dậy, nhìn ra phía cửa sổ cùng bà Mận.

Hai vợ chồng run bần bật, bốn mắt nhìn chằm chặp qua khung cửa đang mở toang. Trên cành khế to nhất, một con chim khổng lồ đang đậu ở đó. Thân hình nó to ngang một con bò mộng, đôi mắt tròn xoe, lấp lánh như hai viên ngọc quý nhưng lại mang cái nhìn lạnh lẽo qua lớp sương đêm. Nó thong thả dùng cái mỏ sắc lẹm mổ vào một quả khế chín vàng.

“Cái... cái giống gì kia?”. Ông Tham lắp bắp, hàm răng va vào nhau lập cập. “Chim... chim hay là ma quỷ hiện hình hả bà?”

“Tôi... tôi làm sao biết được! Ông nhìn kìa, nó ăn khế nhà thằng Hiếu...!”

Bà Mận hoảng sợ tột độ, vội vàng vớ lấy cái chăn bông trùm kín mít lên đầu, không dám nhìn thêm một giây nào nữa. Bà vừa run rẩy vừa thúc mạnh khuỷu tay vào người chồng, giọng nghẹn lại vì sợ: “Ông ơi... đóng cửa lại đi! Ông ra đóng ngay cái cửa sổ lại cho tôi nhờ... ghê quá, tôi không chịu nổi nữa đâu!”

Ông Tham nghe vợ nói mà mặt cũng xanh lét, ông nép sát vào góc giường, đùn đẩy ngược lại: “Bà nói hay nhỉ! Tôi cũng có… có phải gan sắt dạ đồng đâu mà dám ra đấy? Bà gần cửa hơn mà…!”

“Ông là đàn ông cơ mà, ông phải bảo vệ tôi chứ! Ra đóng ngay không nó bay vào nhà bây giờ!”

“Mặc xác bà! Nó mà mổ cho một cái thì mất mạng như chơi à? Bà muốn chết thì tự đi mà đóng!”

Cả hai cứ thế túm chặt lấy mép chăn, đùn đẩy, qua lại một hồi lâu dưới lớp vải dày. Trong lúc họ đang mải mê tranh cãi trong sợ hãi, tiếng vỗ cánh phạch phạch bỗng nhiên im bặt.

Không khí bỗng chốc trở nên đặc quánh. Giữa tiếng gió biển rít gào, hình như có tiếng người nói vọng lại... Nhưng vì tiếng gió quá lớn, cộng thêm lớp chăn bông dày sụ đang trùm kín tai, hai vợ chồng ông Tham chẳng thể nào nghe rõ con quái điểu ấy hay ai đó vừa nói ra điều gì.

Cho đến khi mọi thứ hoàn toàn chìm vào sự im lặng, không còn tiếng gió, không còn tiếng cành cây răng rắc, ông Tham mới đánh bạo hé mở một góc chăn. Bà Mận cũng run rẩy nhìn theo.

Cánh cửa sổ vẫn mở toang, nhưng bên ngoài sương mù đã tản đi quá nửa. Cây khế già vẫn đứng đó lặng lẽ dưới ánh trăng, con chim khổng lồ đã biến mất như một bóng ma, như thể nó chưa từng tồn tại.



Sáng hôm sau, làng Vọng Khê bừng tỉnh trong cái nắng hanh hao của vùng cửa biển. Ông Tham đã rời nhà từ sớm tinh sương trên xe ngựa để kịp buổi giao hàng tại xưởng vải. Dinh cơ mái ngói giờ chỉ còn lại bà Mận cùng đám người làm. Bà ta ngồi thơ thẩn bên hiên nhà, miệng nhai trầu nhóp nhép nhưng ánh mắt cứ dán chặt vào cây khế cổ thụ phía bên kia bờ tường thấp. Sự kinh hoàng đêm qua vẫn còn lảng vảng trong tâm trí khiến bà ta chốc chốc lại rùng mình, miếng trầu trong miệng cũng chẳng còn thấy vị thơm cay.

Nghe tiếng "sột soạt" của chổi tre quét trên nền đất, bà Mận tò mò đứng dậy, lững thững đi về phía bờ tường ngăn cách giữa hai nhà. Bên kia sân, thầy Hiếu đang thong thả quét những chiếc lá khế rụng tan tác sau trận gió lớn đêm qua.

Bà Mận chống tay lên bờ tường gạch, hắng giọng hỏi: “Chú Hiếu đấy à? Thế tối qua chú thím ngủ có nghe thấy cái gì lạ lùng không?”

Hiếu dừng tay chổi, ngẩng đầu lên, gương mặt vẫn giữ vẻ thư sinh điềm tĩnh vốn có. Thầy khẽ mỉm cười, lễ phép thưa: “Dạ, thưa chị. Đêm qua gió biển thổi mạnh quá, rít gào suốt cả mấy canh giờ. Nhà em mái lá đơn sơ, gió đánh suýt nữa thì bay cả nóc, vợ chồng em cứ phải thức canh chừng mãi, chẳng nghe thấy gì khác ngoài tiếng gió chị ạ. Mà có chuyện gì sao chị?”

Bà Mận nheo mắt, nhìn kỹ nét mặt của Hiếu nhưng chẳng tìm thấy chút gì bất thường. Bà ta lẩm bẩm trong miệng về sự hèn nhát của chồng mình đêm qua, rồi lại đưa mắt nhìn quanh sân nhà em chồng. Ánh mắt bà ta chợt khựng lại khi thấy nàng Sen đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu dưới gốc khế. Nàng đang cặm cụi, tỉ mỉ khâu vá một cái túi vải khá lớn, đường kim mũi chỉ vô cùng cẩn thận.

Bà Mận chau mày, cất giọng hỏi với vẻ tò mò pha chút mỉa mai: “Thím Sen đấy à? Đang may vá cái gì mà to thế kia? Từ dạo chú thím về đây, tôi có thấy thím ấy đụng tay vào kim chỉ bao giờ đâu nhỉ?”

Nàng Sen nghe thấy tiếng người gọi thì giật mình, đôi vai khẽ run lên. Nàng không ngước mắt nhìn, chỉ càng cúi thấp đầu hơn, đôi tay run rẩy tiếp tục công việc. Hiếu thấy vậy liền buông chổi, bước lại gần vợ rồi thong thả đỡ lời: “Dạ, chẳng là mấy hôm tới em định đi tỉnh một chuyến để tìm mua thêm ít sách quý và giấy về dạy học. Đường sá xa xôi, lại phải ngủ lại dọc đường nên vợ em mới tranh thủ may cho cái túi để đựng đồ đạc và ít lương khô mang theo cho tiện đấy mà chị.”

Bà Mận nghe xong thì hừ một cái rõ dài, vẻ mặt đầy khinh khỉnh. Bà ta chẳng buồn hỏi thêm, quay ngoắt người đi vào nhà, đôi guốc mộc gõ lạch cạch trên sân gạch bát tràng. Vừa đi, bà ta vừa lẩm bẩm với giọng đầy ác ý: “Đúng là cái đồ dở hơi! Chẳng biết kiếp trước làm gì nên tội mà kiếp này chú ấy lại đi rước cái con câm về làm vợ. May túi với chả may bao, chỉ tổ làm bẩn mắt!”

Bà Mận không hề hay biết rằng, ngay khi bóng dáng bà ta khuất sau cánh cửa kính sang trọng, nụ cười hiền hậu trên môi thầy Hiếu bỗng chốc tan biến. Anh nhìn xuống chiếc túi vải trong tay nàng Sen, một cái túi có kích thước kỳ lạ, to hơn hẳn những chiếc túi đựng sách thông thường. Ánh mắt Hiếu lại lướt qua cây khế già, nơi những quả khế chín vàng vẫn còn đung đưa như đang chờ đợi một cuộc hẹn ước nào đó.



Đêm ấy, ông Tham không về. Ông lấy cớ có lô hàng tơ lụa quan trọng cập bến muộn để ngủ lại luôn ngoài xưởng vải, nhưng thực chất là để né tránh cái không khí rùng rợn đang bao trùm lên ngôi nhà sát vách cây khế già. Dinh cơ mái ngói rộng thênh thang giờ chỉ còn lại một mình bà Mận giữa những ánh đèn dầu leo lắt.

Bà Mận sợ đến phát hoảng. Mỗi tiếng gió lùa qua kẽ cửa, mỗi tiếng kẽo kẹt của đồ gỗ trong đêm đều làm bà ta nhảy dựng lên. Không chịu nổi sự cô quạnh, bà gọi giật giọng con Thắm, đứa người làm nhỏ tuổi nhất trong nhà lên buồng ngủ chung với mình.

Con Thắm mặt cắt không còn giọt máu, đứng nép ngoài cửa buồng, giọng run rẩy: “Lạy bà... con... con phận tôi tớ, làm sao dám nằm chung giường với bà ạ? Ông nhà về biết được thì chết con mất..."

Bà Mận trừng mắt, tay nắm chặt mép chăn, vừa nài nỉ vừa đe dọa: “Ông mày đêm nay không về! Tao bảo mày lên là mày phải lên! Liệu hồn đấy, không lên thì sáng mai tao bảo ông đuổi phắt mày ra khỏi nhà, cho mày đi ăn mày nghe chưa?”

Cực chẳng đã, con Thắm đành ôm chiếc chiếu cói len lén trải xuống sàn gạch cạnh giường bà Mận.

Đêm ấy, bà Mận vẫn chẳng thể nào chợp mắt. Phần vì nỗi sợ quái điểu đêm qua cứ lởn vởn, phần vì con Thắm sau cả ngày làm lụng vất vả, vừa nằm xuống là đã ngáy như kéo gỗ, tiếng ngáy vang dội khắp căn buồng yên tĩnh làm bà ta càng thêm nhức óc.

Bà Mận bực dọc trở mình, liếc xéo cái bóng con nhỏ đang nằm dưới sàn, rủa thầm trong bụng: "Đúng là cái đồ ăn hại, chỉ được cái ngủ như lợn là giỏi. Bảo lên thức canh cho tao, thế mà nó nằm xuống là ngáy như sấm, chẳng biết ai hầu ai nữa. Cha bố nhà nó, mai tao mà không đuổi thì tao không phải bà Mận!"

Trời về khuya, không khí đột ngột lạnh buốt. Bà Mận đang lúc thiu thiu ngủ thì bỗng nghe thấy tiếng gió biển bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội.

Phạch... phạch... phạch...

Âm thanh ấy lại đến. Nó nặng nề và mãnh liệt hơn cả đêm trước. Bà Mận bủn rủn chân tay, vội vàng kéo chăn trùm kín mặt, miệng lâm râm khấn vái đủ mọi phương trời. Bà ta cảm thấy như cả căn buồng đang rung chuyển dưới sức nặng của một thứ gì đó vô cùng to lớn đang đáp xuống ngay sát vách tường.

Bỗng nhiên, một tiếng thét thất thanh vang lên xé toạc màn đêm: “Bà ơi! Bà ơi cứu con với! Cái gì kia... Bà nhìn kìa!"

Con Thắm lay mạnh vai bà Mận, tay nó chỉ trỏ về phía cửa sổ. Bà Mận hé mở một góc chăn, hàm răng va vào nhau lập cập. Cánh cửa sổ ban sáng bà đã bảo người gia cố lại chắc chắn, vậy mà giờ đây dưới sức gió, nó lại đang rung bần bật như sắp rời ra khỏi bản lề.

Qua lớp sương đêm mờ ảo bên ngoài, bà Mận thấy bóng con chim khổng lồ đang từ từ vỗ cánh bay vút lên từ tán cây khế già. Nhưng lần này, một cảnh tượng khác hiện ra ngay trước mắt bà, trên cái lưng rộng thênh thang của con quái điểu, dường như có một dáng người đang ngồi trên đó.

Dưới ánh trăng mờ mờ, con chim đập cánh một nhịp mạnh, mang theo bóng người ấy tan biến vào không trung, hướng thẳng về phía biển đông bát ngát.

Bà Mận nhìn thấy cảnh ấy thì rụng rời chân tay, miệng há hốc nhưng chẳng thốt ra được lời nào. Con Thắm thì quỳ sụp xuống sàn, vừa khóc vừa lạy như tế sao.

Mọi thứ bỗng chốc im bặt. Ánh trăng lại rọi xuống sân gạch nhà bà như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Bà Mận và con Thắm run rẩy bước tới, nhìn ra ngoài cửa sổ thì chỉ còn thấy tán cây khế già đứng im lìm trong bóng tối.

Bà Mận quay sang, nắm lấy vai con nhỏ hầu gái, giọng run bần bật không giấu được sự hãi hùng: “Mày... mày có thấy con chim đó không?”

Con Thắm mặt xám ngoét như người chết trôi, lí nhí đáp: “Dạ... dạ... con thấy ạ..."

Bà Mận lại dán mắt vào khoảng không vô định ngoài kia, lắp bắp hỏi tiếp: "Thế mày... mày có nhìn thấy cái bóng trên lưng nó không? Hình như trên đó, có người ngồi...”

Con Thắm run bần bật, đầu cúi gằm xuống, giọng khóc mếu: “Dạ bẩm bà... lúc đó con không biết, con sợ quá nên nhắm tịt mắt lại... con chẳng nhìn rõ được nữa ạ..."

Bà Mận ngồi thẫn thờ trên giường, hơi lạnh đêm sâu dường như đang thẩm thấu vào tận xương tủy. Bà không biết liệu mình vừa nhìn thấy thần tiên giáng thế hay là một điềm báo tai ương cho cái gia đình này.



Sáng sớm hôm sau, bà Mận đã hớt hải chạy thẳng ra xưởng vải. Gương mặt bà ta phờ phạc, đôi mắt quầng thâm vì mất ngủ, bước chân líu ríu như người mất hồn.

Giữa xưởng vải sầm uất, tiếng thoi đưa lạch cạch và tiếng mặc cả của khách buôn vang lên huyên náo. Ông Tham đang đứng giữa đám thợ, tay vân vê xấp lụa mới, mặt mày rạng rỡ vì chốt được món hời. Thấy vợ cứ lù lù xuất hiện với vẻ mặt ma dại, ông Tham khó chịu ra mặt. Ông đuổi bà về mấy bận, giọng gắt gỏng: “Bà nó hay nhỉ! Nhà cửa bao việc không lo, cứ ra đây ám lấy tôi làm gì? Kẻo khách khứa người ta nhìn vào, người ta cười cho vào mặt tôi bây giờ!”

Bà Mận không màng đến sĩ diện của chồng, bà nắm chặt lấy tay áo ông, giọng run rẩy: “Tôi nói thật mà ông nó ơi... Đêm qua không chỉ có mình tôi, cả con Thắm cũng thấy. Con chim ấy nó to như cái đình, mà trên lưng nó... trên lưng nó có người!”

Ông Tham bật cười khan một tiếng, vội vàng xua tay để đám thợ và khách hàng xung quanh không nghe rõ. Ông hạ giọng nhưng đanh thép: “Bà rõ là lắm chuyện! Chắc là ngủ mớ, nằm mơ thấy thần thấy thánh rồi quáng gà thôi. Làm gì có cái giống chim nào to khổng lồ mà lại còn chở được người bay lên trời? Mà có chở thì chở ai?”

Bà Mận mím môi, đôi mắt vẫn chưa hết bàng hoàng, bà nói nhỏ vào tai chồng: “Dáng người đó... tôi thấy quen lắm ông ạ. Nhìn từ xa qua màn sương, tôi cứ thấy hình như... hình như là chú Hiếu nhà mình…”

Vừa nghe đến tên Hiếu, ông Tham bỗng cười ngất, nụ cười đầy vẻ chế giễu: “Đấy! Càng nói bà càng lú lẫn. Chú Hiếu nhà mình đang lo lên tỉnh mua sách, mua giấy bản về dạy học cho đám trẻ. Hôm qua chú ấy đã sang thưa chuyện, xin phép tôi hẳn hoi rồi. Chú ấy đi tỉnh thì làm sao mà cưỡi chim cưỡi cò gì được? Bà rõ là rỗi hơi quá hóa rồ rồi!”

Bà Mận bị chồng mắng nhiếc, đuổi khéo trước mặt bao nhiêu người thì vừa ức, vừa sợ. Bà lủi thủi đi về nhà, bụng bảo dạ chắc mình quáng gà thật. Nhưng cái nỗi sợ hãi đêm qua đã cắm rễ vào tâm trí, bà nhất quyết không dám lên lầu ngủ trong căn buồng sang trọng nữa. Tối đến, bà ôm gối xuống dãy nhà cho người làm, trải chiếu nằm chung với con Thắm trên cái sập gỗ chật chội.

