Ăn Khế Trả Vàng

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Một lần lướt tiktok, thấy một clip hài khá vui, trong vai ông quan đang tra hỏi về việc "vàng có từ chim thần". Nên mình viết bộ này, theo thể loại trinh thám (lần đầu theo thể loại này)
Các tác phẩm cũ của mình
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Mợ Cả

List chương:
Chương 1 (1)
Chương 1 (2)
Chương 2 (1)
Chương 2 (2)
Chương 3 (1)
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9 (1)
Chương 9 (2)
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13 (1)
Chương 13 (2)
Chương 14 (1)
Chương 14 (2)
Chương 15 (1)
Chương 15 (2)
Chương 16 END (1)
Chương 16 END (2)

DONE bộ này
An Khe Tra Vang-0aaa1.webp
 
Sửa lần cuối:
Hiếu thoáng chút giật mình, nhưng rồi mỉm cười chua chát: "Quan lớn tinh tường quá. Đó là dấu tích ngày xưa bị cha thảo dân vụt bằng roi mây đến tóe máu vì cái tội cầm bút tay trái đấy ạ. Đòn roi riết rồi thành quen, cái tật tay trái cũng bỏ được, giờ nó chỉ còn là vật làm cảnh thôi."
Bỏ tật viết tay trái chứ đâu có nói là bỏ thắt nút bằng tay trái đâu nhỉ :shame:
 
Bỏ tật viết tay trái chứ đâu có nói là bỏ thắt nút bằng tay trái đâu nhỉ :shame:
Sợ làm mất hứng bác nhưng em kết luận 96,69% không thể là Hiếu, do motif trinh thám thường sẽ hướng bác đến suy luận như thế. Sẽ có cú twist cực mạnh mà em cũng không đoán được. Bác đội cái mũ bảo hiểm vào :burn_joss_stick:
 
Sợ làm mất hứng bác nhưng em kết luận 96,69% không thể là Hiếu, do motif trinh thám thường sẽ hướng bác đến suy luận như thế. Sẽ có cú twist cực mạnh mà em cũng không đoán được. Bác đội cái mũ bảo hiểm vào :burn_joss_stick:
Đúng rồi bác, thường motif trinh thám là cho mấy cái dữ kiện lắt nhắt như này rồi lái hẳn sang một người khác mà mình không ngờ tới mà :giggle:
 
Tôi cũng không muốn làm độc giả hay tác giả mất hứng, nhưng xin phép cứ nêu ngu ý của tôi.
Ban đầu có thể Hiếu có bịa ra chuyện con chim, mục đích để hợp thức hoá 1 khoản tiền vô lý nào đó mà anh ta có được, về sau thì được đổi nhà.
Việc ông Tham biến mất có thể do ông này dính nợ nần thua lỗ, ôm tiền trốn thật, con Thắm bị giết cũng có thể bởi ông Tham, vì nó lỡ phát hiện ra bí mật nào đó :D
 
Tôi cũng không muốn làm độc giả hay tác giả mất hứng, nhưng xin phép cứ nêu ngu ý của tôi.
Ban đầu có thể Hiếu có bịa ra chuyện con chim, mục đích để hợp thức hoá 1 khoản tiền vô lý nào đó mà anh ta có được, về sau thì được đổi nhà.
Việc ông Tham biến mất có thể do ông này dính nợ nần thua lỗ, ôm tiền trốn thật, con Thắm bị giết cũng có thể bởi ông Tham, vì nó lỡ phát hiện ra bí mật nào đó :D
Thế thì bác phải giải thích được chi tiết cả 2 ông bà với con Thắm đều thấy con chim, nói chung mạch truyện vẫn đang khá rối nên khá khó dự đoán
 
Thế thì bác phải giải thích được chi tiết cả 2 ông bà với con Thắm đều thấy con chim, nói chung mạch truyện vẫn đang khá rối nên khá khó dự đoán
Con chim thì tôi vẫn đoán từ đầu do thầy Hiếu tạo ra đó bác, kiểu như làm 1 cái khung lớn, ra 1 con chim giả và giật dây. Mục đích để đổi nhà hoặc hợp thức 1 khoản tiền nào đó thầy mới có được không hợp pháp :D
 
đôi lời gửi đến các bác.Đây là lần đầu mình thử sức với thể loại điều tra này, nên có thể sẽ có vài lỗi logic bị sai, nếu các bác theo dõi, thấy được thì cứ chỉ ra, mình sẽ sửa lại.
Phần nữa, là chỉ mới ở giai đoạn đầu, mọi người sẽ thấy bị rối, do là đang theo góc nhìn của quan Nguyễn Duy, mọi thứ cứ chồng chéo lên nhau, chính ổng còn nhức đầu nữa mà :3
 
Con chim thì tôi vẫn đoán từ đầu do thầy Hiếu tạo ra đó bác, kiểu như làm 1 cái khung lớn, ra 1 con chim giả và giật dây. Mục đích để đổi nhà hoặc hợp thức 1 khoản tiền nào đó thầy mới có được không hợp pháp :D
Một giả thuyết khá hay, mọi người nhớ lại, chim xuất hiện tổng cộng 3 lần. 2 lần đầu thì trong hoàn cảnh sương mây mù, đêm trăng lờ mờ. Lần 3, chỉ có tiếng vỗ cách, bà Mận thì nằm trong phòng, chỉ có lão Tham là ra ngoài sân.
Mà biết đâu là chim của Dương Cụt, đang đi tìm Cô Long :D
 
đôi lời gửi đến các bác.Đây là lần đầu mình thử sức với thể loại điều tra này, nên có thể sẽ có vài lỗi logic bị sai, nếu các bác theo dõi, thấy được thì cứ chỉ ra, mình sẽ sửa lại.
Phần nữa, là chỉ mới ở giai đoạn đầu, mọi người sẽ thấy bị rối, do là đang theo góc nhìn của quan Nguyễn Duy, mọi thứ cứ chồng chéo lên nhau, chính ổng còn nhức đầu nữa mà :3
Thực sự anh em có cái đọc và bàn luận cho vui là cũng sướng lắm rồi bác.
Phim ra rạp còn có sạn, sao tránh khỏi được.
Nhưng theo em thì bác cố gắng phác hết khung logic, mạch truyện ra, rồi viết bám theo thôi thì sẽ ít sạn phi logic.
Chẳng may anh em đoán đúng thì anh em cũng vui.
Lần đầu đọc truyện của bác, có đôi lời gửi bác thôi, rất cảm ơn bác đóng góp 1 câu truyện hay và tiềm năng :D
 
Một giả thuyết khá hay, mọi người nhớ lại, chim xuất hiện tổng cộng 3 lần. 2 lần đầu thì trong hoàn cảnh sương mây mù, đêm trăng lờ mờ. Lần 3, chỉ có tiếng vỗ cách, bà Mận thì nằm trong phòng, chỉ có lão Tham là ra ngoài sân.
Mà biết đâu là chim của Dương Cụt, đang đi tìm Cô Long :D
chính xác, tôi đã đọc lại đoạn này trước khi mạnh dạn chém gió. Con chim không kêu không nói, chỉ đập cánh quạt gió trong đêm trăng lờ mờ.
Mà giả sử nó là 1 con chim to vãi cả to đến ăn khế thật đi, thì cũng chưa có gì đảm bảo nó chở đi lấy vàng cả. Tất cả chỉ là lời ông Tham về kể với vợ thôi
 

Chương 4​

Sáng sớm, sương mù vẫn còn vương vấn trên những mái ngói cong vút của huyện đường Hoằng Hóa. Không gian tĩnh mịch, chỉ có tiếng chim sẻ rích rích trên tàng cây đa cổ thụ ngoài sân. Trong thư phòng, ngọn đèn dầu đã cạn dầu từ lâu, để lại một vệt muội đen trên bóng thủy tinh.

Quan huyện Nguyễn Duy vẫn ngồi bất động trước án thư. Đêm qua, chàng từ làng Vọng Khê trở về khi gà đã gáy canh tư, nhưng chợp mắt chưa được bao lâu thì những hình ảnh về cái xác treo cổ lại dựng chàng dậy. Khuôn mặt tuấn tú của vị quan trẻ giờ đây lộ rõ vẻ hốc hác, đôi mắt thâm quầng, vằn lên những tia máu đỏ.

Ngồi ngay cạnh chàng, trên một chiếc chõng tre nhỏ kê tạm, là Thầy Đề Lĩnh. Ông lão đang gà gật, cái đầu bạc cứ gục xuống rồi lại giật lên thon thót. Thấy Nguyễn Duy day day thái dương, Thầy Đề giật mình tỉnh hẳn, vội vàng rót một chén nước vối nóng hổi, hai tay run run dâng lên: “Bẩm quan lớn, quan uống ngụm nước cho ấm bụng. Cả đêm qua quan thức trắng rồi, cứ đà này thì đổ bệnh mất. Hay là quan cứ chợp mắt một chút, vụ án này để... để lát nữa tính tiếp ạ.”

Duy đỡ lấy chén nước, mỉm cười cảm kích nhìn người thư lại già: “Ta không sao đâu thầy Đề. Chỉ là những manh mối này cứ nhảy múa trong đầu, không tài nào ngủ được. Chuyện hai em nhà lão Tham và thầy Hiếu, rồi cái chết của con Thắm, một cái ghế sạch bong, và một nút thắt trái tay...”

Thầy Đề Lĩnh chép miệng, tháo cặp kính lão xuống lau vào vạt áo: “Lão sống ở cái huyện này mấy chục năm, chưa thấy vụ nào kỳ quái như vụ nhà bà Mận. Mà cái giống đời, càng cố nghĩ thì càng rối, quan ạ.”

Ông lão ngừng lại một chút, giọng hạ thấp xuống như đang kể chuyện ma, vẻ mặt đầy bí hiểm: “Quan cứ ngẫm mà xem, ngay từ cái gốc rễ gia đình nhà ấy đã trái khoáy rồi. Xưa nay người ta chỉ thấy anh em tranh giành nhau tấc đất tấc vàng, chứ ai đời lại đi đổi ngược đời như thế. Lão Tham thì nổi tiếng tham lam, lọc lõi, đang ở dinh cơ bề thế, đùng một cái lại nằng nặc đòi đổi xuống cái mảnh đất nhỏ xíu của chú em Hiếu. Bà Mận thì la ầm lên là vì con chim thần, chim thánh gì đó ăn khế trả vàng. Rồi giờ thì sao? Ông anh mất tích biệt tăm, để lại đống nợ. Bà chị dâu thì hóa điên hóa dại, còn con người ở thì treo cổ chết tức tưởi. Đúng là... phúc đâu chưa thấy, chỉ thấy họa vô đơn chí.”

“Bẩm quan lớn!”

Tiếng gọi của lính lệ phá tan bầu không khí tĩnh lặng. Một tên lính bước vào, cúi đầu bẩm báo: “Dạ, có khách từ kinh thành về thăm quan ạ. Xe ngựa vừa tới ngoài cổng.”

Đôi mắt lờ đờ của Duy bỗng sáng lên. Chàng đứng phắt dậy, vội vàng chỉnh lại vạt áo và khăn xếp cho ngay ngắn. Thầy Đề Lĩnh cũng lật đật đứng dậy theo, chỉnh lại cái khăn đóng xộc xệch.

“Là Phan Tiên Sinh phải không? Mau, mau mời vào phòng khách!” Duy nói giọng khấp khởi.

Chàng quay sang Thầy Đề: “Thầy Đề ơi, pha ấm trà mới đi, Phan Tiên Sinh là bạn tâm giao của ta, cũng là ngỗ tác lừng danh, có ông ấy giúp sức thì vụ án này ắt sẽ có lời giải.”

Thầy Đề nghe vậy thì mừng rỡ: “Dạ, để lão đi pha ngay. Trà Thái Nguyên loại ngon nhất huyện mình còn cất trong hũ sành đấy ạ.”

Thế nhưng, khi vừa bước chân qua ngưỡng cửa phòng khách, nụ cười rạng rỡ trên môi Nguyễn Duy vụt tắt, đông cứng lại thành một biểu cảm sững sờ pha lẫn khó chịu. Thầy Đề Lĩnh đi ngay phía sau, tay bưng khay trà nóng hổi, cũng khựng lại vì bầu không khí ngột ngạt đến khó thở.

Trong căn phòng khách đơn sơ của huyện nha, không chỉ có một mình Phan Tiên Sinh.

Ngồi lọt thỏm trong góc tối nhất của căn phòng là một nam nhân mặc y phục trắng toát, màu trắng lạnh lẽo như đồ tang, đối lập hoàn toàn với không gian xung quanh. Đó là Phan Tiên Sinh, có dáng người gầy guộc, dong dỏng cao như một cây tre khô. Gương mặt Phan trắng xanh, nhợt nhạt đến mức nhìn rõ cả những mạch máu li ti dưới da, hậu quả của việc quanh năm suốt tháng chui rúc trong những nhà xác thiếu ánh mặt trời. Đôi mắt y hẹp và dài, lúc nào cũng lờ đờ, vô cảm như mắt cá chết, chẳng mảy may quan tâm đến sự đời.

Phan ngồi đó, im lìm như một bóng ma, đôi tay gầy guộc với những ngón tay dài quá khổ đang tỉ mẩn dùng một chiếc khăn lụa lau chùi chiếc hòm gỗ mun đen bóng đặt trên đùi. Chiếc hòm chạm khắc hình hoa bỉ ngạn đỏ rực, toát lên vẻ quỷ dị. Thấy Duy bước vào, Phan chỉ khẽ ngước đôi mắt vô hồn lên, gật nhẹ một cái rồi lại cúi xuống chăm chút cho “bảo bối” của mình.

Nhưng điều khiến Nguyễn Duy gai mắt không phải là sự lạnh lùng của Phan, mà là kẻ đang ngồi chễm chệ ngay trên chiếc ghế chủ tọa, vị trí vốn dĩ chỉ dành cho quan huyện.

Đó là một gã đàn ông trạc tuổi Duy, nhưng thân hình đẫy đà, phốp pháp trong bộ áo dài gấm thượng hạng thêu kim tuyến lấp lánh. Khuôn mặt gã tròn trịa, bóng nhẫy mồ hôi dầu, đôi mắt híp lại vì béo nhưng ánh lên vẻ tinh ranh và hợm hĩnh. Trên ngón tay cái đeo một chiếc nhẫn ngọc bích to tướng, cổ đeo chuỗi hạt trầm hương đắt tiền.

Đó là Lê Khắc Cẩn, Quan Tri Phủ, kẻ đang nắm giữ phẩm hàm cao hơn chức Tri huyện của Duy đến hai bậc, và cũng là bạn đồng niên thời còn dùi mài kinh sử cùng Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh. Một kẻ sinh ra đã ngậm thìa vàng, con nhà danh gia vọng tộc, đường quan lộ được trải thảm đỏ nhờ thế lực gia đình chứ chẳng phải nhờ tài cán gì cả.

Cẩn ngồi ngả ngớn, chân vắt chữ ngũ rung đùi liên hồi khiến cả cái ghế gỗ kẽo kẹt như muốn gãy. Hắn cầm chén trà nóng mà thầy Đề Lĩnh vừa rót, đưa lên soi dưới ánh sáng ban mai, rồi nhăn mặt, chép miệng đầy vẻ khinh bỉ.

Hắn thẳng tay hắt toẹt chén trà xuống nền gạch tàu, ngay sát chân Thầy Đề Lĩnh, khiến ông lão giật bắn mình lùi lại, nước trà nóng bắn cả vào gấu quần.

“Chà... trà này mà đệ cũng dám mang ra mời khách quý đấy à?” Cẩn rút chiếc khăn tay thêu hoa ra lau mấy ngón tay múp míp, giọng kéo dài đầy vẻ mỉa mai. “Đắng ngắt, nước thì đục ngầu như nước ruộng. Cái huyện Hoằng Hóa này nghèo đến mức quan huyện không mua nổi một lạng trà Thái Nguyên thượng hạng để uống hay sao? Lại còn để cái lão già lẩm cẩm này pha trà, hỏng hết cả vị.”

Thầy Đề Lĩnh mặt đỏ bừng vì tủi nhục, tay run run chắp lại định phân bua: “Bẩm quan lớn... trà này là loại ngon nhất...”

Nhưng Nguyễn Duy đã bước lên một bước, chắn trước mặt Thầy Đề, hít một hơi thật sâu nén cục tức đang dâng lên trong cổ họng.

Nguyễn Duy chắp tay, cúi đầu hành lễ đúng phép tắc của cấp dưới: “Đệ không biết Lê huynh... à không, bẩm Quan Phủ đại nhân giá lâm, tiếp đón không chu đáo, mong đại nhân thứ tội. Thầy Đề đây là người cũ của nha môn, tận tụy bao năm, mong đại nhân bỏ quá cho sự vụng về của người già.”

Cẩn cười khẩy, tiếng cười phát ra từ cổ họng nghe như tiếng gà mắc tóc. Hắn phẩy tay, coi như Thầy Đề không tồn tại: “Thôi thôi, chỗ bạn bè đồng niên, đệ cứ câu nệ làm gì. Ta đang đi tuần thú qua phủ, tình cờ gặp Phan huynh ở trạm dịch đang trên đường đến thăm đệ. Thấy Phan huynh cứ lầm lì chẳng nói năng gì, ta sợ đệ buồn nên tạt qua xem sao.”

Nói đoạn, hắn nheo mắt nhìn kỹ khuôn mặt Nguyễn Duy, tặc lưỡi: “Mà sao trông đệ thảm hại thế kia? Mới sáng sớm ra đã mặt mày bơ phờ, râu ria lởm chởm như kẻ mất hồn. Làm quan huyện ở cái chốn khỉ ho cò gáy, yên bình tẻ nhạt này mà cũng mất ngủ à? Hay là lại lo nghĩ chuyện thế thái nhân tình vớ vẩn?”

Nguyễn Duy thở dài, đưa tay vuốt mặt, giọng trầm xuống: “Bẩm, chẳng giấu gì các huynh, huyện vừa xảy ra một vụ trọng án đêm qua. Một cô người ở treo cổ chết tại làng Vọng Khê. Tình tiết có quá nhiều uẩn khúc, hiện trường lại kỳ quái khiến đệ phải thức trắng đêm để xử lý mà vẫn chưa đâu vào đâu.”

Thầy Đề Lĩnh đứng nép sau lưng Duy, cũng rụt rè đế thêm vào: “Dạ bẩm quan Phủ, vụ này lạ lắm ạ. Người chết thì treo cổ mà cái ghế lại sạch trơn...”

Lê Khắc Cẩn trừng mắt nhìn Thầy Đề khiến ông lão im bặt, rồi quay sang Duy, đôi mắt híp bỗng mở to, sáng rực lên vẻ thích thú như đứa trẻ con vớ được món đồ chơi mới. Hắn vỗ đùi đánh “đét” một cái, ồm ồm nói:

“Chết người ư? Chà, trùng hợp thật! Ta đang buồn chán muốn chết vì suốt đường đi tuần thú chẳng có gì vui, toàn mấy vụ kiện tụng tranh chấp đất cát vặt vãnh. Vụ này hay đây! Ta nể tình bạn cũ, lại cũng tò mò muốn xem tài năng xử án của vị ‘Thám hoa’ lừng lẫy năm nào giờ ra sao. Quyết định thế nhé, ta sẽ đi cùng đệ để... khụ khụ... ‘chỉ đạo’ và giám sát.”

Nguyễn Duy và Thầy Đề Lĩnh đưa mắt nhìn nhau đầy ngán ngẩm. Với tính cách của Cẩn, sự “chỉ đạo” này chẳng khác nào thêm dầu vào lửa, chỉ tổ làm rối thêm sự việc.

Đúng lúc đó, từ góc phòng tối tăm, một âm thanh lạch cạch vang lên. Phan Tiên Sinh, kẻ nãy giờ vẫn ngồi im như tượng gỗ, thờ ơ với mọi sự khoe mẽ của Cẩn, vừa nghe thấy cụm từ “cô người ở, xác chết treo cổ” thì bỗng nhiên thay đổi thái độ. Đôi mắt vô hồn của y ánh lên một tia sáng lạnh lẽo, sắc lẹm.

Phan đứng phắt dậy, động tác nhanh nhẹn đến kỳ lạ. Y xách chiếc hòm gỗ mun lên, bước ra giữa phòng, cắt ngang lời huyên thuyên của Cẩn bằng một chất giọng khàn khàn, ngắt quãng đặc trưng: “X-Xác... xác còn đó k-không Duy? D-Dẫn đường cho ta x-xem thử.”

Cẩn bị cắt ngang thì hơi cau mày khó chịu, nhưng dường như cũng kiêng dè cái khí chất quái dị của Phan nên không dám ho he. Hắn đứng dậy, chỉnh lại đai ngọc trên bụng, hất hàm ra lệnh cho Duy: “Đi thôi! Còn chần chừ gì nữa? Đệ định để quan trên chờ đến bao giờ?”

Bốn người bước ra sân huyện đường. Cỗ xe ngựa của huyện nha tuy sạch sẽ nhưng kích thước lại khiêm tốn, vốn chỉ vừa đủ cho ba người ngồi thoải mái đang đợi sẵn. Lê Khắc Cẩn vừa nhìn thấy đã nhíu mày, vẻ mặt đầy ái ngại, hắn lấy tay phe phẩy chiếc quạt, giọng đầy vẻ chê bai: “Đi cái xe này á? Đệ không đùa ta chứ? Bốn người đàn ông chen chúc trong cái hộp này thì còn gì là phong thái quan nha? Chật chội thế này thì hỏng hết cả áo gấm của ta mất!”

Thầy Đề Lĩnh vội vàng chạy lại, khom lưng nói: “Bẩm quan lớn, để con bảo thằng đánh xe dọn dẹp lại...”

“Thôi dẹp đi! Lằng nhằng!” Cẩn gạt phắt đi, rồi miễn cưỡng leo lên xe vì không muốn chờ đợi xe riêng của mình đánh vào. Hắn ngồi phịch xuống, thân hình phốp pháp choán hết hơn nửa băng ghế, ép Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh dạt cả vào góc.

Thầy Đề Lĩnh lật đật leo lên ngồi cạnh bác đánh xe phía trước, không dám ngồi chung với các quan lớn. Suốt dọc đường đi, Cẩn liên tục cựa quậy, than ngắn thở dài vì chỗ ngồi chật hẹp, chốc chốc lại huých vào người Nguyễn Duy một cái đầy vô ý, miệng lầm bầm chửi đổng cái đường làng xóc nảy.

Cỗ xe lăn bánh, tiếng gỗ kêu kẽo kẹt dưới sức nặng quá tải, để lại sau lưng huyện đường Hoằng Hóa, hướng thẳng về phía làng Vọng Khê, nơi tử thi lạnh lẽo đang chờ đợi để kể câu chuyện oan khuất của mình.



Cỗ xe ngựa của huyện nha lọc cọc dừng lại trước cổng căn nhà gạch nhỏ của bà Mận. Khung cảnh nơi đây tiêu điều, ảm đạm, bị bao phủ bởi lớp sương mù dày đặc và cái lạnh buốt giá của gió biển. Lính lệ canh gác bên ngoài thấy quan lớn đến thì vội vàng dập gót, cúi rạp người hành lễ, khuôn mặt ai nấy đều phờ phạc sau một đêm dài canh giữ xác chết.

Lê Khắc Cẩn bước xuống xe đầu tiên. Hắn nhăn mặt, nhón chân trên nền đất ẩm ướt như sợ làm bẩn đôi hài thêu rồng phượng của mình. Vừa hít phải luồng không khí ẩm mốc pha lẫn mùi tanh nồng đặc trưng của vùng cửa biển, Cẩn vội vàng rút chiếc khăn tay tẩm hương liệu ra che kín mũi, bộ dạng đầy vẻ ghê tởm.

“Cái chốn khỉ ho cò gáy này mà cũng có người ở được sao? Hôi hám, bẩn thỉu!” Hắn lầm bầm, liếc nhìn căn nhà gạch nhỏ bé, tuềnh toàng với ánh mắt khinh miệt.

Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh bước xuống theo sau. Khác với vẻ đỏm dáng của Cẩn, Duy lập tức quan sát tình hình lính canh.

Đội trưởng Trần Hùng thấy quan huyện đến, vội vàng chỉnh đốn trang phục, rảo bước tới trước mặt, dập gót hành lễ dõng dạc: “Bẩm quan lớn! Thuộc hạ cùng mọi người đã canh gác nghiêm ngặt suốt đêm qua. Hiện trường vẫn được giữ nguyên trạng, nội bất xuất, ngoại bất nhập.”

Nguyễn Duy gật đầu hài lòng, rồi quay sang giới thiệu với giọng nghiêm trang: “Tốt lắm. Trần Hùng, mau ra mắt hai vị khách quý. Vị mặc áo gấm đây là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đại nhân, cấp trên của ta, đang đi tuần thú qua huyện, đích thân ghé xuống đây để giám sát vụ án.”

Trần Hùng nghe đến danh “Quan Tri Phủ”, lại thấy phẩm phục lấp lánh thì giật mình thon thót, vội vàng quỳ một chân xuống, chắp tay vái lạy còn cung kính hơn cả với Duy: “Tiểu nhân Trần Hùng, Đội trưởng lính lệ huyện Hoằng Hóa, tham kiến Quan Phủ đại nhân!!”