Ông Tham sau khi lo xong việc ở xưởng, về đến nhà thấy vợ sợ sệt như vậy thì cũng có chút suy nghĩ. Nhưng rồi ông tự trấn an bản thân, cho rằng hôm ấy chắc cả ông và bà đều mệt mỏi, làm lụng vất vả nên nhìn gà hóa cuốc mà thôi. Ông vẫn thong thả nhâm nhi chén rượu nhài đêm khuya, gạt phăng mọi sự kỳ quái ra khỏi đầu.

Tuyệt nhiên, từ tối hôm đó, làng Vọng Khê lại yên bình đến lạ kỳ. Tiếng vỗ cánh phạch phạch không còn nghe thấy, bóng chim khổng lồ cũng chẳng thấy tăm hơi.

Vài ngày sau, thầy Hiếu trở về từ chuyến đi tỉnh. Nhưng điều làm cả làng Vọng Khê và đặc biệt là vợ chồng ông Tham ngạc nhiên nhất là ngay khi vừa về, thầy đã gọi thợ đến dỡ bỏ căn nhà lá tiêu điều. Thay vào đó, một căn nhà gạch nhỏ nhắn nhưng khang trang được dựng lên nhanh chóng, có cả một phòng dạy học rộng rãi, cửa gỗ đàng hoàng.

Bà Mận đứng bên kia bờ tường, nhìn thợ nề đang tất bật xây trát, không giấu nổi sự tò mò lẫn nghi hoặc. Bà ta cất giọng hỏi vọng qua: “Kìa chú Hiếu! Tôi hỏi thật chú, tiền đâu mà chú lại có để xây nhà xây cửa to đẹp thế này? Chẳng hóa ra bấy lâu nay chú giấu chúng tôi có của riêng à?”

Hiếu dừng tay đang sắp xếp mấy quyển sách mới, bước lại gần tường, mỉm cười lễ phép: “Dạ thưa chị, em làm gì có của riêng nào giấu chị đâu ạ. Chẳng qua là mấy năm nay em dạy học cũng có tích cóp được một chút đỉnh. Vừa rồi lên tỉnh, em lại tình cờ gặp một vị phú ông hào phóng. Ông ấy từng nhận một đứa con nuôi vốn là học trò cũ của em ở đây. Nể tình thầy cũ của con mình, lại thấy em muốn có chỗ dạy học đàng hoàng cho đám trẻ nghèo nên phú ông ấy mới rộng lòng cho em mượn thêm một ít để cất cái nhà này cho xong đấy chị ạ.”

Bà Mận nghe xong thì bĩu môi, hừ một cái rõ dài, trong lòng trào dâng một nỗi ghen tị cháy bỏng. Bà lủi thủi quay vào nhà, miệng lẩm bẩm đầy cay độc: “Gớm, cái ngữ ấy mà cũng có quý nhân phù trợ cơ đấy. Khéo lại làm chuyện khuất tất gì, hay lại nhặt được của rơi mà không trả. Để rồi xem, cái giống nhà lá đòi xây nhà gạch, mượn tiền với chả cho mượn, chỉ giỏi lòe thiên hạ chứ giàu sang gì cái giống ấy!”

Thế nhưng, điều làm bà Mận và cả làng Vọng Khê phải chấn động hơn cả chính là vài tuần sau đó, khi căn nhà gạch vừa xây xong xuôi. Người ta thấy vợ chồng thầy Hiếu, nàng Sen thuê hẳn mấy chuyến xe ngựa chở đầy thóc gạo, vải vóc và quần áo mới về. Không chỉ dừng lại ở đó, thầy Hiếu còn đích thân mang từng túi tiền, từng xấp vải đi phát cho những gia đình nghèo khổ nhất trong làng.

Cả một góc làng Vọng Khê bỗng chốc huyên náo như trẩy hội. Đám trẻ nghèo và những người lao động lam lũ vây quanh căn nhà nhỏ, ai nấy đều rưng rưng cảm động trước tấm lòng của thầy đồ trẻ. Bà Mận đứng bên hiên dinh cơ nhìn sang, mặt mày xám ngoét vì tiếc của và ghen tức.
 
Chương 1 (2)

Buổi chiều hôm ấy, hai vợ chồng ông Tham ngồi đối diện nhau bên mâm trà, nhưng chẳng ai buồn nhấp một ngụm. Tâm trí họ đều bị hình ảnh những chuyến xe chở đầy thóc gạo, vải vóc bên nhà thầy Hiếu choán hết chỗ.

Ông Tham nhịp tay liên hồi xuống mặt bàn gỗ trắc, đôi mắt nheo lại đầy toan tính. Ông không thể nuốt trôi được cái giả thuyết "mượn tiền phú ông". Ông lẩm bẩm, giọng đầy vẻ hoài nghi: “Bà nó xem, mười xe thóc chứ có phải mười bát gạo đâu? Lại còn lụa là hạng nhất, thứ lụa ấy tôi bán ngoài bến, rẻ cũng phải vài thỏi bạc một sấp. Tính sơ sơ cái đống hàng chú ấy phát cho dân làng chiều nay, cũng phải bằng cả năm tôi lăn lộn ngoài thương cảng. Phú ông nào mà lại hào phóng đến cái mức điên rồ, cho mượn cả một gia tài chỉ để đi làm việc bao đồng?”

Bà Mận hứ một tiếng rõ dài, tay vân vê cái vòng vàng, giọng lanh lảnh phụ họa: “Ông nói phải đấy! Cái ngữ chú Hiếu, xưa nay có đồng nào trong túi đâu. Phú ông phú bà gì ở đây? Tôi đồ rằng chú ấy nhặt được của quý, hoặc là... hoặc là có bí mật gì to lớn lắm mà vợ chồng mình không biết. Nhìn cái vẻ thong dong của chú ấy, tôi thấy ngứa mắt không chịu nổi. Tiền bạc ấy, lẽ ra phải chảy vào cái nhà này mới đúng chứ lị!

Ông Tham trầm ngâm hồi lâu rồi quay sang nhìn vợ, vẻ mặt phân vân: “Thế theo ý bà thì tính làm sao bây giờ? Chẳng lẽ cứ ngồi đây mà nhìn nó phát tiền phát bạc à?”

Bà Mận xáp lại gần, hạ thấp giọng vẻ đầy mưu mẹo: “Hay là ông sang bên ấy một chuyến. Ông cứ dùng cái tình anh em từ thuở để chỏm, nhắc lại chuyện xưa nghĩa cũ mà hỏi dò xem chú ấy lấy đâu ra lắm tiền thế. Anh em ruột thịt, chú ấy chẳng lẽ lại giấu ông được mãi?”

Ông Tham nghe vậy thì đập bàn một cái rầm, mặt đỏ gay vì tự ái, quát lên: “Bà nói năng cho nó cẩn thận! Tôi đường đường là bậc đàn anh, là thương gia có tiếng tăm lẫy lừng khắp cái vùng này, giờ lại phải hạ mình sang "xin xỏ" một thằng em cái cách kiếm tiền sao? Bà định bôi tro trát trấu vào mặt tôi chắc? Thiên hạ người ta biết được thì còn ra cái thể thống gì nữa? Cái mặt tôi để đâu cho hết nhục?”

Bà Mận cũng chẳng vừa, bà ta đứng bật dậy, chống nạnh rồi gào lên chói lói: “Ông mới là kẻ điên! Khéo ông lại cứ ôm lấy cái sĩ diện hão ấy mà chết đói đi! Ông cứ giữ cái bộ mặt thương gia cao ngạo ấy đi, rồi mai kia chú ấy giàu nứt đố đổ vách, chú ấy cưỡi đầu cưỡi cổ ông, lúc đó ông còn ra dáng anh trai được nữa không? Hay lại phải cúi đầu lạy lục trước cái thằng "thầy đồ nghèo" mà ông vẫn coi khinh như rác? Tiền bạc nó mới làm nên cái uy, chứ cái danh hảo ấy có mài ra mà ăn được đâu hả ông Tham?”

Ông Tham giật mình, vội vàng đưa tay ra hiệu cho vợ thấp xuống, mắt láo liên nhìn ra cửa rồi gằn giọng: “Bà be bé cái mồm lại! Định la lên cho cả làng này nó nghe thấy hết hay sao? Để người ta bảo cái nhà này anh em tị hiềm, dòm ngó tiền của nhau à? Khẽ cái mồm thôi!”

Ông Tham lặng đi, bàn tay nhịp trên bàn bỗng dừng hẳn. Lời bà Mận như gậy đập vào lưng ông. Ông nghĩ đến đống gạo thóc bên kia, nghĩ đến cái uy của mình ở làng Vọng Khê này đang bị lung lay dữ dội.

Sau một hồi suy tính, ông đứng phắt dậy, gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm nhưng vẫn xen lẫn chút bối rối: “Thôi được rồi, tôi sang! Bà cứ ở nhà hóng tin, tôi sẽ cho cái thằng thầy đồ ấy khai thật xem lộc ở đâu mà lắm thế. Chuyện này không thể mập mờ được, anh em trong nhà, có lộc thì phải hưởng chung!”

Bà Mận sốt sắng gật đầu, tay đẩy nhẹ vai chồng: “Phải đấy! Ông sang ngay đi. Nhớ là phải dỗ dành nó kể thật lòng, dùng cái tình anh em ra mà nói, chứ đừng để nó dùng ba cái chuyện phú ông phú bà ra lừa mình nữa. Tôi ở nhà hóng tin ông từng phút đấy!”

Ông Tham đi rồi, bà Mận cứ như ngồi trên đống lửa. Bà ta đi đi lại lại trong sân gạch bát tràng, chốc chốc lại kiễng chân ngó qua bờ tường thấp. Nhìn thấy ngôi nhà gạch mới xây của Hiếu, lòng bà ta như có hàng nghìn con kiến bò, vừa ghen tức, vừa thèm khát cái sự giàu sang đột ngột ấy.

Một hồi lâu sau, bóng ông Tham mới xuất hiện ở cổng. Nhưng lần này, dáng đi của ông không còn cái vẻ hách dịch thường ngày. Ông bước đi lảo đảo, gương mặt tái mét không còn một giọt máu, đôi mắt thẫn thờ như người vừa nhìn thấy ma giữa ban ngày. Ông ngồi phịch xuống ghế, tay chân vẫn còn run lẩy bẩy.

Bà Mận thấy thế thì hốt hoảng lao ra, nắm chặt lấy tay ông, hỏi dồn dập: “Sao rồi? Sao rồi ông ơi? Nó có kể không? Tiền đâu? Bạc đâu? Nó đào được kho báu của ông cha để lại đúng không? Hay là nó làm chuyện gì khuất tất?”

Ông Tham nhìn vợ bằng ánh mắt thất thần, môi run run mãi mới thốt lên được hai chữ: “Con... con chim…”

Bà Mận khẽ nghiêng đầu, cau mày hỏi lại với vẻ sốt ruột: “Chim chóc cái gì? Tôi đang hỏi chú Hiếu cơ mà! Ông nói năng kiểu gì mà lạ thế?”

Ông Tham bực mình đập mạnh tay xuống bàn, gắt lên: “Thì là con chim khổng lồ đêm hôm ấy ấy! Tôi, bà và con Thắm không nhìn nhầm đâu. Chính là nó! Nó là thần tiên, là kho báu đấy bà!”

Nói xong, ông Tham bắt đầu thuật lại tỉ mỉ câu chuyện mà Hiếu vừa kể. Ông kể về việc con chim thần đêm đêm đến ăn khế, rồi nó biết nói tiếng người, nó bảo: "Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang theo mà đựng".

Ông diễn tả lại cảnh Hiếu được con chim chở bay qua biển cả mênh mông đến một hòn đảo xa tít tắp, nơi cát cũng là vàng, đá cũng là ngọc, vàng bạc chất cao như núi, cứ thế mà hốt vào túi mang về…

Bà Mận nghe tới đâu, đôi mắt trợn tròn tới đó. Cái miệng nhai trầu của bà ta há hốc ra, nước trầu đỏ lòm chảy cả xuống cằm mà không hay biết.

“Vàng... toàn là vàng sao? Trời đất ơi... Một túi ba gang vàng thì... thì bằng cả mười cái xưởng lụa nhà mình rồi ông nó ơi! Thế mà nó giàu kín tiếng, nó phát chẩn cho dân làng để lấy tiếng đức độ, còn anh của nó thì nó giấu như mèo giấu cứt!”

Bà ta lẩm bẩm, rồi đột nhiên bật dậy như bị điện giật, giọng tru tréo lên: “Thế này thì không được! Ông tính sao? Làm sao mà để nó hưởng một mình như thế được? Cây khế ấy là của ông nội ông trồng cơ mà! Là tài sản gia bảo, là cái "vía" của tổ tiên để lại cho con trưởng, sao lại để thằng thứ nó hưởng trọn lộc như thế?”

Ông Tham nhíu mày, giọng đầy vẻ bất lực nhưng trong lòng cũng đang sôi sục: “Bà nói thì hay lắm! Đất ấy tôi đã cho nó rồi, cây khế ấy cũng thuộc về nhà nó rồi. Bây giờ nó giàu, nó có bạc vạn trong tay, thiên hạ kính nể, tôi biết lấy tư cách gì mà đòi?”

Bà Mận không cam tâm, bà ta xáp lại gần chồng, đôi mắt rực lên sự tham lam tột độ, giọng thủ thỉ nhưng đầy quyết liệt: “Đất cho rồi thì đòi lại! Không đòi được bằng tình thì đòi bằng tiền! Ông nó xem, nhà mình to đẹp thế này, lụa là gấm vóc thế này, là niềm mơ ước của bao người. Hay là mình đề nghị... đổi?”

Ông Tham nhướng mày: “Đổi? Ý bà là…”

“Đúng! Mình đổi cái dinh cơ mái ngói này lấy cái nhà gạch nhỏ và cây khế đó. Chú ấy được ở nhà to, lại mang danh là được anh chị nhường nhịn, chắc chắn là chú ấy không từ chối đâu. Cây khế về tay mình, con chim thần sẽ đến với mình. Lúc ấy vàng bạc trên cái đảo kia đều chui vào túi nhà mình cả, tiếc gì cái dinh cơ này nữa ông nó ơi! Một túi vàng của nó bằng cả đời mình buôn bán đấy!”

Ông Tham lặng người đi trước đề nghị táo bạo của vợ. Ánh mắt ông bắt đầu đảo liên hồi, lòng tham đang dần lấn át cả sự sĩ diện cuối cùng. Ông nhìn sang cây khế cổ thụ đang rung rinh trong gió, dường như ông đã thấy những thỏi vàng lấp lánh đang treo lủng lẳng trên cành thay cho những quả khế chua kia.



Trước sự ngỡ ngàng của vợ chồng ông Tham, thầy Hiếu và nàng Sen chấp nhận lời đề nghị đổi nhà ngay lập tức mà không hề mảy may do dự. Hiếu chỉ khẽ thở dài, dặn dò anh chị bằng giọng đầy chân tình: “Thôi thì anh chị đã muốn giữ lấy cái cây khế của các cụ thì em cũng chẳng dám chối từ. Nhưng em dặn trước, con chim thần ấy nó lạ lùng lắm. Nó chỉ đến vào lúc cây khế nhiều trái nhất, và đặc biệt nó rất ghét tính âm, nên không thích hơi phụ nữ ở gần. Mỗi lần đến, nó cũng chỉ chở duy nhất một người đi thôi. Anh chị nhớ kỹ lời em, kẻo lỡ mất lộc trời. Mà anh chị còn phải nhớ thêm, tuyệt đối không được kể cho người ngoài nghe về chuyện con chim thần hay đảo vàng, không là mang hoạ đó…”

Vợ chồng ông Tham mừng lắm, vội vã ký giấy tờ xác nhận rồi dọn sang căn nhà gạch nhỏ của Hiếu ngay trong ngày.



Một năm trôi qua, làng Vọng Khê chứng kiến một sự thay đổi kỳ lạ. Ông bà Tham dùng số tiền tích cóp được từ xưởng vải để xây căn nhà gạch nhỏ của Hiếu thành một dinh cơ mới bề thế hơn, chỉ để vây quanh cây khế cổ thụ. Trong khi đó, ở bên dinh cơ mái ngói cũ, thầy Hiếu lại dỡ bỏ những gian phòng ăn chơi, biến gian nhà chính rộng thênh thang thành một lớp học lớn, nơi tiếng đọc bài của đám trẻ nghèo vang vọng suốt ngày đêm.