Lê Khắc Cẩn chỉ liếc mắt nhìn xuống bằng nửa con mắt, tay vẫn phe phẩy chiếc quạt che mũi, hừ mũi một cái: “Thôi, miễn lễ. Trông ngươi to xác đen trùi trũi thế kia mà cũng biết phép tắc đấy.”

“Dạ! Tiểu nhân không dám!” Trần Hùng toát mồ hôi hột, lùi lại một bước.

Nguyễn Duy tiếp tục chỉ tay về phía người đàn ông mặc áo trắng đang đứng lặng lẽ như một bóng ma bên cạnh xe: “Còn đây là Phan Tiên Sinh, ngỗ tác lừng danh của Hình Bộ kinh thành, là bạn tâm giao của ta. Ông ấy sẽ trực tiếp khám nghiệm tử thi hôm nay. Các ngươi phải tuyệt đối nghe theo sự sắp xếp của ông ấy.”

Trần Hùng ngước lên nhìn Phan Tiên Sinh với ánh mắt tò mò pha lẫn e dè, định cất tiếng chào. Nhưng Phan Tiên Sinh dường như không nghe thấy gì, cũng chẳng màng đến sự hiện diện của đám người xung quanh. Đôi mắt vô hồn của y dán chặt vào cánh cửa gỗ đóng kín của gian bếp, nơi tử khí đang len lỏi qua từng khe hở, mũi khẽ hít hít như đang đánh hơi thấy mùi vị quen thuộc.

Khi bước đến trước cửa gian bếp, mùi xú uế bốc ra nồng nặc hơn. Lê Khắc Cẩn đứng tít ngoài sân, cách xa cả trượng, một tay bịt mũi, tay kia phe phẩy chiếc quạt giấy, quát tháo ầm ĩ:

“Này! Lũ lính đâu! Cái mùi chết chóc này làm ta buồn nôn quá! Lôi... mau lôi cái xác đó ra sân cho thoáng đãng mà khám! Việc gì phải chui rúc vào cái xó bếp tối tăm ấy?”

Đám lính lệ nghe lệnh quan lớn, định xông vào thì một bóng trắng lướt qua họ như một cơn gió lạnh. Phan Tiên Sinh phớt lờ hoàn toàn mệnh lệnh của Cẩn, Phan đi thẳng vào trong bếp, không hề che mũi, thậm chí còn hít nhẹ một hơi như thưởng thức một mùi hương quen thuộc.

“G-Giữ... giữ nguyên mọi thứ!” Giọng Phan vang lên, khàn khàn nhưng đanh thép. “D-Di chuyển sẽ làm m-mất... dấu vết.”

Cẩn bị bẽ mặt trước đám lính, mặt đỏ gay lên định quát tháo, nhưng Nguyễn Duy đã vội can thiệp: “Lê huynh bớt giận, Phan huynh nói phải đấy ạ. Trong ngỗ tác pháp, hiện trường ban đầu là quan trọng nhất. Xin huynh chịu khó một chút.”

Cẩn hừ một tiếng, miễn cưỡng đứng lại ở mép cửa, không dám bước sâu vào trong, nhưng miệng vẫn lầm bầm chửi đổng về cái sự “cầu kỳ rách việc”.

—-

Bên trong gian bếp tối tăm, Phan Tiên Sinh ra hiệu cho lính hạ cái xác xuống một tấm chiếu manh trải sẵn. Hắn đeo vào đôi găng tay bằng lụa mỏng manh, động tác nhẹ nhàng, nâng niu như đang chạm vào một bảo vật dễ vỡ. Hắn gạt mớ tóc rối bù xòa trước mặt nạn nhân, để lộ vùng cổ tím tái, sưng phồng.

“Duy... Lê huynh... lại đ-đây mà xem.” Phan vẫy tay gọi, mắt không rời khỏi cổ tử thi.

Nguyễn Duy bước lại gần, ngồi xổm xuống cạnh Phan. Lê Khắc Cẩn thì đứng từ xa ngó vào, tay vẫn bịt mũi, vẻ mặt đầy sự miễn cưỡng và chán ghét.

Phan Tiên Sinh chỉ ngón tay thon dài vào cổ con Thắm, giọng nói trở nên rành mạch lạ thường, cái tật cà lăm dường như biến mất khi đắm chìm vào chuyên môn:

“Các huynh nhìn cho kỹ. Trên cổ nạn nhân có tới hai vết hằn chồng chéo lên nhau, rất rõ rệt.”

Phan miết nhẹ ngón tay theo đường viền trên da thịt tím bầm: “Vết thứ nhất mờ hơn, chạy xiên chéo ngược ngược lên phía mang tai, hở ở sau gáy. Đây là vết do dây thòng lọng treo cổ tạo ra khi trọng lượng cơ thể kéo xuống.”

“Nhưng...” Phan nhấn mạnh, ánh mắt sắc lẹm ngước lên nhìn Duy. “Quan trọng là vết thứ hai này. Nó nằm ngang, chạy vòng quanh cổ, khép kín và giao nhau ở gáy, nằm thấp hơn, ngay dưới sụn giáp. Vết này tím bầm, tụ máu sâu hơn và mép vết thương xước xát nhiều hơn.”

Nguyễn Duy gật đầu, hiểu ngay vấn đề. Nhưng Lê Khắc Cẩn ở phía sau thì bật cười khẩy, giọng đầy vẻ kẻ cả và coi thường:

“Hừ! Phan huynh quả là người kỹ tính, soi mói đến từng sợi lông chân. Nhưng theo ta, việc đó có quan trọng quái gì? Một con hầu gái chết, ắt hẳn có kẻ muốn nó chết, hoặc nó muốn tự chết. Siết hay treo thì kết quả cũng là nó đã tắt thở. Hiền đệ Duy cứ hay thích phức tạp hóa vấn đề, mời cả ngỗ tác kinh thành về chỉ để xem mấy cái vết dây thừng này à? Rõ là vẽ rắn thêm chân để tỏ ra mình tài cán!”

Nguyễn Duy đứng dậy, quay lại nhìn Cẩn, ánh mắt kiên định nhưng giọng nói vẫn giữ vẻ điềm tĩnh: “Bẩm Lê huynh, sự khác biệt này thay đổi hoàn toàn bản chất vụ án. Nếu chỉ có vết chéo ngược lên trên, thì là tự sát. Nhưng vết hằn ngang kia chứng tỏ nạn nhân đã bị siết cổ bằng dây thừng mềm từ phía sau cho đến chết trước. Sau khi nạn nhân đã tắt thở, hung thủ mới dựng hiện trường giả, treo cái xác lên để tạo ra vết chéo kia nhằm đánh lừa quan nha. Đây không phải tự sát, mà là một vụ giết người được tính toán kỹ lưỡng.”

Lê Khắc Cẩn nghe xong thì cứng họng. Hắn đảo mắt liên hồi, cố tìm lời để phản bác nhưng không được, đành hừ lạnh một tiếng, phẩy tay áo: “Thì... thì ta đã bảo là không quan trọng mà. Giết hay tự sát thì cũng phải bắt được hung thủ. Các đệ cứ loay hoay với cái xác thì bao giờ mới bắt được người?”

Không để Cẩn kịp lấp liếm sự dốt nát của mình, Nguyễn Duy tiếp tục tung ra đòn bồi về logic hiện trường mà chàng đã suy ngẫm suốt đêm qua.

Chàng bước đến bên chiếc ghế đẩu gỗ bị đạp đổ nằm chỏng chơ giữa nền đất, rồi chỉ tay vào đôi bàn chân trần của tử thi.

“Lê huynh, Phan huynh, xin hãy nhìn kỹ.” Duy nói. “Nền bếp này là đất nện, mấy hôm nay mưa gió ẩm ướt, lại thêm tro bếp vương vãi nên rất bẩn. Đôi chân của nạn nhân lấm lem bùn đất đen kịt, chứng tỏ cô ta đã đi chân trần trên nền đất này.”

Duy cúi xuống, nhặt chiếc ghế lên, giơ mặt ghế gỗ mun bóng loáng ra trước ánh sáng từ bên ngoài rọi vào: “Thế nhưng, mặt chiếc ghế này lại sạch bong, không hề có một vết chân bẩn hay hạt bụi nào. Nếu nạn nhân đứng lên ghế để tự treo cổ, thì tại sao mặt ghế lại sạch như chưa từng có ai chạm vào?”

Lê Khắc Cẩn đứng đó, mặt hắn đỏ dần lên vì thẹn, nhưng cái tôi to lớn của một kẻ bề trên không cho phép hắn nhận sai trước mặt cấp dưới. Hắn đảo mắt nhìn quanh căn bếp trống hoác, rồi hắng giọng hỏi một câu chẳng ăn nhập gì để đánh trống lảng:

“Mà này, nhà cửa vắng tanh thế này, chủ nhà đâu cả rồi? Sao để lính tráng tự tung tự tác thế? Không có ai ra mặt quản lý à?”

Thầy Đề Lĩnh đứng nép ở cửa, nghe quan lớn hỏi thì vội vàng khom người thưa:

“Dạ bẩm quan Phủ, chủ căn nhà này là bà Mận. Hôm qua vì bị dân làng vây đòi nợ, lại thêm nghi vấn lừa đảo nên quan huyện đã cho giải bà ấy về huyện đường giam giữ rồi ạ. Còn chồng bà ấy là ông Tham thì đã biệt tích cả tháng nay, không rõ tung tích.”

Nghe đến đây, Cẩn như vớ được cọc, hắn vỗ đùi cái đét, chỉ tay vào chiếc ghế rồi cười khẩy đầy vẻ đắc thắng: “Đấy! Thế thì có gì mà lạ đâu? Bà chủ nhà đã bị bắt, biết đâu trước khi đi, mụ ta đã dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ đạc cho sạch sẽ để đỡ xui xẻo? Hoặc là con ả này... đàn bà con gái chúng nó ưa sạch sẽ, kỹ tính lắm. Biết đâu trước khi trèo lên ghế để chết, nó còn cẩn thận lấy giẻ lau sạch ghế thì sao? Hiền đệ đừng có nhìn gà hóa cuốc, suy diễn lung tung những chuyện cỏn con. Cứ lôi cổ mụ chủ nhà ra mà tra khảo là ra hết!”

Nguyễn Duy nhìn Cẩn, kìm nén tiếng thở dài ngao ngán. Ký ức thời còn dùi mài kinh sử ở Quốc Tử Giám bỗng chốc ùa về. Ngày ấy, trong khi mọi người bàn luận sôi nổi về sách lược trị nước an dân, về việc lấy đức phục người, thì Cẩn luôn là kẻ đưa ra những phát ngôn thiển cận, thậm chí là ngu dốt đến nực cười.

Hắn luôn vỗ ngực cho rằng làm quan cốt ở cái uy, dân đen là lũ ngu muội chỉ cần dùng roi vọt và quyền lực để trấn áp là xong. "Án tại hồ sơ, ép cung khắc nhận", cái tư duy ấu trĩ và tàn độc ấy bao năm qua vẫn ăn sâu vào máu thịt hắn, giờ đây khoác lên mình tấm áo gấm quan quyền lại càng trở nên nguy hiểm gấp bội phần. Nhưng Nguyễn Duy biết, tranh luận với kẻ điếc về âm luật cũng bằng thừa, chàng chỉ lặng lẽ đưa mắt nhìn sang Phan Tiên Sinh, chờ đợi một bằng chứng đanh thép hơn từ người bạn ngỗ tác.

Không gian trong căn bếp chật hẹp bỗng trở nên ngột ngạt hơn khi Phan Tiên Sinh bắt đầu có những hành động kỳ quặc. Phan cúi rạp người xuống, ghé sát mặt vào thi thể lạnh lẽo của con Thắm. Mũi Phan khẽ hít hít, đôi mắt nhắm nghiền lại, gương mặt lộ ra vẻ khoái trá bệnh hoạn như đang thưởng thức hương thơm của một loài hoa quý hiếm chứ không phải mùi tử khí nồng nặc.

“Thơm... mùi của t-t-thanh xuân... mùi của s-sự... lụi tàn...” Phan lẩm bẩm, bàn tay gầy guộc vuốt nhẹ lên gò má trắng bệch của tử thi.

Đám lính lệ đứng xung quanh nhìn cảnh tượng ấy mà nổi da gà, lạnh toát sống lưng. Ngay cả Lê Khắc Cẩn, kẻ vốn hống hách coi trời bằng vung, cũng phải rùng mình, lùi lại thêm một bước, mặt lộ rõ vẻ ghê tởm pha lẫn sợ hãi: “Cái... cái tên điên này! Lại nữa rồi.”