Năm ấy, cây khế nhà ông Tham bỗng nhiên trĩu quả một cách lạ thường. Những chùm khế vàng mọng, thơm phức tỏa hương ngào ngạt khắp cả một vùng, khiến đám trẻ trong làng cứ đứng ngoài hàng rào nhìn vào thèm thuồng. Mỗi lần thấy bóng dáng đám trẻ, bà Mận lại chống nạnh đứng bên cửa sổ, miệng chửi đổng choe choét: “Cái lũ bẩn thỉu này! Cút ngay đi! Khế này là khế thần, khế thánh nhà bà, chúng mày mà đụng vào là chết không kịp ngáp đâu!”

Thậm chí, ông Tham còn bỏ tiền thuê hai gã lực điền khỏe mạnh, gậy gộc lăm lăm đứng canh gác dưới gốc khế ngày đêm, tuyệt đối không cho ai lại gần "kho báu" của mình.

Và rồi, cái đêm định mệnh mà cả hai vợ chồng ông Tham khắc khoải chờ đợi suốt một năm qua cũng đến. Trời càng về khuya, gió từ phía biển thổi vào càng mạnh. Giữa lúc hai vợ chồng đang trằn trọc trong giấc ngủ chập chờn, một luồng gió bất thình lình quật mạnh vào mái hiên nhà, khiến những cánh cửa gỗ rung lên bần bật.

Kèm theo luồng gió ấy là tiếng vỗ cánh phạch phạch nặng nề, uy mãnh vang dội ngay trên nóc nhà, làm rung chuyển cả những viên ngói mới còn thơm mùi vôi. Bà Mận giật mình tỉnh giấc, tim đập thình thịch liên hồi như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Mồ hôi vã ra như tắm dù hơi lạnh sương đêm đang lùa vào buồng.

Bà muốn ngồi dậy nhưng đôi chân dường như đã bủn rủn, không còn chút sức lực. Nhớ lời Hiếu dặn kỹ về việc con chim thần vốn ghét hơi phụ nữ, lại thêm nỗi ám ảnh kinh hoàng từ những đêm năm ngoái vẫn chưa hề tan biến, bà không dám hé mắt ra nhìn, càng không dám bước chân ra khỏi buồng. Bà nằm co ro, quấn chặt lấy tấm chăn nhung, hai tay run rẩy lay mạnh chồng, giọng lạc đi vì vừa sợ hãi vừa bị lòng tham thúc giục: “Ông nó ơi! Đến rồi! Con chim thần đến rồi! Ông mau tỉnh dậy đi, nhớ mang theo cái túi tôi đã chuẩn bị sẵn kia kìa!”

Ông Tham lồm cồm bò dậy, tay cầm lấy cái túi mà bà Mận vừa đưa cho. Lão giật mình khi thấy cái túi to tướng, liền thốt lên: “Trời đất ơi! Bà điên à? Năm ngoái chú Hiếu mang theo cái túi có ba gang tay, mà bà may cái túi này tận mười gang? To thế này mang vác sao nổi?”

Bà Mận ở trong chăn gắt lên: “Ông mới là kẻ ngu! Mang túi to thì mới đựng được nhiều vàng chứ lị! Nó là chim thần, nó chở được cả người thì cái túi mười gang vàng có là gì đối với nó? Ông mà mang cái túi ba gang về thì đừng có nhìn mặt tôi nữa!”

Ông Tham nghe vợ quát thì cũng chẳng dám cãi. Đang đi ra, ông thấy trên bàn có cây trâm cài tóc của bà Mận. Ông nói giỡn: “Tôi đem theo cái này làm tin, để cầu bình an, vợ chồng mình sớm đoàn tụ.”

Bà Mận trong chăn gắt lên: “Gớm, làm như thương yêu lắm! Lo đi nhanh đi!”

Ông Tham vừa run vừa phấn khích, khoác cái túi khổng lồ lên vai rồi lén lút bước ra ngoài sân. Bà Mận nằm trong phòng, trùm chăn kín mít nhưng đôi mắt lại rực sáng lên vì tham vọng. Bà tưởng tượng đến cảnh ngày hôm sau, khi ông Tham trở về với cái túi mười gang đầy ắp vàng ròng, bà sẽ trở thành người phụ nữ giàu có nhất cái xứ này, sẽ chẳng còn ai dám coi khinh bà nữa.


Cả hai vợ chồng, kẻ ở người đi, đều tuyệt nhiên không hề hay biết rằng, đây chính là lần cuối cùng trong cuộc đời họ được nhìn thấy nhau.
 
Sửa lần cuối:

Chương 2 (1)​

Giữa trưa tháng Sáu, cái nắng như đổ lửa trút xuống mái ngói rêu phong của huyện đường Hoằng Hóa. Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng gió thổi hun hút qua những khe cửa gỗ cũ kỹ. Bụi dày phủ lên những chồng hồ sơ án tích chất đống nơi góc phòng, dường như đã lâu lắm rồi chưa có bàn tay người lật ra.

Quan huyện Nguyễn Duy ngồi trên chiếc bàn bóng loáng kê trên công đường. Một tay chàng phe phẩy chiếc quạt giấy nan tre để xua đi cái oi bức hầm hập, tay kia cầm cuốn "Nam Hoa Kinh", mắt lướt qua những dòng chữ Hán nhưng thần trí dường như đang ở nơi khác.

Nguyễn Duy khẽ nâng chén trà, nhấp một ngụm rồi thở dài sườn sượt. Chàng vốn xuất thân dòng dõi khoa bảng, nuôi mộng kinh bang tế thế, vậy mà chỉ vì tính khí cương trực, dám dâng sớ can gián Thừa tướng nên bị "đày" về làm tri huyện ở nơi miền biển này. Tài năng không có đất dụng, ngày ngày phải đối mặt với sự tẻ nhạt khiến chàng cảm thấy mình như con kình ngư mắc cạn trong vũng nước tù.

Ở góc phòng đối diện, bên chiếc bàn gỗ lim thấp tè, Thầy Đề Lĩnh đang lúi húi dùng khăn vải lau chùi lại chiếc nghiên mực đã khô cong. Ông lão là người cũ ở nha môn này, phục vụ từ thời quan huyện tiền nhiệm, nên thuộc làu từng đặc điểm trong nha môn, từng thói quen của dân sở tại. Dáng người ông nhỏ thó, lưng còng xuống như con tôm, đôi mắt nheo nheo sau gọng kính tròn trễ xuống sống mũi.

Thấy Nguyễn Duy tay cầm sách mà mắt cứ đăm chiêu nhìn ra ngoài cửa sổ, Thầy Đề ngừng tay, chép miệng, giọng rề rà của người già thích kể lể: "Bẩm quan, quan thấy nơi này tẻ nhạt lắm phải không ạ? Lão ở đây hầu hạ qua hai đời quan huyện rồi, lão lạ gì."

Ông lão thong thả lau cái gọng kính, nói tiếp: "Cái xứ Vọng Khê này, quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn ba cái chuyện tranh chấp, cãi cọ của đám lái buôn, thợ thuyền. Hết kiện nhau thiếu cân gạo, lại đến chuyện giành giật nhau một mối tơ lụa, hay mấy bà bán cá tạt nước rửa rau sang nhà nhau. Quan chán là phải."

Nguyễn Duy nghe vậy thì bật cười nhạt, đặt chén trà xuống bàn cái "cạch" nhẹ, giọng đầy vẻ châm biếm: "Thầy nói phải. Ta đường đường là Thám hoa, thuộc làu kinh sử, giờ đây ngày ngày ngồi phân xử mấy vụ mua bán gà vịt tôm cá. Kể ra thì... cũng là một loại 'trọng trách' hiếm có."

Thầy Đề cười móm mém: "Thì quan cứ coi như đây là dịp nghỉ ngơi dưỡng sức. Ở đây tuy buồn nhưng được cái bình yên. Đám dân chài lưới, buôn bán họ tuy cục súc, hay cãi vã vì cái lợi trước mắt, nhưng tâm tính cũng đơn giản. Họ sợ phép công lắm. Quan cứ phán một câu là họ nghe răm rắp, âu cũng là cái uy của người làm quan."

Nguyễn Duy nghe vậy thì bật cười nhạt, nụ cười nửa miệng đầy vẻ ngạo nghễ nhưng cũng đượm buồn. Chàng gấp cuốn sách lại rồi nhìn thầy Đề.

"Thầy Đề này," Nguyễn Duy nói, giọng trầm ổn nhưng vang rền. "Cổ nhân có câu: 'Dân an là phúc của xã tắc'. Huyện không có trọng án, dân không phải đáo tụng đình, ấy là cái phúc chứ sao thầy lại mong có chuyện?"

Chàng đứng dậy, bước chầm chậm ra phía cửa, nhìn ra khoảng sân gạch đang bốc hơi ngùn ngụt dưới nắng hè: "Nhưng mà..."

Nguyễn Duy nheo mắt lại, nhìn những đám mây đen đang đùn lên từ phía chân trời xa tít tắp, nơi có biển cả mênh mông: "Cái yên bình của vùng cửa biển này đôi khi chỉ là sự giả tạo. Nó giống như mặt nước phẳng lặng trước khi con sóng dữ ập tới mà thôi, thầy Đề ạ."

Lời Quan Nguyễn Duy vừa dứt, chưa kịp để không gian trầm lại thì từ ngoài sân huyện đường, một âm thanh chát chúa vang lên, xé toạc cái tĩnh lặng oi ả của buổi trưa hè.

Tùng! Tùng! Tùng!

Đó là tiếng trống Đăng Văn, loại trống chỉ được phép đánh khi có việc quan trọng khẩn cấp hoặc có người kêu oan. Tiếng trống dồn dập, gấp gáp.

Thầy Đề Lĩnh đang lúi húi lau nghiên mực thì giật nảy mình, đánh rơi cả chiếc khăn lau xuống đất. Ông lão lẩm bẩm: "Quái lạ! Giờ Ngọ ba khắc rồi mà ai còn đánh trống kêu oan thế kia??"

Nguyễn Duy thì ngược lại. Đôi mắt phượng của chàng sáng rực lên, vẻ chán chường ban nãy biến mất hoàn toàn. Chàng gấp mạnh chiếc quạt giấy lại cái "rộp", đứng phắt dậy, tà áo lụa xanh phất lên đầy uy lực: "Cho vào!"

Lính lệ chưa kịp hô, một đám người nhốn nháo đã xộc thẳng vào sân công đường. Dẫn đầu là Hương lý làng Vọng Khê, mồ hôi nhễ nhại, mũ áo xộc xệch. Theo sau gã là vài người đàn ông lạ mặt, ăn vận theo lối lái buôn, mặt mày đỏ gay vì giận dữ. Vừa nhìn thấy quan huyện, Hương lý đã quỳ sụp xuống, vừa thở hồng hộc vừa vái lạy lia lịa, trong khi đám người đi cùng cũng nhao nhao chắp tay, miệng kêu oan thấu trời.

Nguyễn Duy nhận ra ngay gã dẫn đầu. Chàng nhíu mày, giọng trầm xuống nhưng đầy vẻ uy nghiêm: "Lý trưởng. Có chuyện gì mà ngươi hốt hoảng như ma đuổi thế? Còn kéo theo cả đám người lạ mặt này vào công đường làm náo loạn chốn tôn nghiêm?"

Gã Hương lý ngẩng mặt lên, giọng run rẩy, chỉ tay về phía những người phía sau định trình bày thì đám lái buôn đã nhao nhao cướp lời:

"Bẩm quan lớn! Oan ức quá! Thằng cha Tham nó lừa chúng tôi!"

"Nó nuốt trọn tiền cọc của chúng tôi rồi bỏ trốn biệt tăm!"

"Quan lớn phải làm chủ cho dân đen! Nhà cửa nó to thế mà đi lừa đảo!"

Tiếng kêu gào hỗn loạn vang vọng khắp công đường khiến không khí trở nên ồn ào như cái chợ vỡ. Nguyễn Duy cau mày, cầm thanh gỗ trắc đập mạnh xuống bàn án.

Cốp!

"Im lặng!"

Tiếng quát của vị quan trẻ vang rền như sấm nổ khiến đám lái buôn giật mình, im bặt, lùi lại phía sau. Đôi mắt sắc lẹm của Nguyễn Duy quét qua một lượt đám đông, giọng đanh thép: "Chốn công đường uy nghiêm, ai cho phép các ngươi huyên náo? Kẻ nào còn dám mở miệng khi chưa được hỏi, ta cho lôi ra đánh năm mươi trượng!"

Thấy đám người đã sợ hãi cúi đầu, Nguyễn Duy mới chỉ tay vào Hương lý: "Lý trưởng! Chỉ một mình ngươi được nói. Đầu đuôi câu chuyện thế nào? Đám người này là ai?"

Hương lý run rẩy, chắp tay vái lạy rồi bẩm báo: "Dạ bẩm quan... mấy vị này chỉ là người đại diện được các chủ buôn cử lên đây thôi ạ. Còn ở ngoài kia, hàng chục lái buôn khác cùng đám thợ thuyền đang vây kín nhà ông Tham. Kẻ cầm gậy gộc, người cầm gạch đá, đòi phá cửa xông vào. Tình hình căng như dây đàn, bọn chức dịch chúng con cản không nổi!"

Nghe nhắc đến cái tên này, Nguyễn Duy khẽ nhíu mày. Chàng mới về nhậm chức, chưa tường tận hết các thế lực hào phú trong vùng. "Khoan đã," Duy giơ tay ngắt lời. "Các ngươi cứ mở miệng là 'nhà ông Tham'. Vậy ông Tham này là kẻ nào?"

Thầy Đề Lĩnh ngồi bàn bên cạnh vội bước lên một bước, thì thầm giải thích: "Bẩm quan, quan mới về nên chắc chưa rõ. Ông Tham là chủ xưởng tơ lụa lớn nhất vùng này, giàu có nức tiếng, hàng tơ lụa của lão xuất đi khắp các tỉnh lân cận đấy ạ."

Hương lý nghe vậy thì gật đầu lia lịa, chắp tay thưa: "Dạ dạ, bẩm đúng ạ. Chính là ông ấy."

Nguyễn Duy gật nhẹ tỏ ý đã hiểu, rồi ánh mắt lại trở nên sắc lạnh, nhìn thẳng vào đám đông: "Đường đường là chủ xưởng, sao lại để dân vây nhà? Vây nhà vì lý do gì?"

Hương lý nuốt nước bọt ừng ực, gạt mồ hôi trán: "Bẩm, là vì ông Tham đã biến mất biệt tăm cả tháng nay rồi ạ! Cả tháng nay xưởng vải đóng cửa im ỉm. Đám thợ thuyền, phu phen, trong đó có cả đám thợ phu khuân vác, làm quần quật cả tháng trời mà không được trả một đồng công nào nên sinh ra phẫn nộ."

Gã ngừng một chút lấy hơi rồi liếc nhìn những người phía sau, giọng càng thêm vẻ nghiêm trọng: "Còn các chủ buôn từ tỉnh khác về, họ đã đặt cọc tiền để lấy hàng, giờ đến nơi thì kho hàng trống rỗng, chủ cũng không thấy mặt. Họ đồn ầm lên là vợ chồng ông Tham đã ôm tiền vàng bỏ trốn, lừa đảo thiên hạ! Giờ đám đông ở nhà ông Tham đang hùa nhau đòi đập phá, cướp đồ đạc để trừ nợ đấy ạ."

Nguyễn Duy nghe đến hai chữ "lừa đảo" và "biến mất", gương mặt tuấn tú đanh lại. Chàng chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trước mặt viên Hương lý. Một vụ án lớn, liên quan đến nhiều người, lại có nguy cơ bạo loạn. Đúng là "sóng dữ" như chàng dự cảm.

"Vậy vợ chồng ông ta đều biến mất cả sao? Trong nhà giờ còn ai?" Duy gặng hỏi.

Viên Hương lý vội thưa, mắt láo liên nhìn quanh như sợ có ai nghe thấy: "Dạ bẩm... ông Tham thì mất tích, nhưng bà Mận, là vợ của ông Tham thì vẫn còn ở nhà ạ. Nhưng chuyện quái gở là ở chỗ đó. Mụ ấy cứ rú rú trong nhà, ai gọi cũng không ra. Ban đầu bà ta còn ra cửa hứa hẹn khất nợ, nhưng cả tháng nay không thấy tăm hơi ông Tham đâu, bà ấy đâm ra hoảng loạn rồi nói sàm nói sớ."

Gã Hương lý nuốt nước bọt, bắt chước giọng điệu bà Mận: "Bà ấy gào lên với đám chủ nợ là: 'Chồng tao đi lấy vàng, do chim thần chở đi rồi! Đợi ông ấy mang túi vàng về thì cái đống tiền lẻ của tụi bay có nghĩa lý gì!'. Dân họ bảo mụ ấy giả điên giả dại, bịa chuyện ma quỷ để trốn nợ đấy ạ!"

Nguyễn Duy nghe xong thì nhíu mày, vẻ mặt đầy nghi hoặc: "Chim thần? Đi lấy vàng??"

Thấy quan huyện có vẻ thắc mắc về gia cảnh kỳ lạ này, Thầy Đề Lĩnh mới rụt rè bước lên, chắp tay nói thêm: "Bẩm quan, chuyện này có lẽ có ngọn ngành. Nhà ông Tham và bà Mận này, nhiều năm trước cũng từng có chuyện lùm xùm trong vùng. Gọi là tranh chấp đất đai thì cũng không hẳn, số là ông Tham có một người em ruột tên là Hiếu, làm thầy đồ dạy chữ cho trẻ nghèo..."

Thầy Đề chỉnh lại gọng kính, kể tiếp giọng rề rà: "Hai anh em nhà ấy tính nết trái ngược nhau hoàn toàn. Khi cha mẹ mất để lại một mảnh đất nhà cửa to lớn, ông Tham thì chiếm hết nhà cao cửa rộng, chỉ chia cho cậu em một mảnh đất nhỏ xíu kế bên, trên đó có một cây khế rất to..."

Nguyễn Duy nghe tới đây thì giơ tay lên ngắt lời, giọng dứt khoát: "Thôi được rồi thầy ạ. Ta chưa cần biết gia cảnh, ngọn nguồn của nhà ông Tham ra sao, chuyện đó để sau hãy tính. Quan trọng bây giờ là giữa thanh thiên bạch nhật, đất vua phép nước mà lại để xảy ra chuyện náo loạn như thế này là không thể chấp nhận được."

Chàng quay sang phía đội lính lệ, hô lớn: "Đội trưởng Trần Hùng đâu!"

Một người đàn ông có thân hình vạm vỡ, cơ bắp cuồn cuộn như hộ pháp bước ra từ hàng lính. Nước da ngăm đen dạn dày sương gió, và đặc biệt là đôi mắt có màu hổ phách lạ lẫm. Trần Hùng chắp tay, giọng vang rền:

"Có thuộc hạ!"

"Ông lập tức dẫn lính lệ xuống làng Vọng Khê, giải tán ngay đám đông đang gây rối đó cho ta. Sau đó dẫn bà Mận lên đây, ta muốn đích thân hỏi chuyện xem thực hư thế nào."

“DẠ, THUỘC HẠ NGHE LỆNH”.

Tiếng hô vang khiến cả đám Hương lý và lái buôn giữa công đường giật mình thon thót, vài kẻ yếu bóng vía còn suýt ngã dụi. Trần Hùng quay người, sải những bước chân dũng mãnh dẫn đội lính lệ rầm rập đi ngay ra khỏi huyện đường.

Đợi khi bóng dáng đội lính khuất hẳn sau cổng tam quan, Nguyễn Duy mới quay sang hỏi Thầy Đề, giọng điềm tĩnh trở lại: "Thầy Đề này, từ huyện đường ta xuống dinh cơ nhà ông Tham đó đi mất bao lâu?"

Thầy Đề Lĩnh vuốt chòm râu thưa, ngẫm nghĩ một chút rồi thưa: "Bẩm quan, đường cũng không xa lắm. Nếu đi xe ngựa thì mất một canh giờ, còn nhanh chân và thạo đường tắt như Đội trưởng Trần Hùng thì cả đi lẫn về chắc chỉ mất tầm nửa canh giờ thôi ạ."

Nguyễn Duy gật gù, ánh mắt lộ vẻ hài lòng. Chàng phẩy tay ra hiệu cho đám người đang quỳ dưới sân: "Được rồi. Hương lý và các ngươi cứ lui xuống nhà khách phía Tây mà đợi. Khi nào Đội trưởng Trần Hùng dẫn bà Mận về, ta sẽ thăng đường xử lý."

Đám lái buôn và Hương lý vâng dạ rối rít rồi lui ra. Khi công đường chỉ còn lại hai người, Nguyễn Duy mới thong thả ngồi xuống ghế, nâng chén trà đã nguội lên nhìn Thầy Đề: "Nào, giờ thầy kể tiếp cho ta nghe đi. Chuyện cụ thể gia đình của ông Tham kia ra sao? Cây khế, người em thầy đồ, và cả những chuyện lùm xùm năm xưa mà thầy định nói ấy..."
 
Sửa lần cuối:
Chương 2 (2)

Dưới cái nắng như thiêu như đốt, con đường làng Vọng Khê vốn yên bình nay hỗn loạn như một bãi chiến trường. Trước cổng dinh cơ mới của ông Tham, nơi vốn là nền nhà gạch cũ của thầy đồ Hiếu, cánh cổng gỗ lim đóng kín mít, im lìm như một pháo đài cố thủ. Nhưng bên ngoài, sự phẫn nộ đang sôi sục như chảo nước sôi.

Dẫn đầu đám đông ô hợp là anh Mẹo, gã phu khuân vác khắc khổ từng bị bà Mận bắt quỳ gối giữa sân năm nào. Hôm nay, Mẹo không còn vẻ khúm núm sợ sệt nữa. Gã cởi trần trùng trục, để lộ làn da đen cháy, tay cầm một cái mâm đồng móp méo, vừa gõ keng keng inh ỏi vừa gào lên, giọng lạc đi vì khản đặc:

"Trả tiền! Trả tiền mồ hôi nước mắt cho bố con ông! Cả tháng nay chúng mày trốn chui trốn lủi, định để thợ thuyền chúng tao chết đói hả? Quân thất đức! Quân hút máu người!"

Hưởng ứng theo tiếng phèn la của Mẹo là hàng chục gã lực điền, thợ xưởng vải. Kẻ cầm đòn gánh, người cầm cuốc xẻng, ai nấy đều hừng hực khí thế, mắt vằn lên tia máu.

Chen lẫn trong đám thợ thuyền lam lũ là những cỗ xe ngựa sang trọng đỗ nghênh ngang chắn lối. Đó là xe của các lái buôn từ tỉnh xa về. Một gã lái buôn bụng phệ, mặt đỏ gay như gà chọi, đứng trên bục xe ngựa, chỉ tay vào cánh cổng đóng kín mà chửi: "Thằng Tham đâu! Mày vác mặt ra đây cho ông! Nhận cọc cả ngàn quan tiền rồi mày định giở trò hả? Mày tưởng mày trốn được lưới trời lồng lộng à?"

Đáp lại sự ồn ào kinh thiên động địa ấy chỉ là sự im lặng từ bên trong cánh cổng.

Trong gian nhà chính sang trọng, bà Mận đang ngồi co ro dưới chân bàn thờ tổ tiên. Tóc tai bà rũ rượi, đôi mắt thâm quầng trũng sâu vì mất ngủ. Bà chắp hai tay run bần bật, vái lạy lia lịa lên bàn thờ, miệng lầm rầm khấn vái trong tuyệt vọng: "Lạy chín phương trời, lạy mười phương đất... Con lạy ông Tham, ông đang ở đâu thì ông về cứu tôi với... Ông mang túi vàng đi rồi, ông bỏ tôi lại chịu trận thế này sao? Chim thần ơi... sao mày không đón tao đi luôn..."

Bên ngoài, sự kiên nhẫn của đám đông đã cạn kiệt. Gã lái buôn bụng phệ không kiềm chế được nữa, hắn nhặt một cục đá tảng to tướng dưới đường, lấy hết sức bình sinh ném mạnh vào cánh cổng gỗ.

RẦM!

Tiếng va chạm chát chúa như phát súng lệnh. Gã gào lên, nước bọt bắn tứ tung:"Bà con ơi! Vợ chồng nhà này lừa đảo! Chúng nó dựng chuyện chim thần chim thánh để lấp liếm trốn nợ đấy! Đừng để con mụ vợ trốn thoát! Phá cửa! Phá cửa xông vào bắt nó ra đây đòi tiền!"

"Phá đi! Đập nát cái nhà này đi!"

Đám đông như bầy ong vỡ tổ, tiếng hò reo vang dậy đất trời. Mẹo và mấy gã thợ lực lưỡng lao lên, dùng vai húc rầm rầm vào cánh cổng gỗ lim. Cánh cổng kiên cố bắt đầu rung lên bần bật, những tiếng kẽo kẹt vang lên như tiếng kêu cứu của gỗ đá.

Từ ngôi nhà gạch to lớn kế bên, nơi giờ đây là trường học của thầy đồ, Hiếu hốt hoảng chạy ra. Thấy cảnh tượng hỗn loạn, chàng vội vã chen vào đám đông, dang tay cố gắng can ngăn: "Bà con ơi! Xin bà con bình tĩnh! Có chuyện gì từ từ nói, đừng đập phá nhà cửa anh chị tôi mà mang tội!"

Tiếng nói thư sinh của chàng chìm nghỉm trong tiếng hò reo. Một gã thợ mặt mũi bặm trợn túm lấy áo Hiếu, gào lên: "Mày là em ruột nó! Thằng anh trốn rồi thì thằng em phải trả nợ thay! Tiền đâu? Nôn ra đây!"

Nhưng ngay lập tức, mấy người phụ nữ trong làng và vài bác nông dân đứng gần đó vội kéo gã thợ ra, can ngăn rối rít: "Thôi thôi! Buông thầy Hiếu ra! Chú ấy là người nhân đức, ai chẳng biết chú ấy bị vợ chồng lão Tham chèn ép bấy lâu nay. Người ta là thầy đồ dạy chữ, liên quan gì mà bắt vạ!"

Dù được giải vây, nhưng sự xuất hiện của Hiếu cũng chẳng thể làm nguội đi cái đầu nóng của đám đông đang say máu. Họ gạt chàng sang một bên, tiếp tục lao vào húc cánh cổng gỗ.

Bà Mận ở trong nhà nghe tiếng cổng sắp vỡ thì hét lên một tiếng thất thanh, ôm đầu chui tọt xuống gầm bàn, run như cầy sấy.

Đúng lúc then cài cửa sắp bung ra, một tiếng loa vang rền như sấm nổ từ đầu ngõ vọng lại, át cả tiếng hò reo hỗn loạn: "TẤT CẢ DỪNG TAY!"

Đám đông khựng lại, một toán lính lệ mặc áo nẹp đỏ, tay cầm giáo dài rầm rập chạy tới, nhanh chóng dàn hàng ngang, bao vây lấy đám đông quá khích.

Người đi đầu không ai khác chính là Đội trưởng Trần Hùng. Với thân hình vạm vỡ như hộ pháp, anh bước đi hùng dũng, đôi mắt hổ phách quắc lên nhìn đám người đang cầm gậy gộc. Anh không cần hét lớn, chỉ gằn giọng: "Kẻ nào dám cả gan đập phá nhà dân, gây rối giữa ban ngày? Muốn nếm thử mùi roi vọt của nha môn hay muốn vào nhà đá?"

Gã lái buôn bụng phệ đang cầm hòn đá thứ hai định ném, thấy bóng dáng quan quân thì vội vàng thả tảng đá rơi bộp xuống chân, đau điếng mà không dám kêu. Mẹo và đám thợ thuyền cũng lùi lại, mặt tái mét, buông thõng đòn gánh xuống đất. Cái uy của Trần Hùng ở vùng này ai mà không biết, chỉ cần nhìn thấy vết sẹo trên tay y là đám lục lâm thảo khấu cũng phải kiêng dè.

Trần Hùng bước tới trước mặt Mẹo, lạnh lùng hỏi: "Sao? Muốn đòi tiền hay muốn ăn roi?"

Mẹo run rẩy, lắp bắp: "Dạ... dạ bẩm... chúng con chỉ muốn đòi lại công sức lao động..."

"Muốn kiện thì lên huyện đường mà kiện, quan huyện khắc xử. Còn tụ tập đập phá thế này là tội làm loạn! Giải tán ngay! Ai còn đứng đây sau ba tiếng đếm, ta cho lính gông cổ lại hết!"

Đám đông nghe thế thì hồn xiêu phách lạc, mạnh ai nấy chạy, dẫm đạp lên nhau mà tản ra. Chỉ trong chốc lát, trước cổng dinh cơ chỉ còn lại dấu chân lộn xộn và đám bụi mù.

Khi không gian đã yên tĩnh trở lại, Trần Hùng mới quay sang cánh cổng gỗ lim, dùng nắm tay to như cái búa tạ đập mạnh ba cái:

Cốp! Cốp! Cốp!

"Bà Mận đâu! Mở cửa tiếp lệnh quan huyện!"

Đáp lại tiếng gọi đanh thép của Trần Hùng vẫn là sự im lặng từ bên trong. Có lẽ người đàn bà bên trong đã sợ đến mất mật, chẳng dám tin là đám đông hung hãn kia đã thực sự rời đi, hoặc sợ rằng chỉ cần hé cửa là sẽ bị lôi ra xé xác.

Lúc này, Hiếu mới chỉnh lại manh áo dài bị xô lệch, rụt rè bước lại gần cánh cổng. Chàng ngước mắt nhìn viên đội trưởng lính lệ, khẽ gật đầu chào rồi ghé sát vào khe cửa, cất giọng nhẹ nhàng: "Chị Mận ơi, em Hiếu đây. Bọn họ bỏ về cả rồi. Ở đây chỉ còn quan quân của huyện đường thôi, chị cứ yên tâm mà mở cửa."

Trần Hùng nheo mắt nhìn người thầy đồ trẻ. Anh vốn cũng là người làng Vọng Khê này, chẳng lạ gì tiếng tăm của Hiếu. Trong mắt anh cũng như bao người dân ở đây, Hiếu là một thầy đồ hiền lành, đức độ. Năm ngoái, nghe đâu thầy Hiếu được một vị phú ông trên tỉnh tài trợ, mang cả xe thóc gạo về phát chẩn cho dân nghèo, tiếng thơm vang khắp vùng. Nể cái tình ấy và nhận ra người quen, Trần Hùng cũng thu lại vẻ mặt hầm hố, khẽ gật đầu chào lại Hiếu một cái tỏ ý tôn trọng.

Nghe thấy giọng nói quen thuộc của em chồng, lại thêm sự im ắng bên ngoài, lúc này cánh cổng mới từ từ hé mở một khe nhỏ. Bà Mận thò khuôn mặt hốc hác, trắng bệch ra ngoài, hai mắt láo liên nhìn quanh. Thấy lính lệ vây kín và Hiếu đang đứng đó với vẻ mặt lo lắng, bà ta mới bớt run rẩy đôi chút.

Trần Hùng bước tới, không cần giấy tờ cầu kỳ, y chỉ trừng mắt nhìn người đàn bà đang run rẩy, giọng đanh lại như thép nguội: "Phụng mệnh quan huyện Nguyễn Duy! Triệu tập bà Mận lên công đường ngay lập tức để làm rõ vụ án ông Tham mất tích và cáo buộc lừa đảo tiền bạc. Bà đi ngay cho, hay để lính của ta phải dùng xích sắt trói giải đi?"

Nghe thấy hai chữ "công đường" và "xích sắt", bà Mận hoảng hồn, mặt cắt không còn giọt máu. Bà ta vội vàng quay sang túm lấy tay áo người em chồng, giọng mếu máo, van xin: "Chú Hiếu ơi! Cứu chị với! Sao... sao con chim thần nó đi lâu quá vậy hả chú? Cả tháng nay rồi chưa thấy anh chú về... Chú nói giúp chị một câu đi! Chú bảo với họ là chim thần có thật đi!"

Thầy Hiếu đứng đó, vẻ mặt đầy khó xử. Chàng ngập ngừng nhìn đám lính lệ gươm giáo sáng lòa, rồi lại nhìn sang Đội trưởng Trần Hùng đang đứng sừng sững như hộ pháp. Cuối cùng, Hiếu quay lại nhìn bà chị dâu đang hoảng loạn, khẽ lắc đầu thở dài: "Chị Mận à... lệnh quan khó cãi. Chị cứ theo các quan lên huyện trước đi, thành khẩn khai báo đầu đuôi. Em sẽ thu xếp việc nhà rồi theo hầu chị sau ạ..."



Đầu giờ Thân, cái nắng chiều xiên khoai hắt những vệt dài loang lổ lên nền gạch Bát Tràng của huyện đường. Không khí oi bức hòa cùng mùi mồ hôi chua nồng của đám đông chen chúc khiến không gian càng thêm ngột ngạt.

Dưới sân công đường, sự phân chia giai cấp hiện lên rõ rệt qua hai nhóm người đối lập.

Một bên là đám đại diện chủ nợ và thợ thuyền, dẫn đầu là gã lái buôn bụng phệ và anh Mẹo phu khuân vác. Họ đứng lố nhố, tay nhao nhao chìa ra những tờ giấy nợ nhàu nát, những khế ước đặt cọc viết vội bằng mực tàu đã nhòe nhoẹt. Mẹo gân cổ lên, chỉ vào những vết chai sần trên vai mình như bằng chứng thép: "Bẩm quan! Mồ hôi nước mắt của con đổ xuống bến cảng cả tháng trời, giờ nhà nó tính xù là xù thế nào!"