Nguyễn Duy chỉ khẽ lắc đầu, ra hiệu cho mọi người im lặng. Chàng biết rõ tính nết quái dị của người bạn đồng niên này. Phan Tiên Sinh vốn dĩ là kẻ lập dị, coi xác chết phụ nữ trẻ là những tác phẩm nghệ thuật dang dở. Chính cái sự “biến thái” tinh vi ấy lại là thứ vũ khí sắc bén giúp hắn nhìn thấy những điều mà người thường không dám nhìn.

Sau màn rợn người ấy, Phan Tiên Sinh trở lại vẻ lạnh lùng chuyên nghiệp. Hắn từ từ cởi bỏ lớp áo ngoài bạc màu của nạn nhân, rồi vén nhẹ lớp yếm bên trong lên, để lộ phần ngực và nách.

“Đây rồi...” Giọng Phan vang lên, không còn cà lăm nữa.

Hắn chỉ tay vào vùng dưới nách và hai bên sườn của Thắm: “Nguyễn huynh, Lê huynh, nhìn vào đây.”

Dưới ánh đuốc chập chờn, trên làn da trắng xanh của tử thi hiện lên những vết bầm tím chạy dài, dạng sọc ngang, mờ hơn vết ở cổ nhưng vẫn có thể nhìn thấy rõ bằng mắt thường.

Phan Tiên Sinh trầm giọng giải thích: “Những vết hằn này không phải do đòn roi, cũng không phải do va đập. Nó là vết hằn do trọng lượng cơ thể đè nặng lên một vật dạng dây, xuất hiện ngay sau khi tim vừa ngừng đập, máu vẫn còn chưa đông hẳn. Vị trí của nó nằm ngay dưới nách, chạy ngang qua ngực.”

Lời nhận định của Phan Tiên Sinh như một tia chớp xé toạc màn sương mù trong đầu Nguyễn Duy. Chàng lập tức đứng dậy, ngước mắt nhìn lên thanh xà ngang đen đúa trên trần nhà, nơi lúc nãy treo cái thòng lọng.

Nguyễn Duy nheo mắt, ra hiệu cho Đội trưởng Trần Hùng giơ cao ngọn đuốc lên sát trần nhà. Ánh lửa bập bùng soi rọi vào góc tối tăm đầy bồ hóng và mạng nhện.

Đúng lúc đó, Nguyễn Duy khẽ giật mình. Một giọt chất lỏng sền sệt, nhưng nhức từ trong bóng tối trên cao bất ngờ rơi xuống, trúng ngay gò má của chàng.

Duy đưa tay lên quệt, xoa nhẹ hai đầu ngón tay vào nhau để cảm nhận độ trơn nhớt, rồi đưa lên mũi ngửi. Mùi hôi nồng ngai ngái xộc vào mũi chàng.

“Là mỡ lợn.” Duy lẩm bẩm, ánh mắt sáng rực lên. “Quả nhiên là như vậy!”

Chàng chỉ tay lên thanh xà gỗ lim chắc chắn, giọng vang lên rành rọt: “Các vị hãy nhìn kỹ chỗ đó. Cách vị trí buộc thòng lọng chừng hai gang tay, ở hai bên mép xà, lớp bụi lâu năm đã bị cào sạch, gỗ bị mòn vẹt đi, tạo thành hai vết lõm sâu hoắm. Và quan trọng hơn, chỗ đó bóng loáng dị thường dưới ánh lửa. Đó là dấu hiệu của sự cọ xát rất mạnh vừa mới xảy ra.”

Lê Khắc Cẩn cũng nheo mắt nhìn theo, nhưng hắn vội lấy tay áo che lên đầu vì sợ bụi rơi trúng mũ cánh chuồn, miệng lầm bầm: "Thì gỗ cũ nó mòn, có gì lạ đâu mà đệ cứ làm quá lên."

Không đôi co với Cẩn, Nguyễn Duy quay sang Trần Hùng, ra lệnh dứt khoát: "Trần Hùng, kiệu ta lên! Chỗ đó quá cao, ta cần kiểm tra kỹ hơn."

Trần Hùng lập tức khom người xuống, làm thành một cái bệ đỡ vững chãi. Nguyễn Duy không nề hà, bước lên vai viên đội trưởng vạm vỡ để được nâng lên cao sát trần nhà. Chàng nheo mắt, cẩn trọng dùng móng tay gỡ lấy một vật nhỏ xíu mắc kẹt trong khe nứt của vết lõm, rồi quệt mạnh tay vào chỗ gỗ mòn.

Ra hiệu cho Trần Hùng hạ mình xuống, Nguyễn Duy xòe tay ra trước mặt mọi người. Trong lòng bàn tay chàng là vài sợi xơ màu nâu vàng thô ráp, dính bết lại với nhau bởi một lớp mỡ trơn tuột.

“Đây là xơ của dây thừng gai, loại dây thô dùng để buộc hàng hóa, hoàn toàn khác với loại dây thừng mềm dùng để siết cổ hay treo cổ nạn nhân.”

Duy giơ ngón tay dính mỡ lên: “Và đây là mỡ lợn. Hung thủ đã cố tình bôi một lớp mỡ dày lên thanh xà để làm trơn, giúp sợi dây thừng gai trượt đi dễ dàng hơn, không bị gỗ ghì lại khi kéo vật nặng.”

Nguyễn Duy quay lại nhìn Phan Tiên Sinh, cả hai trao nhau một ánh mắt ăn ý. Bức tranh về vụ án mạng đã dần hiện ra rõ nét.

Nguyễn Duy quay sang Lê Khắc Cẩn, giọng điệu đanh thép và đầy sức thuyết phục: “Thưa Lê huynh, từ những dấu vết này, ta có thể tái hiện lại toàn bộ quá trình gây án của hung thủ. Hắn đã giết chết nạn nhân trước bằng cách siết cổ. Sau đó, hắn luồn một sợi dây thừng gai qua nách nạn nhân, vắt sợi dây đó qua xà nhà, tận dụng thanh xà làm đòn bẩy để kéo cái xác lên cao.”

Nguyễn Duy vừa nói vừa dùng tay mô phỏng động tác kéo dây: “Vì dây gai cọ vào gỗ lim rất rít, hắn đã phải dùng mỡ lợn trong bếp bôi lên xà để kéo cho nhẹ tay. Khi cái xác đã lơ lửng ở độ cao mong muốn, hắn mới thong thả tròng cái thòng lọng giả vào cổ nạn nhân và buộc chặt lên xà. Cuối cùng, hắn tháo sợi dây kéo ở nách ra và đạp đổ chiếc ghế sạch bong kia để hoàn tất màn kịch tự sát.”

Nguyễn Duy dừng lại một chút, ánh mắt trở nên sắc sảo: “Tại sao hung thủ phải nhọc công dùng ‘mẹo’ đòn bẩy phức tạp, lại còn phải dùng mỡ bôi trơn như vậy? Chỉ có một lý do duy nhất: Hung thủ không đủ sức để bế xốc một cái xác người lớn lên cao.”

Vừa nói, Duy vừa chỉ tay vào thi thể con Thắm đang nằm sóng soài trên chiếu. Quả thật, tuy mới mười sáu tuổi đầu, nhưng do quanh năm làm lụng vất vả, bốc vác nặng nhọc nên thân hình nó đẫy đà, xương cốt rắn chắc chứ không hề mảnh mai yếu đuối như những thiếu nữ khuê các. Để nâng bổng một cơ thể như vậy lên cao quá đầu người, nếu không phải là kẻ có sức vóc hơn người như Trần Hùng hay đám phu phen bến bãi, thì chắc chắn không thể làm nổi bằng tay không.

Nguyễn Duy nhấn mạnh từng chữ. “Hung thủ có thể là kẻ yếu đuối về thể chất. Là một người già, một thư sinh trói gà không chặt, hoặc... là một người phụ nữ.”

“Đủ rồi!”. Lê Khắc Cẩn đột ngột quát lớn, cắt ngang dòng suy luận của Nguyễn Duy. Hắn phẩy tay áo, vẻ mặt đầy sự mất kiên nhẫn và coi thường: “Mấy cái suy luận lằng nhằng dây mơ rễ má này chỉ tổ mất thời gian! Hiền đệ cứ vòng vo Tam Quốc mãi để làm gì? Trong cái nhà này, ngoài con ở đã chết thì chỉ còn mỗi mụ Mận chủ nhà. Mụ ta là đàn bà, sức yếu nên phải dùng mẹo là đúng quá rồi còn gì nữa!”

Cẩn cười khẩy, đắc ý như thể mình vừa phá được án: “Rõ ràng quá rồi! Theo kinh nghiệm bao năm làm quan của ta, cứ bắt ngay kẻ tình nghi duy nhất về, dùng đại hình tra khảo, kẹp tay, nung sắt... mười kẻ thì chín kẻ sẽ phải nhận tội ngay thôi. Người ở đâu thì tội ở đó!”

Phan Tiên Sinh dường như bỏ ngoài tai những lời hồ đồ của Lê Khắc Cẩn. Hắn vẫn tiếp tục công việc của mình một cách tỉ mỉ đến đáng sợ.

Đột nhiên, đôi mày thanh tú của Phan hơi nhíu lại. Ánh mắt hắn dừng lại ở vùng bụng dưới của nạn nhân, nơi lớp da trắng bệch có vẻ căng lên một cách bất thường.

“Nhìn k-kỹ đi...” Phan thì thầm, ngón tay thon dài chỉ vào một đường sọc nâu mờ nhạt chạy dọc từ rốn xuống xương mu. “Đường hắc tuyến... dấu hiệu của m-mang thai.”

Sau đó, trước con mắt kinh ngạc và e ngại của mọi người, Phan Tiên Sinh thản nhiên đặt bàn tay đeo găng lụa lên vùng hạ phúc. Phan ấn mạnh các đầu ngón tay xuống, sờ nắn, day nhẹ để cảm nhận độ cứng và vị trí của khối u bên trong.

Phan ngẩng đầu lên, gương mặt vô cảm nhưng giọng nói lại chứa đựng một sự khẳng định lạnh lùng: “Một x-xác... hai m-mạng người.”

Hắn vỗ nhẹ vào bụng tử thi: “Tử cung đã t-to vượt khỏi khớp xương vệ, sờ rõ đáy tử c-cung ở khoảng giữa rốn và xương mu. Khối thai cứng, tròn. Đ-Đứa nhỏ... đã thành hình... chừng bốn tháng rồi.”

Thông tin này như một tiếng sét đánh ngang tai giữa ban ngày, khiến không gian vốn đã lạnh lẽo của căn bếp càng thêm phần u ám. Nguyễn Duy cau chặt đôi mày, ánh mắt đăm chiêu nhìn vào phần bụng nhô lên của tử thi, như cố tìm kiếm một lời giải đáp cho tấn bi kịch này.

Thầy Đề Lĩnh đứng ở cửa, mặt tái mét đi vì kinh hãi. Ông lão run rẩy tháo cặp kính lão xuống lau vội vào vạt áo, rồi lại đeo lên như không tin vào tai mình, miệng lắp bắp: “Mô Phật! Trời cao đất dày ơi! Con Thắm... nó chưa chồng mà lại chửa hoang sao? Bốn tháng... Bốn tháng...”

Ông lão lẩm bẩm tính toán ngón tay, rồi bỗng ngẩng phắt lên, đôi mắt mở to đầy vẻ kinh hoàng khi xâu chuỗi được các sự kiện: “Bẩm... bẩm các quan! Bốn tháng trước, ông Tham vẫn còn ở nhà chưa đi đâu cả! Mà cái nhà này kín cổng cao tường, con Thắm thì quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm mặt vào bếp núc, chẳng giao du với ai...”

Giọng Thầy Đề Lĩnh trở nên run rẩy nhưng đầy vẻ khẳng định chắc nịch: “Chẳng lẽ... cái thai này là của ông Tham? Làng này ai mà chẳng biết bà Mận có máu 'Hoạn Thư', ghen tuông. Chắc là bà ấy phát hiện ra chồng tòm tem với người ở, lại lòi ra cả đứa con rơi, nên nhân lúc ông Tham bỏ trốn, bà ấy đã ra tay tàn độc để trút cơn ghen, vừa giết người diệt khẩu, vừa triệt hạ cái thai kia?”

Lê Khắc Cẩn nghe thấy thế thì sướng rơn, hắn vỗ đùi đánh “đét” một cái, cười hô hố: “Đấy! Ta đã nói rồi mà! Sự thật nó sờ sờ ra đấy, chạy đi đâu cho thoát. Ghen tuông mù quáng là bản tính của đàn bà. Mụ Mận này giết người vì tình, lại dàn cảnh tự sát để trốn tội. Quá khớp với cái suy luận ‘sức yếu’ của hiền đệ rồi nhé!”