Phía bên kia, quỳ rạp dưới đất là bà Mận, người đàn bà từng một thời hét ra lửa, mắng thợ như hát. Giờ đây, bà ta trông chẳng khác gì một tấm giẻ rách. Chiếc áo lụa mỡ gà lấm lem bụi đất, tóc vấn trần bung bét xõa xượi che lấp nửa khuôn mặt hốc hác. Bà ta cứ cúi gằm mặt, đôi vai gầy guộc run lên bần bật theo từng nhịp thở.

Trên bục cao, quan huyện Nguyễn Duy ngồi uy nghi sau chiếc bàn án sơn son thếp vàng. Đôi mắt phượng của chàng nheo lại, quan sát kỹ lưỡng từng cử chỉ của người đàn bà dưới sân. Chàng không vội vàng quát tháo, chỉ cầm thanh gỗ trắc lên, gõ mạnh một cái xuống mặt bàn.

Cốp!

Âm thanh đanh gọn vang lên khiến đám đông im bặt. Nguyễn Duy cất giọng lạnh lùng: "Thị Mận! Ngẩng mặt lên!"

Bà Mận giật bắn người như bị điện giật, từ từ ngẩng đầu lên. Đôi mắt bà đỏ ngầu, sưng húp, ánh nhìn dại đi như kẻ mất hồn.

"Ta hỏi ngươi, chồng ngươi, tên Tham, hiện đang ở đâu? Số tiền đặt cọc của các chủ buôn, tiền công của thợ thuyền, các ngươi giấu ở chỗ nào? Tại sao lại đóng cửa xưởng vải, trốn tránh trách nhiệm?"

Câu hỏi dồn dập của quan huyện như những nhát búa tạ giáng xuống tâm trí vốn đã hoảng loạn của bà Mận. Bà ta bỗng bật cười khanh khách, rồi lại òa khóc nức nở, tiếng khóc ai oán vang vọng khắp huyện đường: "Oan... oan cho con lắm quan ơi! Chồng con... chồng con không có trốn! Ông ấy không có lừa đảo ai hết! Còn cả đống vải lụa trong kho nữa... con cũng không biết tại sao nó lại biến mất sạch sành sanh! Con thề con không có giấu đi đâu cả! Con không biết gì hết!"

"Không trốn thì đi đâu? Vải vóc chất đống như núi mà bảo không biết?" Duy gặng hỏi.

Bà Mận mở to mắt, nhìn chằm chằm vào khoảng không vô định, giọng thì thào đầy vẻ bí hiểm: "Là chim thần... con chim khổng lồ ăn khế... nó đến đón ông ấy rồi! Nó to như cái đình làng ấy quan ạ! Nó bảo ông ấy may túi, rồi nó chở ông ấy đi đảo vàng rồi!"

Cả công đường sững sờ trong giây lát rồi ồ lên cười cợt. Tiếng cười chế giễu, mỉa mai vang lên: "Điên! Con mụ này điên thật rồi!"

"Làm gì có chim nào to bằng cái đình! Lại còn chở người đi lấy vàng!"

Gã lái buôn bụng phệ nhảy chồm chồm lên, chỉ tay vào mặt bà Mận mà gào: "Bẩm quan! Nó giả điên đấy! Nó bịa chuyện thần thánh ma quỷ để lấp liếm, nuốt trọn tiền cọc của chúng tôi đấy! Đừng tin lời nó!"

Nguyễn Duy không cười. Chàng vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh băng, đôi mắt sắc lẹm như đang mổ xẻ từng lời nói của bà Mận. Chàng giơ tay ra hiệu cho đám đông im lặng, rồi chồm người về phía trước, hỏi dồn:

"Chim chở đi đảo vàng? Vàng bạc châu báu ở đâu? Cái đảo ấy nằm ở phương nào, ngươi có biết không?"

Bà Mận lắc đầu quầy quậy, nước mắt lã chã: "Dạ... dạ con không biết... ông ấy chỉ bảo là đi xa lắm..."

"Thế con chim đó chở chồng ngươi đi lúc nào? Có ai nhìn thấy không? Hay chỉ có một mình ngươi dựng chuyện?"

"Dạ... đêm hôm đó gió lớn lắm... con sợ quá nên chỉ dám nằm trong phòng trùm chăn kín mít... Ông Tham nhà con một mình ôm túi ra ngoài với con chim... Bẩm quan, con không có nói dối! Đợt đó, con Thắm người ở nhà con cũng có nhìn thấy đấy ạ..."

Nghe đến đây, Thầy Đề Lĩnh đứng bên cạnh không nhịn được mà bật cười lớn, tiếng cười khàn khàn xen lẫn sự mỉa mai: "Bẩm quan, lão sống ở cái đất này mấy chục năm, nghe đủ chuyện trên trời dưới biển, nhưng chưa bao giờ nghe thấy chuyện hoang đường như thế. Chim chở người đi đảo vàng? Họa chăng chỉ có trong giấc mơ của kẻ tham tiền hóa rồ thôi ạ!"

Nguyễn Duy giơ tay ra hiệu cho Thầy Đề im lặng, rồi quay sang nhìn thẳng vào bà Mận, ánh mắt sắc như dao: "Ngươi nói là có con Thắm người ở cũng nhìn thấy chuyện này phải không?"

Bà Mận gật đầu lia lịa như vớ được cọc: "Dạ... dạ bẩm đúng ạ! Con Thắm nó cũng thấy!"

Duy quay sang quát lớn: "Trần Hùng! Ngươi lập tức cử lính quay lại Vọng Khê, dẫn ngay con Thắm lên đây cho ta hỏi chuyện. Ta muốn xem nó khai thế nào về con chim thần của chủ nó."

Sau khi Trần Hùng nhận lệnh, Duy đứng phắt dậy, đi vòng xuống công đường, đứng sừng sững trước mặt bà Mận khiến bà ta sợ hãi co rúm lại.

"Vợ chồng ngươi vì lòng tham không đáy, định vơ vét của cải, rồi dựng chuyện thần thánh hoang đường hòng che mắt thiên hạ, tính kế 'kim thiền thoát xác' mà cao chạy xa bay phải không?"

Tiếng quát của quan huyện khiến bà Mận cứng họng, ú ớ không thành tiếng: "Dạ bẩm... không... con không..."

"Còn chối quanh co! Nếu không phải vì tham lam, lừa đảo thì cớ sao chồng ngươi lại biến mất đúng lúc nợ nần chồng chất? Ngươi định đem chuyện ma quỷ ra để bỡn cợt chốn công đường này sao?"

Duy quay sang đám lính lệ, phất tay áo: "Người đâu! Giam thị Mận vào ngục thất vì tội lừa đảo! Khi nào dẫn giải được con Thắm lên, ta sẽ thẩm vấn riêng để đối chiếu lời khai. Chờ khi bắt được tên Tham về, ta sẽ xét xử một thể!"

Lời phán của quan huyện vừa dứt, đám đông phía dưới lại nhao nhao lên như ong vỡ tổ. Gã lái buôn bụng phệ không nén được sự sốt ruột, chắp tay gào lên: "Bẩm quan! Giam mụ ấy thì dễ, nhưng còn tiền bạc mồ hôi nước mắt của chúng con thì tính sao đây ạ? Đợi đến khi bắt được tên Tham thì biết đến bao giờ? Vợ con chúng con đang chờ ở nhà, tiền không thấy đâu thì chúng con sống làm sao?"

Anh Mẹo và đám thợ thuyền cũng hùa theo, tiếng kêu than dậy sóng cả công đường: "Quan ơi cứu xét! Bắt được người mà không lấy lại được tiền thì cũng như không! Chúng con chết đói mất thôi!"

Tiếng kêu than dậy đất của đám chủ nợ và thợ thuyền tưởng chừng như sắp biến công đường thành cái chợ vỡ, thì từ ngoài cửa, lính lệ hô lớn: "Dạ bẩm, có thầy đồ Hiếu xin vào cầu kiến!"

Mọi ánh mắt đổ dồn về phía cổng. Hiếu bước vào, dáng vẻ vẫn thư sinh, nho nhã như mọi ngày, nhưng gương mặt lại toát lên vẻ u sầu, tiều tụy. Chàng mặc một chiếc áo dài thâm phẳng phiu, đầu đội khăn xếp ngay ngắn, bước đi điềm tĩnh giữa những ánh mắt giận dữ và tò mò.

Nhìn thấy Hiếu, bà Mận như người chết đuối vớ được cọc. Bà ta chồm dậy, định lao về phía em chồng nhưng bị lính lệ giữ chặt lại. Bà ta gào lên, nước mắt giàn giụa: "Chú Hiếu! Chú Hiếu ơi! Chú nói với quan đi! Chú nói cho họ biết là chim thần có thật đi!? Chú giải thích cho chị đi..."

Hiếu dừng lại, nhìn người chị dâu đang hoảng loạn bằng ánh mắt đầy thương cảm pha lẫn bất lực. Chàng không trả lời bà, mà tiến thẳng đến trước án thư, vén vạt áo quỳ xuống, dập đầu lạy quan huyện Nguyễn Duy: "Bẩm quan lớn, thảo dân là Hiếu, em trai của ông Tham và bà Mận đây ạ."

Nguyễn Duy nhìn người đàn ông trước mặt. Qua lời kể vắn tắt của Thầy Đề lúc nãy, chàng biết đây là người thầy đồ hiền lành, đức độ, vốn được dân làng kính trọng, khác hẳn với người anh trai tham lam. Chàng gật đầu nhẹ, giọng ôn tồn: "Thầy Hiếu, thầy đến đúng lúc lắm. Chị dâu thầy đang một mực nói chuyện chim thần, còn dân chúng thì đòi nợ. Thầy tính sao?"

Hiếu ngẩng đầu lên, giọng trầm buồn nhưng rành rọt từng chữ: "Bẩm quan, gia môn bất hạnh. Anh trai tôi vì lòng tham nhất thời mà hồ đồ, bỏ đi biệt tích. Còn chị dâu tôi..." Hiếu liếc nhìn bà Mận, thở dài, "...chị ấy là đàn bà nhẹ dạ, tin người, lại quá sốc trước sự biến mất của chồng nên thần trí đâm ra mê muội, nói năng lảm nhảm chuyện thần thánh hoang đường."

Bà Mận nghe Hiếu nói mình "mê muội", "hoang đường" thì sững sờ, miệng há hốc: "Chú... chú nói cái gì thế? Rõ ràng chú cũng..."

Nhưng Hiếu không để bà nói hết câu, chàng cao giọng lấn át: "Thảo dân phận làm em, không gánh vác được việc nhà là lỗi của thảo dân. Nay anh chị gây nợ, thảo dân xin đem hết gia sản tích cóp bao năm dạy học, cùng mảnh đất hương hỏa, xin được bồi hoàn một phần cho các chủ buôn và trả đủ lương cho thợ thuyền."

Hiếu quay sang đám đông đang ngơ ngác, chắp tay nói: "Bà con cô bác, anh chị em thợ thuyền... xin hãy nể tình tôi mà thư thư cho chị dâu tôi. Tôi xin đem danh dự của kẻ sĩ ra thề, ngay trong ngày mai, tôi sẽ bán hết tài sản để trả nợ cho mọi người. Xin mọi người đừng làm khó quan huyện, đừng dồn ép chị tôi nữa."

Đám đông nghe những lời ruột gan ấy thì lặng đi. Sự giận dữ ban nãy bỗng chốc tan biến, thay vào đó là sự cảm kích.

“Thầy Hiếu nhân nghĩa quá!"

"Đúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính. Anh thì tham lam, em thì thánh thiện."

"Thôi được rồi, nể mặt thầy đồ Hiếu, chúng tôi sẽ đợi đến mai!"

Nguyễn Duy ngồi trên cao quan sát tất cả. Trong mắt chàng lúc này, Hiếu hiện lên như một điểm sáng đạo đức duy nhất, một bông sen trắng giữa cái đầm lầy tham lam và lừa lọc của gia đình này. Chàng gật đầu hài lòng: "Thầy Hiếu đã có lời như vậy, lại dám lấy gia sản ra bảo lãnh, ta chấp thuận. Các chủ nợ và thợ thuyền hãy an tâm ra về."

Đám thợ thuyền như trút được gánh nặng ngàn cân. Mẹo, gã đàn ông vạm vỡ ban nãy còn hung hăng gõ phèn la đòi nợ, giờ đây bỗng bật khóc tu tu như một đứa trẻ. Gã chen lấn xô đẩy đám đông để lao đến trước mặt Hiếu, quỳ sụp xuống, hai tay nắm lấy vạt áo dài thâm của chàng mà run rẩy: "Thầy Hiếu ơi! Thầy đúng là Bồ Tát sống của nhà con! Con cứ tưởng phen này cả nhà chết đói rồi... Ơn này con xin ghi lòng tạc dạ!"

Theo sau Mẹo, hàng chục người thợ khắc khổ cũng lục tục kéo đến vây quanh Hiếu. Người thì chắp tay vái lạy rối rít, người thì rưng rưng nước mắt, miệng không ngớt lời ca tụng ân nhân cứu mạng. Khung cảnh hỗn loạn, đầy sát khí ban nãy bỗng chốc trở nên đầy cảm động.

Hiếu vội vàng cúi xuống, dùng đôi bàn tay thư sinh trắng trẻo đỡ từng người dậy, không nề hà tấm áo họ đẫm mồ hôi và bụi bẩn. Gương mặt chàng vẫn giữ vẻ sầu não, giọng nói nhẹ nhàng nhưng đầy sức thuyết phục: "Kìa, các bác, các anh đừng làm thế, tổn thọ cho tôi lắm. Anh chị tôi làm sai, tôi phận làm em phải có trách nhiệm gánh vác, ấy là lẽ thường tình. Mọi người cứ về nhà nghỉ ngơi, ngày mai sang nhà tôi, tôi xin hứa sẽ không để ai phải chịu thiệt thòi đâu ạ."

Đúng lúc không khí vừa dịu xuống, thì từ ngoài cửa công đường vang lên tiếng bước chân chạy rầm rập. Một tên lính lệ trẻ tuổi lao vào, hớt hải đến mức vấp phải bậc thềm ngã dúi dụi. Mũ áo xộc xệch, mặt cắt không còn giọt máu, hắn lồm cồm bò dậy, vừa thở dốc vừa lắp bắp không thành tiếng: "Bẩm... bẩm quan lớn! Nguy... nguy to rồi ạ!"

Nguyễn Duy nhíu mày, cảm thấy có chuyện chẳng lành. Chàng nghiêm giọng: "Có chuyện gì mà hốt hoảng thế? Bình tĩnh nói ta nghe!"

Tên lính nuốt nước bọt ừng ực, hai tay run bần bật chắp lại: "Dạ bẩm... thuộc hạ phụng mệnh Đội trưởng Trần Hùng quay lại làng Vọng Khê để tìm con Thắm người ở nhà bà Mận, định dẫn giải lên đây... Nhưng... nhưng khi chúng thuộc hạ đến nơi, gọi mãi không thấy ai thưa..."

"Thì sao?" Nguyễn Duy gắt lên, lòng nóng như lửa đốt.

"Thuộc hạ... thuộc hạ đánh liều phá cửa xông vào tìm... thì... thì phát hiện con Thắm... nó đã treo cổ trên xà nhà bếp rồi ạ! Người nó lạnh ngắt, lưỡi thè ra... chết cứng rồi quan ơi!"

"Cái gì???"

Quan huyện Nguyễn Duy giật mình đứng phắt dậy, mặt tái mét. Cả công đường ồ lên kinh hãi. Bà Mận nghe tin con Thắm chết thì ngã vật ra đất, ngất lịm đi trong chốc lát rồi lại tỉnh dậy, gào khóc thảm thiết.

Cả công đường như bị dội một gáo nước lạnh, im phăng phắc. Vụ án từ chỗ tranh chấp tiền bạc, "lừa đảo" bỗng chốc nhuốm màu tang tóc lạnh lẽo. Nguyễn Duy nhận ra sự việc nghiêm trọng hơn mình tưởng rất nhiều.

Nguyễn Duy hít một hơi sâu, cố nén cơn giận và sự bàng hoàng vào trong. Chàng cầm thanh gỗ trắc, gõ mạnh ba tiếng xuống bàn, âm thanh vang rền như sấm nổ: "Tất cả im lặng! Chốn công đường không phải cái chợ để các ngươi nhốn nháo! Chuyện đâu còn có đó, án mạng đã có nha môn lo liệu."