Cẩn quay sang Nguyễn Duy, mặt vênh lên tận trời: “Hiền đệ còn chần chừ gì nữa? Cho lính về huyện đường, lôi cổ mụ Mận ra, tống giam vào ngục tử tù, làm ngay cái trát xử trảm là xong. Vụ này mà phá nhanh, ta sẽ báo lên trên là hiền đệ có công ‘hỗ trợ’ ta phá án. Công đầu thuộc về ta, nhưng đệ cũng được thơm lây, hậu hĩnh quá còn gì!”

Hắn trắng trợn nhận vơ công trạng và áp đặt kết quả, không thèm đếm xỉa đến những uẩn khúc khác. Nguyễn Duy phớt lờ sự hợm hĩnh của Cẩn, chàng quay sang hỏi Phan Tiên Sinh một câu hỏi cuối cùng mang tính then chốt: “Phan huynh, liệu có thể biết chính xác nạn nhân chết vào lúc nào không?”

Phan Tiên Sinh nâng cánh tay cứng đờ của tử thi lên, kiểm tra độ cứng của các khớp ngón tay và các mảng hoen tử thi ở lưng đã tím thẫm và không biến mất khi ấn vào.

“Xác đã cứng hoàn toàn, vết hoen đã định hình.” Phan nói, giọng đều đều. “Dựa vào nhiệt độ lạnh giá đêm qua và độ co cứng này... nạn nhân đã chết từ chiều hôm qua, khoảng giờ Thân đến giờ Dậu.”

Nguyễn Duy giật mình, quay phắt sang Đội trưởng Trần Hùng, ánh mắt sắc như dao: “Trần Hùng! Chiều hôm qua, khoảng giờ Thân đến giờ Dậu chính là lúc ngươi dẫn quân xuống giải tán đám đông và áp giải bà Mận. Lúc đó, ngươi có nhìn thấy con Thắm không?”

Trần Hùng mặt biến sắc, vội vàng lục lại trí nhớ rồi lắp bắp: “Dạ bẩm... bẩm quan, lúc thuộc hạ đập cửa gọi, chỉ có một mình bà Mận thò mặt ra. Lúc xông vào áp giải bà ấy đi, nhà cửa vắng tanh, thuộc hạ cứ ngỡ con Thắm trốn ở xó xỉnh nào vì sợ. Tuyệt nhiên... không ai nhìn thấy nó cả!”

Mọi chứng cứ như sức yếu, động cơ ghen tuông, hiện trường giả, và giờ là thời gian tử vong trùng khớp với lúc bà Mận ở nhà một mình, tất cả đều chĩa mũi dùi vào người đàn bà góa bụa ấy như một bản án tử hình đã được định sẵn.

Lê Khắc Cẩn hối thúc, giọng đầy vẻ bề trên: “Rõ như ban ngày rồi! Duy, mau kết án đi để ta còn về phủ nghỉ ngơi. Ở cái chỗ hôi hám này thêm một khắc nào nữa chắc ta chết mất.”

Nguyễn Duy cúi đầu, chắp tay cung kính: “Lê huynh dạy phải.”

Nhưng khi ngẩng đầu lên, ánh mắt chàng lại nhìn sang Phan Tiên Sinh đầy ẩn ý. Trong ánh mắt ấy không phải là sự đồng tình, mà là một sự nghi hoặc sâu sắc. Một người đàn bà đang hoảng loạn vì bị chủ nợ vây ráp, liệu có đủ bình tĩnh và lý trí để thực hiện một màn kịch giết người treo cổ tỉ mỉ đến thế không?

Nguyễn Duy phất tay áo, ra lệnh dứt khoát: “Người đâu! Đưa xác về nha môn để Phan Tiên Sinh tiếp tục nghiệm thi. Triệu tập thị Mận thăng đường ngay lập tức!”
 
Sửa lần cuối:
Chương 5

Cỗ xe ngựa của quan nha nặng nề lăn bánh, tiếng bánh xe nghiến ken két xuống mặt đường, để lại phía sau bầu không khí u ám, lạnh lẽo bao trùm lên hai ngôi nhà có số phận tréo ngoe.

Nguyễn Duy ngồi trong xe, tay vén nhẹ tấm rèm vải thô, ngoái đầu nhìn lại lần cuối. Qua ô cửa nhỏ hẹp, chàng thấy trước cổng dinh cơ bề thế của thầy đồ Hiếu, bóng dáng những chủ nợ, lái buôn đã bắt đầu lục tục kéo đến. Họ không còn hung hăng, ồn ào như hôm qua nữa, mà đứng xếp hàng trật tự, vẻ mặt đầy mong chờ.

Đứng giữa đám đông ấy là Hiếu. Thầy đồ trẻ vẫn khoác lên mình bộ áo dài thâm nho nhã, gương mặt đượm vẻ u sầu, thành kính. Hiếu đích thân mở những tráp bạc nặng trịch, hai tay cung kính dâng từng nén bạc trắng lóa trả nợ ngay tại chỗ thay cho người anh bội bạc.

—-

Cỗ xe đi được một đoạn thì khựng lại. Tiếng người la ó, tiếng quát tháo ồn ào vọng vào trong xe khiến không gian vốn chật hẹp càng thêm ngột ngạt.

"Chuyện gì thế? Sao lại dừng?" Lê Khắc Cẩn nhăn mặt, giọng gắt gỏng. Hắn đang thiu thiu ngủ vì mệt mỏi sau chuyến đi sớm thì bị đánh thức, sự khó chịu hiện rõ trên khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi.

Bác đánh xe ló đầu vào, bẩm báo với vẻ ái ngại: "Bẩm quan lớn, xe đi ngang qua chợ huyện, đường đông quá, lại có đám đánh nhau chắn lối nên tắc đường ạ."

"Đánh nhau?" Cẩn tò mò, hất mạnh tấm rèm lên.

Trước mắt ba vị quan, giữa khu chợ huyện hỗn độn, một đám đông hiếu kỳ đang vây kín một khoảng đất trống. Ở giữa vòng vây, một cảnh tượng đập vào mắt người xem.

Một gã đàn ông to lớn như hộ pháp, bắp tay cuồn cuộn, mặt mũi dữ tợn với bộ râu quai nón rậm rạp trông chẳng khác gì một gã đồ tể hay đao phủ khát máu. Gã đang dùng tấm thân hộ pháp của mình đè nghiến một thanh niên gầy gò xuống đất.

Gã thanh niên mặt cắt không còn giọt máu, mồ hôi vã ra như tắm, miệng há hốc gào thét thảm thiết: "Á á á! Tha cho tôi! Đau quá! Gãy tay tôi rồi! Ối làng nước ơi!"

Mặc cho nạn nhân kêu la, gã to lớn vẫn không buông tha. Gã dùng một tay khóa chặt vai người thanh niên, tay kia nắm lấy cổ tay khẳng khiu của anh ta, rồi bẻ quặt mạnh ra phía sau lưng với một lực tưởng chừng như muốn bẻ gãy khúc củi khô.

Lê Khắc Cẩn nhìn thấy cảnh ấy thì rụt cổ lại, vội vàng buông rèm xuống, lấy khăn tay bịt mũi vẻ ghê tởm: "Khiếp quá! Giữa thanh thiên bạch nhật mà hành hung người dã man thế này. Đám dân đen này thật hỗn loạn, vô pháp vô thiên!"

Hắn quay sang Nguyễn Duy, giọng đầy vẻ trách móc và bề trên: "Hiền đệ xem, đệ quản lý cái huyện này kiểu gì mà lỏng lẻo thế? Để côn đồ lộng hành ngay giữa chợ thế kia mà coi được à? Mau cho lính xuống dẹp ngay đi, nhìn chướng mắt quá. Thể diện quan nha để đâu?"

Nguyễn Duy không đáp lời Cẩn ngay. Chàng vẫn chăm chú quan sát qua khe rèm, đôi mắt phượng nheo lại, nhìn kỹ vào động tác của gã đàn ông to lớn kia. Chàng thấy gã ta tuy mặt mũi dữ tợn, mồ hôi nhễ nhại, nhưng ánh mắt lại tập trung cao độ, và bàn tay gã đang lần mò tìm đúng một điểm khớp xương trên vai người thanh niên.

Bất chợt, một âm thanh khô khốc vang lên, rõ mồn một giữa tiếng ồn ào của chợ búa.

RẮC!

Tiếng xương cốt va chạm vào khớp nghe lạnh người. Người thanh niên đang gào thét bỗng im bặt. Cả đám đông nín thở.

Nhưng kỳ lạ thay, sau khoảnh khắc im lặng đó, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn của người thanh niên bỗng giãn ra. Anh ta hít một hơi sâu, rồi từ từ đứng dậy, dùng tay này xoay xoay cánh tay kia.

"Ơ... được rồi! Vào khớp rồi!" Anh ta reo lên đầy kinh ngạc, rồi quay sang cúi rạp người trước gã đồ tể to lớn, cười tươi rói: "Đa tạ thầy! Đa tạ thầy! Tôi cứ tưởng tàn phế cái tay này rồi chứ!"

Gã to lớn lúc nãy còn như hung thần ác sát, giờ quệt mồ hôi trán, cười hề hề, vỗ vai chàng trai cái bốp: "Lần sau gánh nặng thì cẩn thận cái vai. Xương cốt chứ có phải sắt đá đâu mà liều."

Đám đông xung quanh vỗ tay rầm rào tán thưởng. Hóa ra, đó là một thầy lang nắn xương dạo, đang chữa trật khớp vai cho người bệnh, chứ chẳng phải vụ ẩu đả nào cả. Hành động nhìn như bẻ gãy tay, thực chất lại là cứu chữa đôi tay ấy.

Nguyễn Duy nheo mắt nhìn gã thầy lang, quay sang hỏi nhỏ Thầy Đề Lĩnh đang ngồi khép nép phía trước: "Thầy Đề này, ta nhìn gã thầy lang kia quen quen, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải?"

Thầy Đề Lĩnh cười móm mém, đáp: "Bẩm quan, đó là thằng Cuội, thầy lang mát tay nức tiếng ở huyện mình đấy ạ. Các quan mới về chưa biết chứ dân ở đây ai cũng rành nó cả. Nhà nó ở tít phía chân núi, có cây đa cổ thụ to lắm, còn to hơn cả cây khế nhà anh em Tham và Hiếu cơ ạ."

Nguyễn Duy nghe xong, quay sang nhìn Cẩn, giọng nói nhẹ bẫng nhưng hàm ý sâu xa: "Lê huynh thấy chưa? Gã kia nhìn như hung thần, ra tay tàn độc như muốn bẻ gãy tay người ta, nhưng thực chất lại là cứu người. Ở đời, cái vỏ bọc bên ngoài khéo đánh lừa đôi mắt lắm."

Chàng nhìn thẳng vào Cẩn, ánh mắt sắc sảo: "Nếu ta cứ vội vàng dùng cái uy của quan nha để dẹp đi những cái 'gai mắt' bề ngoài theo ý huynh, thì e rằng có ngày ta lại chính tay trừng trị người tốt mà không hay. Làm quan xử án, e là không thể chỉ tin vào mỗi đôi mắt được đâu Lê huynh ạ."

Lê Khắc Cẩn bị sửa lưng thì tẽn tò, mặt hơi đỏ lên. Hắn hừ mũi một cái, phất tay áo ra vẻ không chấp: "Đệ lại bắt đầu văn vở, dạy đời ta rồi đấy. Xong việc rồi thì đi đi, lề mề!"

Cỗ xe lại tiếp tục lăn bánh, bỏ lại khu chợ ồn ào phía sau.

Nguyễn Duy dựa lưng vào vách xe, ánh mắt nhìn xa xăm ra ngoài cửa sổ. Câu chuyện nhỏ ở chợ huyện cứ ám ảnh tâm trí chàng. Chàng khẽ nhắm mắt lại, trong đầu chỉ còn văng vẳng một ý nghĩ: "Có những thứ mắt thấy tai nghe, rành rành ra đấy, nhưng chưa chắc đã là sự thật."

Bên cạnh, Phan Tiên Sinh vẫn ngồi im lìm như tảng đá, đôi mắt lờ đờ khẽ liếc sang người bạn, khóe miệng nhếch lên một nụ cười nhạt thếch, như ngầm hiểu ý.



Cỗ xe ngựa vừa dừng lại trước cổng nha môn, bụi đường chưa kịp lắng xuống thì đã thấy một bóng người đang đứng ngồi không yên giữa đám lính gác. Đó là một lão ngư dân gầy gò, da đen nhẻm như than cháy, đang chầu chực sẵn ở ngay ngoài cổng, dáng vẻ bồn chồn như ngồi trên đống lửa.

Vừa thấy bóng dáng các quan bước xuống xe, lão vội vàng lao tới, bất chấp sự ngăn cản của lính gác, miệng la lớn: "Bẩm quan lớn! Quan lớn về rồi! Con là lão Tám Chài ở bến Vọng Khê đây ạ! Con có chuyện gấp cần bẩm báo! Có chuyện động trời ngoài biển rồi quan ơi!"