Chàng quét ánh mắt uy quyền xuống đám đông đang run rẩy, giọng đanh thép: "Đám thợ và dân buôn nghe đây! Thầy Hiếu đã lấy danh dự và gia sản ra hứa trả nợ, thì các ngươi cứ an tâm mà ra về. Ta cấm tuyệt đối việc tụ tập bàn tán, gây rối tại làng Vọng Khê. Kẻ nào dám tung tin thất thiệt hay làm loạn, ta sẽ bắt giam ngay lập tức!"

Đám đông vốn dĩ chỉ quan tâm đến tiền, nay nghe thấy có người chết treo cổ thì hồn xiêu phách lạc. Cái sợ dính líu đến án mạng, đến quan nha khiến họ vội vã thu dọn giấy tờ, lủi thủi tản ra về, không ai dám nán lại thêm nửa giây, trả lại sự trống trải lạnh lẽo cho sân công đường.

Khi đám đông đã vắng bớt, chỉ còn lại sự im lặng, Duy từ từ bước xuống bục gỗ, chỉ tay thẳng vào mặt bà Mận đang run rẩy như cầy sấy dưới đất: "Người đâu! Giam thị Mận vào ngục thất! Chuyện nợ nần thầy Hiếu gánh thay là một nhẽ, nhưng chuyện lừa đảo không thể vô can. Không thể vì được đền bù mà tha tội, nhất là trong nhà bà đã có người chết!"

Hai tên lính xốc nách bà Mận lôi đi. Bà ta vùng vẫy trong tuyệt vọng, quay đầu lại nhìn Hiếu, gào thét: "Chú Hiếu! Chú nói gì đi chứ! Sao con Thắm nó lại chết? Chú cứu chị! Chú Hiếu ơi!"

Hiếu đứng đó, nhìn theo bóng chị dâu bị lôi vào sau bức bình phong, đôi mắt vương nét buồn rầu nhưng miệng vẫn im lặng, chỉ khẽ cúi đầu như chấp nhận số phận.

Khi tiếng gào khóc của bà Mận khuất sau bức bình phong, không gian công đường chìm vào sự tĩnh lặng nặng nề.

Nguyễn Duy bước chậm rãi xuống từng bậc tam cấp, chàng tiến lại gần Hiếu, ánh mắt phượng nheo lại, quan sát kỹ lưỡng người đàn ông đang cúi đầu nhẫn nhục trước mặt.

Chàng đưa tay vỗ nhẹ lên vai người thầy đồ, giọng nói trầm ấm nhưng vẫn giữ khoảng cách của bậc quan phụ mẫu: "Thầy Hiếu, hôm nay nha môn phải tạ ơn thầy. Nếu không có cái uy đức của thầy ra đảm bảo, e rằng đám đông phẫn nộ kia đã gây ra loạn lớn. Thầy quả là người thấu tình đạt lý, hiếm có trong thiên hạ."

Hiếu vẫn giữ tư thế cúi rạp người, hai tay chắp trước ngực run nhẹ, giọng nói nghẹn ngào như chực khóc: "Dạ bẩm quan, quan lớn quá khen khiến thảo dân hổ thẹn. Anh chị thảo dân gây nghiệp lớn, thảo dân phận làm em, không can ngăn được từ đầu đã là cái tội. Nay đem chút của cải ra để chuộc lỗi, chỉ thương cho con Thắm... nó còn trẻ quá..."

Duy gật đầu, ánh mắt thoáng chút suy tư. Chàng quay phắt sang phía Đội trưởng Trần Hùng đang đứng nghiêm trang chờ lệnh, nét mặt chàng đanh lại, sắc lạnh như lưỡi dao vừa tuốt khỏi vỏ: "Trần Hùng! Ngươi nghe đây! Lập tức dẫn hai mươi lính lệ tinh nhuệ nhất quay lại Vọng Khê. Phong tỏa toàn bộ dinh cơ nhà bà Mận, nội bất xuất, ngoại bất nhập"

Duy nhấn mạnh từng chữ: "Đặc biệt là khu nhà ngang nơi con Thắm treo cổ. Giữ nguyên hiện trường, không ai được phép đụng vào bất cứ thứ gì cho đến khi ta tới. Rõ chưa?"

"Thuộc hạ tuân lệnh!" Trần Hùng hô vang rồi quay người sải bước, tiếng giày đinh nện xuống nền gạch nghe chát chúa.

Nguyễn Duy ngước nhìn bầu trời ngoài sân. Những đám mây đen kịt từ phía biển đang ùn ùn kéo tới, che lấp ánh hoàng hôn yếu ớt, báo hiệu một cơn giông tố sắp ập xuống huyện đường. Gió bắt đầu rít qua những khe cửa, mang theo hơi lạnh và mùi tanh nồng của biển cả.

Chàng quay sang Thầy Đề Lĩnh, giọng nói hạ thấp xuống, đầy vẻ nguy hiểm: "Thầy Đề này... Một người đàn bà điên loạn khai về con chim thần. Một người hầu gái là nhân chứng duy nhất lại treo cổ đúng lúc quan cần đến. Thầy có tin vào sự trùng hợp không?"

Thầy Đề rùng mình, lắc đầu quầy quậy: "Bẩm quan... chuyện này... quá nhiều uẩn khúc."

Nguyễn Duy khép mạnh chiếc quạt giấy, ánh mắt rực lên ngọn lửa quyết tâm: "Tối nay, ta và thầy sẽ đích thân xuống Vọng Khê. Cái chết của con hầu này... e không phải là ngẫu nhiên."
 
Tôi cũng bắt đầu thấy nghi nghi rồi đó, với kinh nghiệm tư duy logic của tôi thì thực ra chỉ có chim trong quần chứ không có con nào :sweat:
từ đoạn mà bảo con chim kiêng âm, để che mắt bà Tham, chắc 1 mình solo thịt ông anh, xong rồi quẩy trộm hết lụa với vàng của nhà anh, thịt nốt con Thắm để không còn người đối chứng ấy bác :D
 

Chương 3 (1)​


Cỗ xe ngựa quan nha phủ màu sơn đen tuyền lầm lũi tiến vào làng Vọng Khê, bánh xe nghiến ken két xuống mặt đường lát gạch cũ kỹ. Gió biển đêm nay thổi thốc từng cơn, mang theo vị mặn chát và hơi lạnh thấu xương, khiến tấm rèm cửa xe bay phần phật. Ngọn đèn lồng treo trước mũi xe chao đảo dữ dội như muốn tắt lịm giữa không gian u tối.

Đội trưởng Trần Hùng đi đầu, tay cầm ngọn đuốc cháy rừng rực, gió tạt mạnh khiến ngọn lửa cứ bạt về một phía. Tiếng vó ngựa gõ nhịp dồn dập trên con đường lát gạch, rồi khựng lại trước một căn nhà gạch cỡ trung, nơi có tán cây khế to lớn đang rung lên bần bật trong gió.

"Bẩm quan! Đã tới nhà của bà Mận!" Trần Hùng quay lại, giọng vang rền át cả tiếng gió rít.

Cánh cửa xe ngựa bật mở. Quan huyện Nguyễn Duy bước xuống, tà áo lụa xanh thẫm bay phần phật trong gió. Chàng nheo mắt, nhìn bao quát khung cảnh trước mặt. Dưới ánh đuốc loang lổ, hai ngôi nhà hiện ra sát vách nhau, ngăn cách bởi một bức tường gạch thấp. Ánh mắt chàng dừng lại ở căn nhà gạch nhỏ hơn nằm bên phải, nơi đám lính lệ đang đứng canh gác nghiêm ngặt với giáo mác sáng lòa, tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng.

Nhưng ngay lập tức, đôi chân mày của Nguyễn Duy nhíu lại. Chàng quay sang Thầy Đề Lĩnh, người vừa lồm cồm bò xuống xe, đang co ro giữ chặt cái khăn xếp trên đầu kẻo gió bay mất.

"Thầy Đề này," Nguyễn Duy cất tiếng, giọng trầm nhưng đầy vẻ ngờ vực. "Lúc ở huyện đường, ta nhớ thầy có bẩm báo rằng gia cảnh nhà ông Tham vô cùng bề thế, giàu nứt đố đổ vách, còn người em là thầy đồ Hiếu thì sống ở căn nhà nhỏ hơn có cây khế. Có phải vậy không?"

Thầy Đề Lĩnh chỉnh lại gọng kính, gật đầu lia lịa: "Bẩm quan, đúng là như thế ạ. Lão Tham giàu nhất vùng này, ai mà chẳng biết."

Nguyễn Duy cười nhạt, tay chỉ cây quạt giấy về phía trước: "Vậy thầy giải thích cho ta xem, tại sao lính tuần lại đang canh giữ nghiêm ngặt ở căn nhà gạch bé tí tẹo, sân vườn chật hẹp bên phải kia, chứ không phải cái dinh cơ to lớn bên này?"

Thầy Đề Lĩnh giật mình, nheo mắt nhìn kỹ lại theo hướng tay quan chỉ. Ông lão vỗ trán cái "đét", vẻ mặt đầy hối lỗi: "Chết thật! Bẩm quan, lão hồ đồ quá, quên chưa bẩm báo với quan chi tiết này. Chuyện là thế sự xoay vần, vật đổi sao dời quan ạ."

Ông lão rụt cổ lại vì lạnh, giọng rề rà giải thích: "Cách đây chừng một năm, ở cái làng Vọng Khê này xảy ra một chuyện lạ đời chưa từng thấy. Vợ chồng lão Tham bỗng dưng nằng nặc đòi đổi cái dinh cơ to lớn kia để lấy cái nhà nhỏ hơn và cây khế của chú em Hiếu. Lúc ấy dân làng đồn ầm lên là vợ chồng lão bị ma ám, hoặc là... tin vào mấy chuyện mê tín dị đoan nên mới đổi. Thế là từ đó, vợ chồng thầy đồ Hiếu dọn sang nhà lớn, còn vợ chồng lão Tham thì về ở cái chỗ chật chội này ạ."

Nguyễn Duy nghe xong, nét mặt không hề giãn ra mà càng trở nên đăm chiêu. Chàng phe phẩy chiếc quạt giấy dù trời đang gió lạnh, ánh mắt sắc lẹm như dao cau nhìn chằm chằm vào hai ngôi nhà đối lập.

"Lạ đời! Thật là tréo ngoe hết sức." Nguyễn Duy lẩm bẩm, nhưng đủ để Trần Hùng và Thầy Đề nghe thấy. "Lão Tham là dân buôn bán lọc lõi, làm sao có chuyện chịu thiệt thòi đổi vàng lấy thau như thế? Còn thầy đồ Hiếu, mang tiếng là kẻ sĩ thanh cao, coi nhẹ vật chất, cớ sao lại gật đầu để dọn vào hưởng thụ trên cơ ngơi mồ hôi nước mắt của anh chị mình?"

Thầy Đề ấp úng: "Thì... nghe đâu thầy Hiếu cũng vì nể anh nể chị, cực chẳng đã mới phải đổi..."

"Nể?" Nguyễn Duy ngắt lời, giọng đanh lại. "Một kẻ tham lam chấp nhận chịu thiệt, một kẻ thanh cao bỗng dưng hưởng lợi. Sự đời hễ cái gì trái khoáy, ắt bên trong có uẩn khúc to lớn."

Chàng bước tới vài bước, ngước mắt nhìn lên tán cây khế cổ thụ đang rung lên bần bật trong gió đêm, những chùm quả đung đưa đầy bí ẩn dưới ánh đuốc chập chờn.

"Liệu rằng cuộc trao đổi này, còn có một thứ khác, một thứ gì đó khiến lão Tham và bà Mận chấp nhận đánh đổi cả cơ ngơi..." Nguyễn Duy nheo mắt, ánh nhìn như xuyên thấu màn đêm, gằn giọng: "...chẳng lẽ là vì cây khế này sao?"

Chàng lại nhìn sang dinh cơ to lớn của Hiếu. Cánh cổng gỗ đóng kín mít, nhưng bên trong vẫn hắt ra ánh đèn dầu leo lắt.

"Thôi được rồi. Chuyện nhà cửa hạ hồi phân giải." Nguyễn Duy phất tay áo, bước dứt khoát về phía ngôi nhà gạch nhỏ.

"Vào xem cái xác đã. Trần Hùng, dẫn đường!"



Ngôi nhà gạch nhỏ của vợ chồng ông Tham chật chội hơn vẻ bề ngoài. Từ khi dọn về đây, vì không gian tù túng, bà Mận đã đuổi hết kẻ ăn người ở, chỉ giữ lại duy nhất con Thắm vì nó khỏe, lại dễ sai bảo. Giờ đây, chính sự vắng vẻ ấy lại khiến không khí trong nhà càng thêm phần lạnh lẽo, cô độc.

Trần Hùng cầm ngọn đuốc đi trước, dẫn Nguyễn Duy vòng ra phía sau nhà, nơi có gian bếp tách biệt. Càng đến gần, mùi ẩm mốc của tường vôi cũ quyện với mùi tanh nồng của bùn đất sau mưa càng xộc lên gay gắt. Và lẩn khuất trong đó, là cái mùi ngai ngái đặc trưng của tử khí.

Cánh cửa gỗ nặng nề rên rỉ khi bị đẩy ra, để lộ một khoảng không gian tối tăm, đặc quánh như hũ nút. Không khí bên trong lạnh lẽo, ẩm thấp dù ngôi nhà mới được xây một năm. Ánh đuốc trên tay Trần Hùng vừa hắt vào, xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Những cái bóng đen dài ngoằng, méo mó nhảy múa điên cuồng trên những vách tường.

"Ở kia bẩm quan..." Trần Hùng hạ giọng. Cánh tay gân guốc của Hùng chỉ lên phía xà nhà đen ngòm.

Giữa ánh sáng chập chờn, xác con Thắm treo lủng lẳng trên xà ngang đen đúa. Nó mặc bộ quần áo nâu sờn rách, thân hình gầy guộc đung đưa nhẹ theo gió lùa qua khe cửa. Đôi mắt nó mở trừng trừng, lưỡi thè dài tím tái, khuôn mặt vặn vẹo trong cơn đau đớn tột cùng của kẻ ngạt thở. Dưới chân cái xác, một chiếc ghế đẩu gỗ nằm lăn lóc.

Trần Hùng rút phắt con dao găm dắt bên hông, lưỡi thép sáng loáng phản chiếu ánh lửa đỏ quạch. Y sải bước định tiến tới, giọng khàn khàn đầy vẻ nôn nóng: "Để thuộc hạ cắt dây hạ nó xuống... Chứ để treo thế này tội nghiệp quá..."

"Trần Hùng! Dừng lại ngay!"

Tiếng quát của Nguyễn Duy vang lên đanh gọn và sắc lạnh đến mức khiến viên đội trưởng cũng phải giật bắn mình, khựng lại giữa chừng.

"Ta ra lệnh giữ nguyên cái xác!"

Nguyễn Duy xắn gọn tà áo lụa, cầm lấy cây đèn lồng từ tay một lính lệ, bước chậm rãi về phía cái xác.

Chàng cúi rạp người xuống, soi ngọn đèn sát mặt đất. Nền bếp là đất nện lâu năm, gồ ghề và ẩm thấp. Những lớp bụi dày phủ lên các vật dụng xung quanh là minh chứng rõ ràng cho việc căn bếp này đã vài ngày chưa được sử dụng. Sau trận mưa vài hôm trước, nước mưa hắt vào khiến mặt đất nhão nhoét, dính đầy bụi than. Thêm vào đó, đám lính lệ khi nãy chạy ùa vào đã giẫm đạp lung tung, để lại chi chít những dấu giày đinh, dấu chân trần lộn xộn in hằn chồng chéo lên nhau trên lớp bùn nhão nhoét.

Ánh mắt Nguyễn Duy di chuyển đến đôi bàn chân trần của con Thắm. Đôi chân buông thõng, cách mặt đất chừng hai gang tay. Lòng bàn chân đen nhẻm, bám đầy bùn đất và tro bếp.

Nguyễn Duy nheo mắt lại. Chàng lia ánh đèn sang chiếc ghế đẩu đang nằm chỏng chơ ngay bên cạnh. Theo lẽ thường của một kẻ treo cổ, nạn nhân phải đứng lên ghế, tròng dây vào cổ rồi mới đạp đổ ghế để tìm cái chết.

"Thầy Đề, Trần Hùng." Nguyễn Duy gọi khẽ, giọng trầm xuống đầy nguy hiểm. "Hai ngươi lại đây."

Trần Hùng và Thầy Đề Lĩnh rón rén bước lại gần.

"Các ngươi nhìn kỹ cái ghế này đi."