Lê Khắc Cẩn uể oải bước xuống, mặt mày sưng sỉa vì giấc ngủ bị gián đoạn. Hắn bịt tai lại trước tiếng ồn ào, gắt gỏng: "Ồn ào quá! Cái huyện này không biết phép tắc là gì sao? Hết đánh nhau ngoài chợ lại đến kêu khóc trước công đường. Đệ làm quan kiểu gì mà để dân chúng náo loạn như cái phường chèo thế này? Ta muốn yên tĩnh một chút cũng không xong!"

Nguyễn Duy không để tâm đến lời cằn nhằn của Cẩn, chàng ra hiệu cho lính không được làm khó, để ông lão đến gần.

Lão Tám bước thấp bước cao chạy lại, trên người lão mặc bộ quần áo nâu vá chằng vá đúp, ướt sũng nước biển, và đặc biệt là bốc lên một mùi tanh nồng nặc của cá tôm lâu ngày.

Vừa nhìn thấy các quan lớn, lão đã quỳ sụp xuống, dập đầu lia lịa, giọng run rẩy không thành tiếng: "Bẩm... bẩm quan lớn... con... con sợ quá..."

Lê Khắc Cẩn đứng cách xa cả trượng mà vẫn nhăn mũi, hắn rút vội chiếc khăn tay tẩm nước hoa ra che kín mặt, giọng ồm ồm quát tháo: "Khiếp quá! Ngươi là người hay là cá mắm thế? Đứng xa ra! Đừng có làm ô uế! Có chuyện gì thì nói mau lên, ấp a ấp úng làm mất thời gian vàng ngọc của ta!"

Lão ngư dân sợ hãi co rúm người lại, lắp bắp: "Dạ bẩm... sáng nay con cùng hai người bạn chài rủ nhau ra đảo Hòn Mê để bắt cua đá. Cái đảo ấy hoang vắng, nhiều hang hốc hiểm trở lắm ạ. Lúc con chui vào một cái hang sâu sát mép nước..."

Lão nuốt nước bọt, mắt trợn lên vẻ kinh hoàng: "...thì con thấy... con thấy một cái xác chết!"

"Xác chết?" Nguyễn Duy nhíu mày, bước lại gần hơn một bước. "Lão mô tả kỹ xem nào."

"Dạ... cái xác ấy mắc kẹt trong ngách đá, trương phềnh lên to lắm ạ. Nhìn qua thì là đàn ông, người béo tốt, trên người còn mặc bộ quần áo lụa là gấm vóc, dù đã rách nát tả tơi vì sóng đánh. Con... con nhìn kỹ thì thấy quen lắm... hình như... hình như là ông Tham chủ xưởng vải trên huyện mình!"

"Ông Tham?"

Lê Khắc Cẩn nghe thấy cái tên này thì khựng lại, đôi mày sâu róm nhướng lên. Hắn quay sang hỏi với vẻ ngờ nghệch: "Tham nào? Sao nghe quen quen thế nhỉ? Có phải cái gã bán thịt lợn đầu đình không?"

Thầy Đề Lĩnh đứng bên cạnh vội vàng nhắc nhỏ: "Dạ bẩm quan Phủ, không phải ạ. Ông Tham là chồng của bà Mận, cái nhà có cô người ở treo cổ mà các quan vừa đi khám nghiệm về đấy ạ."

"À!!!"

Cẩn vỗ đùi cái "đét", nụ cười hớn hở bỗng nở toác trên khuôn mặt bóng nhẫy, đôi mắt híp tịt lại vì thích thú.

"Tuyệt! Chà chà... cái huyện khỉ ho cò gáy này thế mà hôm nay lại 'được mùa' án mạng nhỉ? Sáng thì vợ giết người ở, trưa thì chồng chết trôi ngoài đảo hoang. Đúng là 'song hỷ lâm môn', họa vô đơn chí, vui đáo để!"

Nguyễn Duy nghe Cẩn dùng từ "song hỷ lâm môn" cho hai cái chết thì sa sầm mặt mày, bàn tay siết chặt lấy chuôi quạt giấy để kìm nén cơn giận. Chàng lạnh lùng nói: "Lê huynh, án mạng là chuyện đau lòng, sao huynh lại nói là vui?"

Cẩn xua tay, cười hô hố, cái bụng phệ rung lên bần bật: “Đệ cứ hay lo xa! Chết thì cũng chết rồi, buồn rầu làm gì cho mau già? Quan trọng là cái sự lạ lùng này này! Một gã lái buôn béo tốt, chết trôi dạt ra tận đảo hoang... Chà chà! Vụ này nghe còn hấp dẫn hơn cả đi xem hội! Đi! Ta phải đi xem ngay! Biết đâu chúng ta lại vớ được... à ừm... manh mối quan trọng thì sao?"

Hắn quay sang quát lão ngư dân, mặt hớn hở như đứa trẻ được mẹ cho đi chợ: "Này lão già, dẫn đường ngay! Hôm nay quan Phủ ta sẽ đích thân vi hành ra biển! Nhanh cái chân lên"

Lão Tám Chài sợ hãi gật đầu lia lịa.

Lúc này, Phan Tiên Sinh vẫn đứng im lìm ở góc sân, vẻ mặt chán chường hiện rõ. Y thở dài thườn thượt, giọng khàn khàn cất lên: "Duy... ta k-không đi đâu. Nắng... gió biển... ta ghét nước mặn. Nó làm hỏng d-da tay ta."

Với Phan, việc phải rời khỏi căn phòng tối tăm để ra biển nắng gió là một cực hình. Hắn toan xách hòm đồ nghề quay vào trong.

Nguyễn Duy vội bước tới, chặn đường bạn, giọng vừa nài nỉ vừa khích tướng: "Phan huynh, huynh không đi là không xong đâu. Cái xác ngâm nước cả tháng trời, trương phềnh, biến dạng hết cả rồi. Ngoài huynh ra, cả cái phủ này ai dám đụng vào, nói gì đến chuyện bắt nó 'khai' ra sự thật? Huynh nỡ để bí mật chìm luôn dưới đáy biển sao?"

Thấy Phan vẫn còn lưỡng lự, Duy ghé sát tai y, thì thầm câu "chốt hạ": "Nghe nói có đoàn thương buôn từ phương Bắc mới về... Xong vụ này, ta hứa sẽ lùng mua bằng được bộ dao mổ làm bằng thép bách luyện cho huynh. Nghe đồn loại thép ấy được rèn trăm lần, sắc bén tới mức thổi sợi tóc qua lưỡi dao cũng đứt làm đôi đấy."

Đôi mắt lờ đờ của Phan Tiên Sinh bỗng sáng rực lên một tia tham lam nghề nghiệp. Phan chép miệng, ngón tay gầy guộc gõ gõ vào hòm đồ: "Dao... dao b-bách luyện à?... Thôi đ-được... nể bộ dao... à không, nể đệ lần này."

Cẩn thấy mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái thì hưng phấn ra mặt, hắn phất tay áo ra lệnh như một vị tướng sắp ra trận: "Tốt! Quyết thế nhé! Người đâu! Chuẩn bị thuyền lớn!"

Nguyễn Duy nhìn theo cái dáng ục ịch của Cẩn, lắc đầu ngán ngẩm. Một bi kịch gia đình, dưới con mắt của kẻ cầm quyền hời hợt, bỗng chốc biến thành một vở kịch giải trí rẻ tiền.

Đoàn người lục tục kéo ra bến thuyền, để lại sau lưng huyện đường tĩnh mịch, bắt đầu một chuyến đi đầy sóng gió ra đảo Hòn Mê.



Con thuyền lớn tròng trành rời bến, lao mình vào vùng biển cửa sông đang mùa gió chướng. Những con sóng bạc đầu cao ngất ngưởng thi nhau chồm lên, nuốt chửng lấy con thuyền gỗ rồi lại nhả ra, khiến nó lắc lư dữ dội như chiếc lá khô giữa dòng nước xoáy.

Mới ra khỏi cửa biển được chừng nửa canh giờ, cái phong thái uy nghi, hống hách ban đầu của Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đã biến mất sạch sành sanh, như bọt sóng tan vào hư vô.

Cẩn nằm bẹp dí trên sạp thuyền, cái bụng phệ rung lên bần bật theo từng nhịp sóng. Mặt hắn xanh mét như tàu lá chuối, mồ hôi vã ra như tắm, làm trôi tuột cả lớp phấn sáp, để lộ làn da sần sùi bóng nhẫy. Chiếc mũ cánh chuồn bị vứt lăn lóc một xó, tà áo gấm thêu rồng phượng giờ đây nhăn nhúm, lấm lem vì... bãi nôn của chính chủ nhân.

"Ọe... Ọe..."

Cẩn ôm chặt lấy cái chậu gỗ, nôn thốc nôn tháo ra đến cả mật xanh mật vàng. Hắn vừa nôn vừa rên rỉ, giọng méo xệch đi vì kiệt sức nhưng vẫn cố giữ cái thói hách dịch: "Duy... thằng Duy đâu... Đệ... Ọe... Đệ hại ta rồi!? Ta chết mất... Ta mà có mệnh hệ gì... ta sẽ tâu lên triều đình... cách chức đệ! Ọe..."

Hắn quay sang quát đám lính chèo thuyền đang gồng mình chống chọi với sóng gió: "Lũ ăn hại! Chèo nhẹ thôi! Muốn giết quan à? Đứa nào làm thuyền lắc nữa ta chém đầu!”

Đám lính lệ nhìn nhau ngán ngẩm, nhưng vẫn phải nín nhịn, cử một người chạy lại đỡ lấy lưng quan lớn mà xoa bóp, dỗ dành như dỗ trẻ con.

Trái ngược hoàn toàn với vẻ thảm hại của Cẩn, ở một góc khuất gió phía sau lái, Phan Tiên Sinh ngồi im lìm như một pho tượng gỗ. Sóng đánh nước bắn tung tóe ướt đẫm cả vạt áo trắng toát, nhưng Phan chẳng hề bận tâm. Đôi mắt lờ đờ, vô hồn của y nhìn chằm chằm vào khoảng không xa xăm nơi chân trời xám xịt, dường như cái sự rung lắc dữ dội này chẳng ảnh hưởng gì đến hệ thần kinh của y.

Hai tay Phan ôm khư khư chiếc hòm gỗ mun đựng đồ nghề ngỗ tác vào lòng, cẩn trọng và nâng niu như người mẹ ôm đứa con mới lọt lòng. Với Phan, mạng sống của mình có thể bỏ, nhưng bộ dao mổ và những dụng cụ trong chiếc hòm kia thì tuyệt đối không được để dính nước mặn. Thỉnh thoảng, Phan lại lẩm bẩm một mình, ngón tay gõ gõ lên nắp hòm theo một nhịp điệu quái đản nào đó, hoàn toàn tách biệt với thế giới hỗn loạn xung quanh.

Gần cột buồm chính, Thầy Đề Lĩnh già cả, mặt mũi tái mét không còn giọt máu, đang nhắm tịt mắt, hai tay ôm chặt cứng lấy thắt lưng to bản của Đội trưởng Trần Hùng như người chết đuối vớ được cọc. Trần Hùng thì vẫn đứng tấn vững chãi như bàn thạch mặc cho con thuyền chao đảo, khuôn mặt lạnh lùng không chút biến sắc, trở thành cái trụ vững chắc duy nhất cho ông thư lại già yếu bóng vía bám víu.

Ở phía mũi thuyền, Nguyễn Duy đứng sừng sững, hai tay chắp sau lưng, mặc cho gió biển quất mạnh vào tà áo và mái tóc đen nhánh. Chàng nheo mắt nhìn về phía hòn đảo đen trũi đang hiện ra mờ mờ trong màn sương mù dày đặc phía trước, đảo Hòn Mê.

"Hòn Mê..." Duy thầm thì.

Đó là một hòn đảo hoang vắng, lởm chởm đá tai mèo, nổi tiếng với những hang động sâu hun hút và dòng nước xoáy nguy hiểm, chẳng mấy ngư dân dám bén mảng tới gần trừ khi đi bắt cua đá vào ngày lặng gió. Một nơi khỉ ho cò gáy, quanh năm chỉ có tiếng sóng vỗ và tiếng chim biển kêu than.

Trong đầu Duy lúc này là một mớ câu hỏi ngổn ngang.

Theo lời bà Mận, ông Tham được "chim thần" chở đi lấy vàng ở "Đảo Vàng". Nhưng thực tế, cái xác lại nằm chết rữa trong một hang động tối tăm, ẩm ướt ở cái đảo chết chóc này.

"Tại sao lại là ở đó?" Duy tự vấn.

Nếu là bị cướp giết, tại sao hung thủ lại mất công mang xác ra tận đảo xa xôi này để giấu? Vứt xuống biển làm mồi cho cá chẳng phải nhanh gọn hơn sao?