Viên đội trưởng và ông lão thư lại cúi xuống. Dưới ánh đèn vàng vọt, mặt ghế gỗ mun hiện lên bóng loáng và sạch trơn. Trừ vài hạt bụi li ti mới rơi xuống từ xà nhà, tuyệt nhiên không hề có một vệt bùn đất, tro than hay dấu chân bẩn nào in hằn lên đó.

Thầy Đề Lĩnh chỉnh lại gọng kính, ghé sát mắt vào nhìn rồi thốt lên: "Quái lạ thật! Nền nhà thì bẩn, chân con bé thì lấm lem, mà sao mặt ghế lại không có lấy một hạt bụi? Cứ như thể... nó chưa từng được ai giẫm lên vậy."

Nguyễn Duy ngẩng lên, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào hai người: "Thầy Đề nói phải lắm. Chân con bé bẩn như thế, nền nhà thì đất nhão nhoét. Nếu nó bước lên ghế, mặt ghế phải in hằn dấu chân bẩn. Nhưng cái ghế này... sạch sẽ như vậy."

Trần Hùng hỏi lại: "Ý quan là... nó không hề đứng lên ghế?"

"Phải. Con bé không đứng lên ghế." Nguyễn Duy đứng thẳng dậy, giọng lạnh băng. Không gian trong bếp bỗng chốc trở nên ngột ngạt đến khó thở.

Trần Hùng nhìn cái xác đung đưa, rồi lại nhìn cái ghế sạch trơn, trán lấm tấm mồ hôi dù trời đang lạnh: "Nếu không đứng lên ghế, thì làm sao nó lên được đó? Chẳng lẽ có một ai khác bế xốc nó lên rồi thắt cổ?"

"Có thể lắm". Nguyễn Duy đáp, ánh mắt đăm chiêu nhìn vào khoảng không vô định. "Kẻ này đã rất bình tĩnh và tỉ mỉ. Còn một trường hợp nữa, là hắn đã lau sạch cái ghế để xóa dấu vết chân, muốn ta tin rằng đây là một vụ giết người chăng?"

Chàng ngừng lại một chút, rồi tiếp tục: "Nhưng kẻ khôn ngoan đến mấy cũng có lúc sơ hở. Cái sơ hở thường đến từ những thói quen vô thức mà chính hắn cũng không nhận ra."

"Thói quen vô thức ạ?" Thầy Đề ngơ ngác hỏi.

Nguyễn Duy không trả lời thầy Đề, mà kiễng chân, giơ cao ngọn đèn soi lên cái nút thắt thòng lọng trên cổ nạn nhân và cả cái nút buộc dây treo trên xà nhà.

Cái nút thắt được buộc rất khéo, rất chắc chắn. Nhưng Nguyễn Duy phát hiện ra một điều bất thường. Vòng dây dư ra và hướng của nút thắt lại nằm về phía bên trái.

Chàng quay lại, nhìn Trần Hùng và làm một động tác giả định: "Trần Hùng, ngươi thử tưởng tượng xem. Nếu ngươi thuận tay phải, trong lúc hoảng loạn tìm đến cái chết, ngươi sẽ thắt nút dây thế nào?"

Trần Hùng đưa tay phải lên làm động tác thắt dây vào không khí: "Bẩm, thuộc hạ sẽ vòng dây từ trái qua phải, tay phải sẽ siết nút..."

"Chính xác". Nguyễn Duy ngắt lời, ngón tay trỏ vào cái nút thắt trên xà nhà. "Nhưng cái nút kia lại được thắt ngược lại. Vòng dây đi từ phải qua trái, nút siết nằm bên trái. Đây là nút buộc của một người thuận tay trái".

Nguyễn Duy hạ đèn xuống, cầm lấy bàn tay phải của nạn nhân, lật ngửa ra soi thật kỹ. Lòng bàn tay thô ráp, chai sạn dày cộp, đặc biệt là ở ngón trỏ và vùng khe giữa ngón cái và ngón trỏ trên mu bàn tay. Dấu tích của một người làm lụng vất vả, cầm dao, cầm chổi, xách nước.

"Tay phải con bé chai sạn thế này, chắc chắn nó thuận tay phải." Nguyễn Duy lẩm bẩm, giọng đanh lại đầy phẫn nộ. "Một kẻ thuận tay phải không thể trong lúc quẫn trí mà lại thắt một cái nút trái tay 'ngược đời' như thế được."

Nguyễn Duy quay lưng lại với cái xác, nhìn ra khung cửa sổ đen ngòm của gian bếp, nơi gió đang lùa vào hun hút.

"Kẻ giết người đã tính toán rất kỹ để dựng lên màn kịch tự sát này, hắn treo cái xác lên... nhưng hắn đã sơ suất hai điều: Hắn quên làm bẩn cái ghế, và hắn đã dùng chính thói quen tay trái của mình để thắt cái nút oan nghiệt kia."

Trần Hùng nuốt nước bọt, tay vô thức đặt lên cán kiếm: "Vậy... hung thủ là ai?"

"Là một kẻ thuận tay trái." Nguyễn Duy trả lời ngay, ánh mắt sắc lạnh không chút do dự.

Chàng quay sang đám lính lệ đang đứng khép nép ở cửa: "Các ngươi lục soát kỹ lại xung quanh căn bếp này một lần nữa cho ta. Soi kỹ từng ngóc ngách, xem có rơi rớt vật dụng gì hoặc có điều gì lạ không?."

Đám lính tuân lệnh, cầm đèn tản ra soi mói từng kẽ gạch, lật tung đống củi khô, sục sạo dưới gầm chạn bát đầy bụi. Nhưng sau một hồi tìm kiếm, tất cả đều lắc đầu. Ngoài lớp bụi dày và những dấu chân hỗn loạn vừa mới in lên, chẳng có gì khả nghi.

"Bẩm quan, không tìm thấy gì thêm ạ," một tên lính bẩm báo.

Nguyễn Duy gật đầu, nhưng đôi mày vẫn nhíu chặt. Chàng quay sang Thầy Đề Lĩnh, giọng trầm ngâm: "Vụ án này không đơn giản. Ta muốn tìm hiểu kỹ hơn về cái xác này, xem ngoài nút thắt trái tay và cái ghế sạch kia, cơ thể nạn nhân còn che giấu điều gì tố cáo kẻ thủ ác hay không. Nhưng tiếc là huyện nha ta lại chưa có ngỗ tác chuyên trách."

Thầy Đề Lĩnh chỉnh lại khăn xếp, gật đầu xác nhận: "Dạ bẩm quan, thú thật với quan, chục năm nay cái xứ này bình yên, chưa từng xảy ra vụ trọng án nào cần đến việc mổ xẻ, nghiệm thi cả... nên nha môn quả thực là không có biên chế này ạ."

Nguyễn Duy nghe vậy thì im lặng, tay phe phẩy chiếc quạt giấy. Bỗng đôi mắt chàng sáng lên như nhớ ra điều gì: "À, ta nhớ ra rồi! Ta có một người bạn tâm giao, là Phan Tiên Sinh. Ông ấy vốn là ngỗ tác lừng danh của Hình Bộ trên kinh thành, là bạn thân thiết của ta từ thuở hàn vi. Trong thư gửi tháng trước, ông ấy nói ngày mai sẽ ghé qua huyện đường thăm ta đàm đạo."

Chàng nhìn sang Thầy Đề, khóe môi nhếch lên một nụ cười nửa miệng đầy tự tin: "Đúng là thiên bất dung gian. Chỉ cần đợi đến sáng mai, khi Phan Tiên Sinh tới, ta sẽ nhờ ông ấy xem xét. Lúc đó, cái xác vô tri kia sẽ tự khắc nói ra sự thật."

Nguyễn Duy phất tay áo, ra lệnh dứt khoát: "Được rồi. Tất cả ra ngoài. Niêm phong kỹ căn bếp này lại, nội bất xuất ngoại bất nhập. Để con bé ở đó chờ Phan Tiên Sinh."

Cánh cửa gỗ mục nát từ từ khép lại, nhốt chặt lấy cái xác lạnh lẽo cùng những bí mật vào trong bóng tối. Đoàn người lục tục bước ra sân, ai nấy đều vội vã hít một hơi thật sâu, cố xua đi cái mùi tử khí ngột ngạt, ẩm mốc vừa ám vào tâm trí.

Đứng giữa sân gạch, Nguyễn Duy ngước mắt nhìn lên cây khế cổ thụ to lớn đang trùm bóng xuống cả một góc sân. Những chùm quả đung đưa trong đêm như những đôi mắt đang dõi theo. Trong đầu chàng lại hiện lên câu chuyện kỳ lạ mà Thầy Đề vừa kể. Tại sao một lão lái buôn tham lam lại đổi cả gia tài lấy cái cây khế này? Và tại sao người em lại dễ dàng chấp nhận sự giàu sang đột ngột đó? Vụ án mạng này, liệu có liên quan gì đến cuộc "trao đổi nhà" kỳ lạ của hai anh em nhà này không?

Đang mải suy nghĩ, ánh mắt Nguyễn Duy vô tình lướt qua bức tường ngăn cách hai nhà. Bỗng nhiên, từ bên hành lang của dinh cơ to lớn, thầy đồ Hiếu bước ra, dáng vẻ nho nhã trong bộ áo dài. Ánh đèn lồng treo trước hiên hắt xuống khuôn mặt thanh tú của thầy một mảng sáng tối chập chờn.

Hiếu không nhìn thẳng vào quan huyện Nguyễn Duy ngay. Đôi mắt thầy, dù cố tỏ ra bình thản, vẫn không giấu được nét lo âu, cứ nhìn liên hồi về phía cánh cửa gỗ của gian bếp phía nhà đối diện, nơi đang bị lính niêm phong canh gác kín mít.

"Bẩm quan.." Hiếu cất tiếng, giọng trầm và khẽ, mang theo vẻ mệt mỏi. "Thảo dân thấy lính tráng đi lại rầm rập từ chiều, không biết... chuyện con Thắm bên nhà chị Mận thế nào rồi ạ? Liệu có phải là..."

Nguyễn Duy đứng giữa sân, tay phe phẩy chiếc quạt giấy dù trời đã lạnh, ánh mắt sắc sảo quan sát từng biểu cảm nhỏ nhất trên gương mặt người thầy đồ. Chàng đáp lại bằng một giọng điệu thản nhiên đến lạ lùng: "Nha môn vẫn đang điều tra, thầy Hiếu ạ. Cái chết của nó có nhiều điểm uẩn khúc, chưa thể kết luận vội vàng được."

"Dạ... mong quan lớn sớm tìm ra manh mối để vong linh người đã khuất được siêu thoát." Hiếu cúi đầu, giọng chùng xuống đầy vẻ xót xa. "Tội nghiệp con bé, năm nay mới mười sáu tuổi đầu mà phận đời hẩm hiu. Nó vốn mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lưu lạc đến đây xin vào làm cho anh chị của thảo dân. Vợ chồng thảo dân ở sát vách, thấy nó ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó nên cũng thương nó như em gái trong nhà. Nào ngờ..."

Nguyễn Duy bước tới gần bờ tường ngăn cách, nhìn thẳng vào Hiếu: "Mà giờ này đã quá canh ba, sương xuống lạnh thế này, sao thầy còn chưa nghỉ ngơi? Hay là tiếng ồn ào bên này làm thầy mất giấc ngủ?"

Hiếu vội xua tay, nụ cười hiền lành thường trực lại nở trên môi: "Dạ bẩm không dám trách quan. Chẳng là thảo dân đang cùng vợ và mấy người làm thức để kiểm kê lại gia sản, soạn sẵn tiền, bạc nén... Đặng sáng mai còn kịp mang ra đền bù cho các chủ nợ thay cho anh Tham. Lời đã hứa trước công đường, thảo dân không dám chậm trễ."

Nguyễn Duy gật gù: "Thầy quả là người trọng chữ tín, hiếm có, hiếm có."

Lời khen của quan huyện nghe thì êm tai, nhưng trong đầu Nguyễn Duy lúc này lại đang quay cuồng những suy tính. Một người em chấp nhận đổi nhà bé lấy nhà to, giờ lại chuẩn bị đem cả gia sản để trả nợ cho người anh tham lam đã bỏ trốn. Mọi chuyện nghe qua thì thật cảm động, đầy nghĩa khí, nhưng dưới con mắt của một vị quan đã từng xử qua bao vụ án, nó lại quá... hoàn hảo. .

"Thầy Hiếu này," Nguyễn Duy đột ngột đổi giọng, thân tình hơn. "Nghe chuyện thầy xả thân vì nghĩa, ta cảm kích lắm. Tiện đây ta cũng có chút chuyện thắc mắc về gia cảnh và mối quan hệ giữa hai anh em thầy, muốn hỏi riêng thầy một chút. Không biết thầy có tiện mời ta sang nhà không?"

Thầy đồ Hiếu thoáng chút bối rối. Ánh mắt thầy đảo nhanh về phía cửa chính đang đóng kín của nhà mình.

"Sao? Thầy có điều gì khó xử à?" Nguyễn Duy nheo mắt hỏi.

"Dạ... dạ không dám!" Hiếu giật mình, vội vàng chắp tay, lấy lại vẻ cung kính. "Được quan lớn ghé thăm là vinh dự cho thảo dân. Chỉ sợ nhà cửa bừa bộn, thất lễ với quan. Mời quan lớn sang ạ."

Nguyễn Duy mỉm cười hài lòng. Chàng quay lại phía sau, nhìn Thầy Đề Lĩnh đang đứng co ro vì lạnh và ngáp ngắn ngáp dài.

"Thầy Đề này."

"Dạ bẩm quan."

"Thầy tuổi đã cao, sương gió thế này không tiện. Thầy cứ theo xe ngựa về nha môn nghỉ ngơi trước đi. Sáng mai hẵng quay lại cùng Phan Tiên Sinh."

Thầy Đề Lĩnh nghe được về ngủ thì mừng như bắt được vàng, vội vàng cúi đầu: "Đa tạ quan lớn thương tình. Lão già này xương cốt rệu rã quá rồi. Vậy lão xin phép về trước ạ."

Đợi Thầy Đề lụm cụm leo lên xe ngựa đi khuất, Nguyễn Duy mới quay sang Đội trưởng Trần Hùng, gương mặt trở nên nghiêm nghị, đanh thép: "Trần Hùng! Ngươi ở lại đây."

"Có thuộc hạ!"

"Ta giao cho ngươi nhiệm vụ phân công lính phụ trách canh gác tuyệt mật căn nhà này. Tuyệt đối không để bất cứ ai bén mảng đến gần gian bếp. Ngươi phải cắt cử người thức trắng đêm nay mà canh cho ta. Nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra, ta sẽ lấy đầu nhà ngươi!"

"Thuộc hạ tuân lệnh! Xin quan lớn yên tâm!" Trần Hùng dập gót giày, tay nắm chặt cán kiếm, lập tức quay sang điều động đám lính lệ dàn trận canh gác, bản thân y thì đứng sừng sững như một pho tượng hộ pháp trước cửa nhà bà Mận.

Sắp xếp xong xuôi, Nguyễn Duy chỉnh lại tà áo, ung dung bước qua cổng ngách, tiến vào sân gạch rộng thênh thang của dinh cơ nhà thầy đồ Hiếu.
 
Sửa lần cuối:
Chương 3 (2)

Bước qua cánh cửa gỗ lim chạm trổ cầu kỳ, Nguyễn Duy theo chân thầy đồ Hiếu tiến vào bên trong dinh cơ. Không gian ở đây hoàn toàn trái ngược với vẻ lạnh lẽo chết chóc ở căn nhà nhỏ bên cạnh.

Khi đi ngang qua gian chính, bước chân của quan huyện khẽ chậm lại. Dưới ánh đèn dầu sáng trưng, một nhóm người gồm cả phụ nữ và gia nộm đang cặm cụi phân loại những đống bạc nén trắng lóa, những thếp giấy tờ nhà đất và vài món đồ cổ quý giá bày la liệt trên sập gụ.

Thấy ánh mắt tò mò của quan, Hiếu vội thưa: "Dạ bẩm, kia là nhà tôi cùng đám người làm đang gấp rút soạn tài sản ra, phân loại đâu ra đó, để sáng mai kịp mang đi đền bù trả nợ cho anh chị Tham đấy ạ."

Nguyễn Duy gật đầu, rồi tiếp tục bước theo Hiếu vào thư phòng bên trong. Mùi trầm hương thoang thoảng quyện với mùi giấy mực tạo nên một không khí thanh tao, nhưng lại khiến người ta cảm thấy ngột ngạt bởi sự sang trọng quá mức cần thiết. Những cây cột gỗ lim bóng loáng, những bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng treo trang trọng trên tường, tất cả đều toát lên sự giàu có của chủ nhân cũ.

Nguyễn Duy ngồi trên chiếc ghế trắc, tay nâng chén trà nóng, ánh mắt lướt qua bộ ấm chén sứ Giang Tây đắt tiền.

"Trà ngon, ấm đẹp, nhà cao cửa rộng." Nguyễn Duy chậm rãi đặt chén trà xuống, giọng nói nhẹ nhàng. "Ta mới về đây nhậm chức chưa lâu, nhưng tiếng thơm về thầy Hiếu thì đã nghe dân làng ca tụng nhiều. Nghe kể bao năm qua mở lớp dạy chữ cho trẻ nghèo trong làng mà tuyệt nhiên không lấy một đồng học phí nào. Cái tâm ấy thật đáng quý."

Hiếu cúi đầu đáp lễ, vẻ mặt thoáng chút tự hào: "Dạ bẩm quan quá khen, trẻ con nghèo đói đã khổ, nếu còn mù chữ thì càng khổ hơn. Thảo dân giúp được chút nào hay chút nấy, đó cũng là bổn phận của kẻ sĩ thôi ạ."

"Có tâm như vậy là tốt." Nguyễn Duy mỉm cười, nhưng rồi giọng bỗng đổi sắc đầy hàm ý. "Thầy Hiếu ạ, người ta bảo 'an bần lạc đạo', nhưng nhìn cơ ngơi này, ta thấy thầy dường như đã 'lạc' vào chốn phồn hoa hơi sâu rồi đấy."

Hiếu ngồi đối diện, hai tay chắp lại để trên đùi, vẻ mặt vẫn giữ nét khiêm cung: "Bẩm quan, thảo dân nào dám mơ tưởng đến những thứ xa hoa này. Đây vốn là tâm huyết cả đời của anh trai tôi. Anh chị tôi muốn tìm sự thanh tịnh, tin vào phong thủy nên mới đổi nhà sang bên kia. Thảo dân phận làm em, anh chị giao cho trông coi thì phải giữ gìn, chứ lòng vẫn chỉ mong ngày ngày dạy chữ thánh hiền thôi ạ."

"Phong thủy à?" Duy cười nhạt. "Lão Tham là con buôn lọc lõi. Vậy mà lão chịu đổi dinh cơ này lấy cái mảnh đất bé tí và một cây khế già. Trừ khi... cái cây khế đó có giá trị gấp vạn lần ngôi nhà này?"

Hiếu thoáng khựng lại, ánh mắt hơi dao động nhưng rất nhanh lấy lại bình tĩnh: "Dạ... chuyện đó thảo dân cũng không rõ. Có lẽ anh chị của thảo dân tin vào mấy lời đồn đại về vận may của phong thuỷ chăng?"

Nguyễn Duy không buông tha, chàng chồm người tới trước: "Thế còn số bạc nén thầy định mang ra trả nợ ngày mai? Một thầy đồ dạy học, lấy đâu ra lắm tiền thế? Lại là lộc của vị 'phú ông' bí ẩn nào đó sao?"

Hiếu thoáng chút ngạc nhiên, ngẩng đầu lên nhìn quan huyện: "Ồ, chuyện về vị phú ông hào phóng đó mà quan lớn cũng biết sao? Dạ bẩm đúng là như vậy..."

Nguyễn Duy phe phẩy chiếc quạt giấy, mỉm cười đáp: "Thầy Đề Lĩnh là người tinh tường mọi chuyện trong cái làng này, lão ấy đã kể ngọn ngành cho ta nghe rồi."

Hiếu gật đầu, giọng trầm xuống: "Dạ vâng, ngoài tiền tích cóp bao năm, thảo dân may mắn được vị phú ông ấy thương tình giúp đỡ thêm. Thấy anh chị gặp nạn, thảo dân không thể khoanh tay đứng nhìn."

Thấy Hiếu trả lời trơn tru, Nguyễn Duy biết những câu hỏi này chưa thể làm khó được thầy đồ này. Chàng định mở miệng truy vấn thêm về lai lịch, gốc gác của vị phú ông bí ẩn kia xem thực hư thế nào, thì Hiếu bỗng vỗ trán một cái, vẻ mặt đầy hối lỗi cắt ngang: "Chết thật! Mải hầu chuyện quan lớn mà thảo dân quên khuấy mất đạo đãi khách. Khách quý đến nhà là phải có trà ngon chứ."

Nói đoạn, Hiếu quay ra phía cửa, nói lớn vọng xuống nhà dưới: "Mình ơi! Pha ấm trà sen mới, bưng lên đây mời quan lớn mau!"

Trong lúc Hiếu đang ngoái cổ gọi vợ, Nguyễn Duy tranh thủ đảo mắt quan sát căn phòng một lượt, và ánh mắt chàng dừng lại ở chiếc bàn viết lớn đặt gần cửa sổ. Trên mặt bàn gỗ trắc bóng loáng, một bộ bút lông và nghiên mực Tàu thượng hạng được bày biện ngay ngắn. Điều đáng chú ý là cả bút và nghiên đều được đặt ở phía bên tay phải của người ngồi.

“Sắp đặt thế kia... là thói quen của người thuận tay phải.”

Nguyễn Duy thầm nghĩ, nhưng chàng vẫn muốn kiểm chứng tận mắt, không thể chỉ dựa vào vật vô tri. Chàng đứng dậy, bước chậm rãi đến trước chiếc bàn viết.

"Nghe danh thầy Hiếu viết chữ đẹp như rồng bay phượng múa đã lâu." Nguyễn Duy đổi giọng, tỏ vẻ ngưỡng mộ. "Đêm nay tâm trạng ta có chút xáo động vì vụ án mạng. Tiện đây có bút nghiên sẵn, ta muốn xin thầy hai chữ 'Tâm An' để treo ở huyện đường, coi như là lời răn dạy cho bản thân."

Hiếu có chút bất ngờ trước lời đề nghị, nhưng sĩ diện của kẻ sĩ khiến Hiếu không thể từ chối. Hiếu đứng dậy, bước tới bên bàn: "Được quan lớn quá khen, thảo dân xin múa rìu qua mắt thợ."

Nguyễn Duy nín thở, đôi mắt không chớp lấy một giây, ghim chặt vào đôi bàn tay của người đối diện. Không gian trong thư phòng tĩnh lặng đến mức chàng nghe rõ cả tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Đây chính là khoảnh khắc quyết định. Cái nút thắt oan nghiệt bên kia được tạo ra bởi một kẻ thuận tay trái. Chỉ cần Hiếu đưa tay trái ra cầm bút, hắn sẽ là nghi phạm lớn nhất.

Hiếu từ từ đưa tay ra. Ban đầu, bàn tay trái của Hiếu khẽ động đậy, vươn về phía nghiên mực. Nguyễn Duy nín thở, bàn tay siết chặt lấy chuôi quạt giấy. Là tay trái!

Nhưng bàn tay trái ấy chỉ lướt qua nghiên mực để chỉnh lại tờ giấy dó cho ngay ngắn. Ngay sau đó, Hiếu thong thả dùng tay trái vén tay áo dài bên phải lên, để lộ cổ tay trắng trẻo thư sinh. Ánh mắt Nguyễn Duy lập tức ghim chặt vào ngón tay giữa của bàn tay phải đang giơ ra. Ở đó, một vết chai sần dày cộp, ngả màu vàng ố hiện ra rõ mồn một, dấu tích không thể chối cãi của một người cầm bút lâu năm bằng tay phải.

Và rồi, bàn tay phải ấy cầm lấy thỏi mực tàu, ấn mạnh xuống nghiên đá. Từng vòng xoay đều đặn, lực từ cổ tay phát ra mạnh mẽ và dứt khoát.

Mài mực xong, Hiếu lại dùng chính tay phải ấy nhấc cây bút lông lên, chấm đẫm mực, rồi phóng bút viết lên trang giấy dó trắng tinh hai chữ "Tâm An" bằng lối chữ Khải thư nắn nót, bay bổng.

Nguyễn Duy đứng chết lặng. Thầy Hiếu... thuận tay phải?

Phép thử của chàng coi như không thành. Cái nút thắt ở hiện trường rõ ràng là của người thuận tay trái, hoặc ít nhất là người có thói quen dùng tay trái cực tốt. Nhìn cách Hiếu vận bút, lực tay phải mạnh mẽ, cộng thêm vết chai sần đặc trưng kia, không thể là giả được. Hiếu là người thuận tay phải bẩm sinh.

Vậy thì nút thắt trái tay kia là do ai làm? Manh mối này vốn dĩ là chìa khóa để giải mã những điều bất thường về cái chết của con Thắm, nay lại trở nên vô nghĩa.

Hiếu buông bút, ngẩng lên nhìn Duy, thấy vẻ mặt thất thần của quan huyện thì khẽ hỏi: "Thưa quan lớn... chữ của thảo dân có chỗ nào chưa đạt sao?"

Nguyễn Duy giật mình, vội che giấu sự bối rối: "À... không. Chữ đẹp. Rất có thần. Thầy viết nét chữ cứng cáp, uy lực lắm."

Nguyễn Duy vừa nói, ánh mắt sắc sảo vẫn dán chặt vào đôi tay của người thầy đồ. Chợt, ánh mắt chàng khựng lại khi thấy trên mu bàn tay trái của Hiếu, lấp ló dưới mép tay áo dài, có một vệt trắng mờ nhạt.

"Khoan đã!" Nguyễn Duy bất ngờ vươn tay, nắm lấy cổ tay trái của Hiếu kéo ra ánh đèn. "Vết sẹo này là thế nào?"

Hiếu thoáng chút giật mình, nhưng rồi mỉm cười chua chát: "Quan lớn tinh tường quá. Đó là dấu tích ngày xưa bị cha thảo dân vụt bằng roi mây đến tóe máu vì cái tội cầm bút tay trái đấy ạ. Đòn roi riết rồi thành quen, cái tật tay trái cũng bỏ được, giờ nó chỉ còn là vật làm cảnh thôi."

Nguyễn Duy soi thật kỹ vết sẹo trắng mờ chạy dài qua mu bàn tay. Dấu tích của những trận đòn roi năm xưa hằn sâu vào da thịt. Mọi thứ dường như quá hợp lý, không một kẽ hở.

Đúng lúc đó, cánh cửa kẽo kẹt mở, phá tan bầu không khí căng thẳng. Một người phụ nữ dáng người mảnh khảnh, cúi mặt e lệ bưng khay trà bước vào. Đó là nàng Sen. Nàng nhẹ nhàng đặt khay trà xuống bàn, hương sen thơm ngát tỏa ra dìu dịu.

Nguyễn Duy buông tay Hiếu ra, gật đầu chào xã giao: "Chào phu nhân."

Nàng Sen không đáp, đôi mắt vẫn nhìn xuống đất, chỉ khẽ gật đầu chào lại một cách rụt rè rồi lùi ra đứng nép sau lưng chồng.

Hiếu vội đỡ lời, giọng đầy vẻ thương cảm: "Mong quan lớn thứ lỗi. Nhà tôi bị câm bẩm sinh nên không thưa gửi được với quan."

Nguyễn Duy "À" lên một tiếng, ánh mắt thoáng chút ngạc nhiên pha lẫn thương cảm, nhưng rồi lại nhanh chóng trở về vẻ đăm chiêu. Một người chồng thư sinh nho nhã, một người vợ câm lặng lẽ, sống trong một dinh cơ rộng lớn đầy bí ẩn.

Nguyễn Duy cầm tờ giấy mực còn chưa ráo hẳn, bước quay lại bàn trà. Chàng ngồi xuống, vừa thong thả nhấp một ngụm trà sen thơm ngát, vừa đăm chiêu nhìn vào những nét chữ "Tâm An" trên mặt giấy. Lòng chàng đầy hoang mang khi manh mối quan trọng nhất về cái nút thắt trái tay vừa bị sụp đổ hoàn toàn. Chàng đặt chén trà xuống, định lên tiếng cáo từ ra về thì Hiếu bỗng lên tiếng, giọng đầy vẻ lo lắng:

"Bẩm quan... thảo dân có điều này muốn hỏi, dù biết là hơi đường đột."

"Thầy cứ hỏi."

Hiếu nhìn ra cửa sổ, nơi hướng về phía nhà giam huyện đường: "Chị Mận nhà tôi... tính tình tuy có chút chua ngoa, đanh đá nhưng bản chất không ác. Nay xảy ra chuyện con Thắm chết trong nhà, lại thêm chuyện anh Tham bỏ trốn, chị ấy bị bắt giam... Không biết liệu chị ấy sẽ bị... khép tội ra sao ạ?"

Nguyễn Duy nheo mắt nhìn Hiếu. "Thầy yên tâm." Chàng đáp nước đôi, cố lấy lại sự sắc bén. "Pháp luật công minh. Nhưng nếu bà ấy có liên quan, hoặc... bà ấy biết ai là hung thủ thực sự mà che giấu, thì tội cũng không nhẹ đâu."

Hiếu nghe xong, cúi gằm mặt xuống, chắp tay khẩn khoản: "Dạ... thảo dân biết chị Mận dại dột, nhưng xin quan lớn niệm tình chị ấy là đàn bà, chồng lại bỏ đi biệt tích, vì sợ hãi quá độ mà sinh ra hồ đồ. Cầu xin quan lớn giơ cao đánh khẽ…"

Nguyễn Duy cuộn tờ giấy lại, gật đầu mỉm cười nhạt: "Thôi, khuya rồi, ta không làm phiền thầy nữa. Thầy cứ tiếp tục công việc đi. Ta chỉ mong thầy nhớ cho một điều, giấy không gói được lửa, sự thật trước sau gì cũng sẽ phơi bày."

Dứt lời, Nguyễn Duy bước ra khỏi dinh cơ to lớn, để lại Hiếu và nàng Sen đứng trơ trọi giữa thư phòng rộng lớn.

Ra đến sân, gió lạnh từ biển thổi vào làm Nguyễn Duy tỉnh táo hơn sau chén trà nóng. Chàng không vội về ngay mà rảo bước sang phía căn nhà gạch nhỏ tối om đang bị phong tỏa.

Đội trưởng Trần Hùng thấy quan huyện tới thì vội bước ra nghênh đón: "Bẩm quan, mọi sự vẫn yên tĩnh. Thuộc hạ đã cho lính canh gác nghiêm ngặt, con ruồi cũng không lọt qua được."

Nguyễn Duy gật đầu hài lòng: "Tốt lắm. Ngươi cứ tiếp tục canh giữ. Sáng mai khi Phan Tiên Sinh đến, ta sẽ quay lại ngay."

Vừa dứt lời thì tiếng bánh xe nghiến trên đường gạch vang lên lộc cộc. Chiếc xe ngựa quan nha sau khi đưa Thầy Đề về huyện đường đã quay trở lại đón chàng.

Nguyễn Duy bước lên xe, tấm rèm buông xuống che khuất đi khung cảnh hai ngôi nhà tréo ngoe dưới ánh trăng mờ. Chiếc xe lăn bánh, để lại làng Vọng Khê chìm trong bóng đêm.

Ngồi trong xe, Nguyễn Duy nhắm mắt lại, ngón tay gõ nhẹ lên đùi theo nhịp lắc lư của cỗ xe. Trong đầu chàng lúc này như một mớ tơ vò.

"Những thứ đã xảy ra..." Duy lẩm bẩm, tay xoa nhẹ lên thái dương đang giật liên hồi. "Cái chết của con Thắm đầy những điểm nghi vấn. Liệu có kẻ nào đó đã giết nó rồi tạo hiện trường giả như nó tự tử? Hay thực chất nó tự tìm đến cái chết, nhưng lại có kẻ nào đó làm ra vẻ là nó bị giết? Dù trường hợp nào đi nữa, chắc chắn đã có người can thiệp vào hiện trường cái chết. Nhưng mục đích để làm gì?”

Rồi lại đến chuyện hoán đổi nhà cửa kỳ lạ giữa hai anh em nhà này. Một người tham lam bỗng dưng chịu thiệt, một kẻ thanh cao lại chấp nhận hưởng thụ. Quá nhiều điều bí ẩn chồng chéo lên nhau. Và dường như, mọi manh mối, mọi toan tính, tất cả đều bắt đầu xoay quanh cái cây khế cổ thụ và lời đồn về con chim thần kia.

Những bí ẩn về gia đình này, về sự hoán đổi nhà cửa, về cái chết của con hầu gái... dường như vẫn còn nằm trong một màn sương dày đặc mà chàng chưa thể vén lên được. Càng nghĩ, đầu óc Nguyễn Duy càng như muốn nổ tung vì những mâu thuẫn không lời giải.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
whatever_we_are_loser,
Trả lời
235
Lượt xem
13.437
Quay lại
Lên đầu trang