Hay là... ông Tham tự mình đến đó?

Một con sóng lớn bất ngờ ập tới, đánh mạnh vào mạn thuyền khiến bọt nước trắng xóa bắn lên tận mặt Duy. Vị mặn chát của nước biển thấm vào môi chàng.

Gần đó, lão Tám Chài đang cố ghì chặt tay chèo, thấy sóng dữ thì cau mày đầy thắc mắc. Lão nhìn trời, nhìn nước rồi lẩm bẩm trong tiếng gió rít: "Quái lạ thật! Mới sáng sớm nay lúc tôi đi, trời còn quang mây tạnh, mặt biển êm ru như cái ao làng cơ mà. Sao tự dưng giờ sóng lại dựng đứng lên như muốn nuốt chửng người ta thế này?"

Lão nheo mắt nhìn dòng nước xoáy đang cuộn lên sùng sục, rồi bất chợt vỗ trán cái "bộp", vẻ mặt bừng tỉnh: "Chết chửa! Lão quên khuấy mất! Hôm nay là ngày 'Nước Rằm tháng Sáu'. Dân chài lão luyện mới nhớ là ngày này cứ đến giờ Ngọ là có 'sóng dựng' bất ngờ, dù trời không có giông bão. Hèn chi sóng to thế này, người không rành đường nước mà đi biển giờ này thì dễ bỏ mạng như chơi."

Phía sau lưng, tiếng nôn ọe của Lê Khắc Cẩn vẫn vang lên không ngớt, xen lẫn tiếng chửi bới om sòm, tạo nên một bản hòa ca bi hài giữa biển khơi mênh mông.



Con thuyền to neo lại cách bờ đá lởm chởm của đảo Hòn Mê chừng mươi trượng vì sợ đá ngầm đâm thủng đáy. Trước mặt họ, cửa hang đen ngòm như cái miệng khổng lồ của thủy quái đang há ra chờ đợi, bên trong vọng ra tiếng sóng vỗ ầm ầm vào vách đá, tạo nên những âm thanh rợn người như tiếng kêu khóc từ cõi âm.

Vì cửa hang hẹp và nhiều đá tảng nhô lên sắc lẹm, thuyền lớn không thể vào được. Đội trưởng Trần Hùng nhanh chóng hạ một chiếc thuyền nan nhỏ xuống, trực tiếp cầm lái để đưa mọi người vào trong.

Chuyến đầu tiên, Trần Hùng chở ba người quan trọng nhất: Quan Phủ Lê Khắc Cẩn, Quan Huyện Nguyễn Duy và ngỗ tác Phan Tiên Sinh.

Trần Hùng chống mạnh mái chèo xuống dòng nước xoáy, bắp tay cuồn cuộn nổi lên như gọng kìm sắt, khéo léo lách con thuyền nhỏ len lỏi qua những tảng đá tai mèo sắc nhọn. Nước biển đen ngòm, lạnh buốt thỉnh thoảng lại tạt vào mạn thuyền.

Vừa chui qua vòm hang thấp tè, bóng tối đặc quánh như mực tàu ập xuống, nuốt chửng lấy con thuyền nhỏ. Không gian bên trong ẩm ướt và lạnh lẽo thấu xương, tiếng nước nhỏ giọt tong tong từ trần hang xuống mặt nước đen ngòm tạo nên những âm thanh đơn điệu, rợn người.

Nhưng đáng sợ hơn cả bóng tối là thứ mùi kinh hoàng đang xâm chiếm lấy khứu giác của mọi người. Đó là sự hòa quyện giữa mùi tanh nồng của muối biển lâu ngày, mùi ngai ngái của rêu mốc mục nát, và đậm đặc hơn cả, lấn át tất cả, là mùi thịt da đang trong quá trình phân hủy mạnh.

"Ọe... Ọe..." Lê Khắc Cẩn rú lên, mặt tái xanh không còn giọt máu. Hắn vội vàng úp chặt cái khăn tẩm hương liệu vào mũi, nhưng thứ mùi tử khí oan nghiệt kia dường như xuyên qua cả lớp vải, xộc thẳng vào óc. Hắn vừa nôn khan vừa gào lên trong hoảng loạn: "Trần Hùng! Chèo nhanh lên! Ta ngạt thở mất! Cái chỗ quỷ quái gì thế này?"

Mặc kệ sự la hét của quan trên, Trần Hùng vẫn bình tĩnh cho con thuyền cập vào một bãi đá nhỏ nhô lên giữa dòng nước đen. Y nhảy xuống trước, nhanh chóng cột dây thuyền vào một mỏm đá tai mèo sắc nhọn, rồi rút ra một cây đuốc lớn, châm lửa.

"Phùng!"

Ngọn lửa bùng lên, xé toạc màn đêm trong hang động. Ánh sáng vàng vọt, chập chờn soi rọi vào những ngóc ngách sâu thẳm nhất, và rồi, hiện trường vụ án dần dần lộ diện ra trước mắt mọi người một cách kinh hoàng.

Nằm kẹt cứng trong một ngách đá hẹp, nơi thủy triều vừa mới rút xuống để lộ ra lớp rêu trơn tuột, là một khối hình thù kỳ dị, trương phềnh và trắng bệch.

Đó là một cái xác không còn giữ được hình người nguyên vẹn. Thi thể đã bị biến dạng hoàn toàn do ngâm nước, lớp da bên ngoài chuyển sang màu trắng đục, nhợt nhạt như mỡ đông, nhiều chỗ bong tróc nham nhở lộ ra lớp thịt đỏ lòm bên trong. Toàn bộ cơ thể sưng phồng lên như một con nhộng khổng lồ, chèn chặt vào hốc đá, trông vừa gớm ghiếc vừa thảm hại.

Tuy nhiên, bộ quần áo trên người cái xác, dù đã rách nát tả tơi vì sóng đánh vẫn ánh lên những sợi kim tuyến lấp lánh dưới ánh đuốc. Đó chính là loại gấm thượng hạng độc quyền của xưởng vải nhà ông Tham, không lẫn đi đâu được. Cộng thêm cái vóc dáng béo tốt phình ra ngoại cỡ kia, dù mặt mũi đã biến dạng, nhưng ai nấy nhìn vào đều ngờ ngợ nhận ra ngay đó chính là vị thương gia mất tích.

Phan Tiên Sinh không nói một lời, xách hòm đồ nghề bước tới, đôi mắt vô hồn bỗng trở nên sắc lạnh. Phan đeo găng tay, bắt đầu sờ nắn lên làn da trơn tuột, lạnh ngắt của tử thi mà không hề tỏ vẻ ghê tởm.

"Xác chết đã lâu..." Phan Tiên Sinh nhận định, giọng vang vọng trong vòm hang. "Ngâm nước lâu ngày, nội tạng thối rữa sinh khí làm trương phềnh cơ thể. Nhưng..."

Phan Tiên Sinh dừng lại ở đôi tay của nạn nhân. Phan ra hiệu cho Trần Hùng soi đuốc lại gần.

Điều kỳ lạ nhất nằm ở đây. Dù toàn thân đã trương phình, rệu rã, nhưng hai bàn tay của ông Tham vẫn nắm chặt cứng, các ngón tay co quắp lại như gọng kìm sắt, không thể cạy ra được.

"Đây là chứng 'Thi cương'..." Phan lẩm bẩm giải thích cho Duy, dùng từ ngữ của người trong nghề. "Người chết trong lúc kinh hoàng tột độ, hoặc đang dùng hết sức bình sinh để nắm giữ một vật gì đó… khiến gân cốt co rút lại ngay tức khắc, giữ chặt vật trong tay đến tận lúc da thịt nát rữa cũng không buông."

Phan Tiên Sinh cẩn thận dùng một cây kẹp bằng bạc, tách nhẹ kẽ ngón tay trái của tử thi. Một vật màu đen nhánh lộ ra. Đó là một chùm lông chim.

Nhưng không phải lông chim thường. Sợi lông to bản, dài cả gang tay, đen mượt như nhung nhưng lại cứng và sắc như thép nguội.

Lê Khắc Cẩn đứng từ xa nhìn thấy thì mắt trợn tròn, quên cả bịt mũi, lắp bắp: "Trời đất ơi! Cái... cái gì thế kia? Lông... lông chim gì mà to như cái quạt thế này? Chẳng lẽ... ở cái đảo hoang này có yêu quái?"

Nguyễn Duy không vội kết luận. Chàng nhìn sang bàn tay phải của nạn nhân. Bàn tay này cũng nắm chặt, nhưng vật bên trong lại là một mảnh vải bố thô, loại vải dày thường dùng để may bao tải hoặc túi đựng hàng. Mép của mảnh vải nham nhở, tưa ra.

Duy cầm ngọn đuốc, cúi thấp người xuống soi kỹ mặt nền đá ngay dưới bàn tay phải của ông Tham.

"Các huynh nhìn này." Duy chỉ tay vào một vết xước sâu hoắm, trắng hếu trên nền đá phủ rêu xanh, nằm ngay sát cổ tay nạn nhân. "Đây là vết chém. Một vết chém rất mạnh bằng dao hoặc rựa, chém trượt xuống nền đá, và còn rất mới."

Đúng lúc đó, tiếng mái chèo khua nước bì bõm vang lên vọng lại từ phía cửa hang. Trần Hùng đã quay trở lại với chuyến thuyền thứ hai, trên thuyền có Thầy Đề Lĩnh mặt cắt không còn giọt máu và lão Tám Chài đang run lẩy bẩy như cầy sấy.

Vừa bước lên bãi đá, còn chưa kịp để lão Tám hoàn hồn trước cái xác kinh dị kia, Nguyễn Duy đã bước tới, chỉ tay thẳng vào khoảng trống bên cạnh cái xác và vết chém mới toanh trên nền đá, hỏi dồn:

"Lão Tám! Lão bình tĩnh nghe ta hỏi đây. Hai người bạn chài cùng đi với lão lúc sáng đâu rồi? Và vết chém kia..." Duy chiếu ánh đuốc vào vết xước trắng hếu, "...bụi đá còn chưa kịp bay hết, rất mới. Có phải lúc lão phát hiện xác, ở ngay vị trí đó có một vật gì khác không?"

Lão Tám giật mình thon thót, nheo mắt nhìn vết chém, rồi gật đầu lia lịa, vẻ mặt đầy hoang mang tột độ: "Dạ... dạ bẩm quan... quả đúng là có! Lúc sáng, ở ngay tay ông Tham chỗ vết chém ấy có một cái túi vải to lắm, căng phồng, chắc phải đến mười gang tay. Lúc ấy, hai gã bạn chài đi cùng con cứ sấn lại đòi mở túi. Con sợ đụng chạm đến người chết thì xui xẻo nên cản lại. Thế là chúng nó giục con chạy về báo quan, còn chúng nó tình nguyện ở lại đây canh xác cho khỏi trôi. Con tin lời nên lên thuyền chạy về... "

Duy chỉ vào mảnh vải trong tay ông Tham, giọng đanh thép: "Sự việc đã rõ. Ông Tham chết khi tay vẫn sống chết giữ chặt quai của cái túi mười gang đó. Lực co cứng tử thi mạnh đến mức hai gã ngư dân kia không tài nào gỡ tay ông ấy ra được để lấy cái túi."

Chàng mô phỏng lại động tác chém xuống: "Vì lòng tham làm mờ mắt, chúng đã lừa lão Tám đi để độc chiếm. Chúng dùng dao chặt mạnh vào quai túi để cắt đứt nó. Nhát dao quá mạnh đã chém sém xuống nền đá tạo ra vết xước kia. Sau đó, chúng ôm cái túi bỏ trốn, để lại ông Tham nằm đây với một mẩu quai túi vụn nát trong tay."

Duy quay phắt sang lão Tám, ánh mắt sắc lạnh: " Lão Tám, chúng là ai?"

Lão Tám nuốt nước bọt, ấp úng đáp: "Dạ bẩm... tụi nó là hai anh em thằng Sứa và thằng Hến. Dân ngụ cư, mới dạt về bến Vọng Khê làm nghề chài lưới được vài tháng nay thôi ạ. Tính tình cũng... cũng tham lam vặt vãnh lắm ạ."

Lê Khắc Cẩn nghe đến đoạn "cướp đoạt tài sản" và "túi to mười gang" thì máu tham trong người nổi lên, dù chưa biết bên trong có gì nhưng hắn đoán chắc là của nả giá trị của nhà buôn giàu có. Hắn giậm chân bình bịch xuống nền hang ướt át, gào lên: "Cái lũ dân đen to gan! Dám hôi của ngay trước mũi quan nha à? Trần Hùng! Ngươi còn đứng đó làm gì? Mau cho lính lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm cho ta! Phải tóm cổ bằng được hai thằng ăn cắp đó về đây! Cái túi to thế kia, chắc chắn chứa nhiều... à ừm... tang vật quan trọng lắm! Không được để thất thoát dù chỉ một hào!"

Trong khi tiếng gào thét tiếc của của Cẩn vẫn vang vọng khắp vòm hang, Phan Tiên Sinh dường như đã tự tách mình ra khỏi sự ồn ào trần tục ấy. Phan cúi rạp người, bàn tay đeo găng lụa cẩn trọng luồn vào bên trong lớp áo lụa đã mục nát, dò dẫm tìm kiếm ở vị trí túi áo ngực, nơi con người ta thường cất giữ những gì quý giá nhất, sát ngay trái tim.

Đột nhiên, động tác của Phan khựng lại.

"Duy..." Giọng Phan khẽ vang lên, nhưng đủ để kéo Nguyễn Duy ra khỏi dòng suy nghĩ. "Có t-thứ này..."

Từ trong lớp áo nhớp nhúa, Phan từ từ rút ra một vật nhỏ, giơ lên trước ánh lửa bập bùng.

Đó không phải là vàng thỏi, cũng chẳng phải ngọc quý. Đó là một cây trâm cài tóc bằng bạc. Thứ kim loại vốn sáng lấp lánh nay đã xỉn màu đen kịt vì ngâm nước mặn quá lâu.

Nguyễn Duy cầm lấy cây trâm, cảm nhận cái lạnh lẽo của nó truyền qua đầu ngón tay. Chàng nheo mắt, soi thật kỹ dưới ánh đuốc. Lớp bạc tuy đã xỉn, nhưng vẫn lộ ra một hình khắc nhỏ xíu ở phần đầu trâm: Một đóa hoa sen đang nở, nét khắc tinh xảo nhưng đã mòn vẹt đi nhiều, chứng tỏ chủ nhân của nó đã dùng rất lâu, rất trân trọng.

"Một cây trâm cũ..." Duy lẩm bẩm, ánh mắt trở nên xa xăm, đầy hoài nghi. "Tại sao một thương nhân giàu có, chết đuối ở trong cái hang này, lại cất giữ một vật trang sức của phụ nữ?"

Cây trâm này là của ai?

Trong khi mọi người đang bị cuốn vào bí ẩn của cây trâm bạc, thì một tiếng sấm rền vang vọng từ ngoài khơi dội vào vách đá, khiến cả hang động rung chuyển như muốn sập xuống. Gió bắt đầu thốc mạnh vào cửa hang, mang theo hơi nước lạnh buốt và tiếng gầm gào của biển cả đang nổi giận.

Lão Tám Chài ngước nhìn ra cửa hang, mặt biến sắc. Lão hốt hoảng la lên, giọng lạc đi trong tiếng gió: "Chết rồi! Giông tới! Giông tới rồi các quan ơi! Nước Rằm tháng Sáu độc lắm, mây đen kéo kín trời rồi kìa. Chúng ta phải rút mau thôi, chậm chút nữa sóng đánh lấp cửa hang là cả lũ chết chùm ở đây đấy!"

Lê Khắc Cẩn nghe thấy chữ "chết chùm" thì hồn xiêu phách lạc. Hắn vội vàng che mũi, vừa chạy ra phía thuyền nan vừa gào thét: "Về! Về ngay! Ta không muốn chết ở cái xó xỉnh hôi thối này! Trần Hùng! Mau đưa ta ra!"

Nguyễn Duy nhìn sắc trời đen kịt bên ngoài, gật đầu ra lệnh: "Được, chúng ta quay về thôi! Trần Hùng, ngươi và lão Tám chịu khó khiêng cái xác ra thuyền. Phan huynh, huynh cầm giúp ta túi vật chứng."

Trần Hùng không nề hà, xắn tay áo bước tới, dùng tấm chiếu manh rách nát mà lão Tám mang theo để bó tạm cái xác trương phềnh lại. Cái xác nặng trịch, trơn tuột vì lớp mỡ và rêu bám, tỏa ra mùi tử khí nồng nặc khiến không gian càng thêm ngột ngạt.

"Nào, lão Tám, đỡ phần chân!" Trần Hùng quát.

Lão Tám Chài run rẩy bước tới, hai tay lão bám vào đôi chân lạnh ngắt, sưng húp của ông Tham. Vừa sợ hãi vì chạm vào người chết, vừa lo lắng vì cơn giông đang ập tới, chân lão cứ díu lại vào nhau.

"Một... hai... ba! Lên!"

Cả hai nhấc bổng cái xác lên, lặc lè bước đi trên nền đá trơn trượt đầy rêu xanh.

Nhưng mới đi được vài bước, đến đoạn gần mép nước, một con sóng nhỏ bất ngờ tạt vào, làm ướt sũng phiến đá dưới chân lão Tám. Lão già luống cuống, trượt chân một cái.

"Ối giời ơi!"

Lão Tám ngã sấp mặt xuống nước. Theo quán tính, lão buông tay ra. Phần thân dưới của cái xác ông Tham bị tuột khỏi tay lão, rơi bịch xuống nền đá sắc nhọn. Một âm thanh lép nhép, ướt át vang lên khiến ai nấy đều rùng mình.

Cái xác bị va đập, cái đầu ngoẹo sang một bên, đôi mắt trợn trừng trắng dã như đang nhìn chằm chằm vào Lê Khắc Cẩn đang đứng gần đó.

"ÁÁÁ!!!" Cẩn hét lên như đàn bà, nhảy dựng ngược về phía sau, suýt nữa thì ngã tòm xuống biển. "Nó nhìn ta! Nó nhìn ta kìa! Mang nó đi chỗ khác mau!"

Trần Hùng vội vàng xốc lại cái xác, một tay túm lấy thắt lưng lão Tám kéo dậy: "Lão cẩn thận chứ! Muốn nằm lại đây luôn à?"

Lão Tám mặt cắt không còn giọt máu, lồm cồm bò dậy, miệng lảm nhảm xin lỗi rối rít rồi cùng Trần Hùng khệ nệ khiêng cái xác đặt lên chiếc thuyền nan nhỏ.

Phải mất ba chuyến chèo đi chèo lại vất vả giữa những con sóng bạc đầu, cả đoàn người và cái xác mới yên vị trên con thuyền quan nha lớn. Lúc này, mưa bắt đầu nặng hạt, quất rào rào vào mạn thuyền.

Con thuyền tròng trành dữ dội, bắt đầu quay mũi hướng về đất liền.

Trên boong thuyền, Nguyễn Duy đứng vững chãi giữa mưa gió, tà áo ướt sũng dính chặt vào người. Chàng nhìn về phía làng chài lấp ló trong màn mưa, ánh mắt sắc lẹm như tia chớp rạch ngang bầu trời.

Chàng quay sang Đội trưởng Trần Hùng, lúc này đang thở hồng hộc sau khi vận chuyển cái xác, giọng ra lệnh đanh thép át cả tiếng sấm:

"Trần Hùng! Ngươi nghe đây! Ngay khi thuyền cập bến, ngươi lập tức chia quân làm hai ngả."

"Ngả thứ nhất, phong tỏa toàn bộ các nẻo đường ra vào bến Vọng Khê, kiểm soát chặt chẽ mọi thuyền bè, không cho bất cứ ai rời đi trong đêm nay."

"Ngả thứ hai, ngươi đích thân dẫn đội tinh nhuệ nhất, lùng sục khắp các xóm chài, lật tung từng túp lều lên cho ta. Phải tìm cho ra hai tên Sứa và Hến! Bọn chúng mang theo cái túi to mười gang, lại đang có giông bão thế này, chắc chắn chưa thể chạy xa được. Phải bắt sống chúng về quy án!"

"Thuộc hạ tuân lệnh!" Trần Hùng dập gót, hô vang đầy khí thế.

Lê Khắc Cẩn ngồi co ro trong khoang thuyền, nghe thấy thế thì ló đầu ra, gào thêm vào: "Nhớ là phải tìm cho được cái túi đấy! Tang vật quan trọng lắm đấy! Mất là ta chém đầu cả lũ!"

Nguyễn Duy không đáp lời Cẩn. Chàng bước lại gần mạn thuyền, nơi Thầy Đề Lĩnh đang ngồi co ro, tay giữ chặt cái khăn xếp ướt sũng kẻo bay mất. Ông lão thư lại, sau cơn hoảng loạn ban đầu, giờ đây gương mặt đầy vẻ đăm chiêu, ánh mắt nhìn trân trân vào cái xác được phủ chiếu sơ sài.

Thấy Nguyễn Duy đến gần, Thầy Đề ngẩng lên, giọng run run nhưng đầy thắc mắc: "Bẩm quan... lão trộm nghĩ... có điều này thật không thông chút nào."

Duy ngồi xuống bên cạnh, hạ giọng: "Thầy Đề cứ nói, ta đang nghe đây."

Thầy Đề chỉ tay về phía hòn đảo Hòn Mê đang dần khuất sau màn mưa trắng xóa, rồi lại chỉ vào cái xác ông Tham: "Quan ngẫm mà xem. Bà Mận một mực nói ông Tham được chim thần chở đi lấy vàng ở tận 'Đảo Vàng' xa xôi nào đó. Cứ cho là con chim có thật đi, bằng chứng là cái lông to tướng kia. Nhưng... tại sao ông ấy lại chết ở đây? Ở cái Hòn Mê khỉ ho cò gáy này?"

Ông lão lắc đầu quầy quậy: "Lão sống ở cái đất này gần hết đời người, lão lạ gì cái đảo chết tiệt ấy. Ngoài đá tai mèo sắc như dao, hang động tối tăm và lũ dơi hôi hám ra, thì đào đâu ra vàng? Nếu con chim thần linh thiêng đến thế, biết chỗ có vàng, sao nó lại thả ông ấy xuống cái chốn chết chóc này làm gì?"

Nguyễn Duy gật gù, ánh mắt sáng lên vì tìm được người đồng điệu trong suy nghĩ: "Thầy nói rất phải. Đó chính là điểm mấu chốt. Nếu ông Tham thực sự được chở đi lấy vàng, thì đích đến không thể là Hòn Mê. Trừ khi..."

"Trừ khi..." Thầy Đề nuốt nước bọt, giọng run run pha lẫn hoang mang tột độ. "Trừ khi cái 'Đảo Vàng' ấy vốn dĩ không tồn tại! Hoặc là... con chim quỷ quái kia đã thả ông ấy xuống nhầm chỗ?"

Duy nheo mắt nhìn màn mưa trắng xóa, lòng cũng rối bời như tơ vò: "Nhưng thầy xem, tay ông ấy nắm chặt quai túi, và lão Tám khẳng định cái túi căng phồng, rất nặng. Nếu ông ấy chỉ loanh quanh ở Hòn Mê, nơi toàn đá sỏi, thì thứ gì ở trong cái túi mười gang đó mà khiến ông ấy sống chết giữ gìn, và khiến hai kẻ kia mờ mắt làm liều?"

Cả hai người đàn ông nhìn nhau, sự sợ hãi len lỏi trong ánh mắt.

Tay trái nắm lông chim, chứng minh con chim huyền thoại có thật. Tay phải nắm túi, chứng minh kho báu có thật. Hai thứ mâu thuẫn ấy lại cùng hiện hữu trên một cái xác, biến câu chuyện hoang đường của bà Mận trở nên đáng tin một cách rùng rợn.

"Thầy Đề ạ," Duy thầm thì, giọng lạc đi trong tiếng gió, "Chẳng lẽ... cái huyền thoại nhảm nhí về chim thần, về đảo vàng mà chúng ta vẫn cười cợt... lại có thật sao?"

Thầy Đề rùng mình, kéo chặt vạt áo: "Lão không biết nữa quan ơi... Nhưng nhìn cái lông chim to tướng kia, lão thấy lạnh sống lưng quá."

Ánh mắt chàng sầm lại, đầy quyết đoán. "Ngay khi về đến đất liền, ta sẽ phải lập tức tra hỏi bà Mận. Bà ta là người duy nhất biết rõ đầu đuôi câu chuyện đêm hôm ấy. Và quan trọng hơn, ta cần biết chủ nhân của cây trâm này là ai. Mọi bí mật bắt đầu từ ngôi nhà đó, thì cũng sẽ phải được giải mã từ đó."

"Mắt thấy tai nghe chưa hẳn là sự thật..." Duy lẩm bẩm, để mặc cho nước mưa chảy tràn trên khuôn mặt cương nghị.

Tiếng sấm rền vang phía xa, báo hiệu lại một đêm dài không ngủ. Vụ án Hòn Mê mới chỉ bắt đầu vén lên bức màn nhung đen tối của nó.
 
Sửa lần cuối:

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
whatever_we_are_loser,
Trả lời
235
Lượt xem
13.442
Quay lại
Lên đầu trang