Chương 4
Sáng sớm, sương mù vẫn còn vương vấn trên những mái ngói cong vút của huyện đường Hoằng Hóa. Không gian tĩnh mịch, chỉ có tiếng chim sẻ rích rích trên tàng cây đa cổ thụ ngoài sân. Trong thư phòng, ngọn đèn dầu đã cạn dầu từ lâu, để lại một vệt muội đen trên bóng thủy tinh.
Quan huyện Nguyễn Duy vẫn ngồi bất động trước án thư. Đêm qua, chàng từ làng Vọng Khê trở về khi gà đã gáy canh tư, nhưng chợp mắt chưa được bao lâu thì những hình ảnh về cái xác treo cổ lại dựng chàng dậy. Khuôn mặt tuấn tú của vị quan trẻ giờ đây lộ rõ vẻ hốc hác, đôi mắt thâm quầng, vằn lên những tia máu đỏ.
Ngồi ngay cạnh chàng, trên một chiếc chõng tre nhỏ kê tạm, là Thầy Đề Lĩnh. Ông lão đang gà gật, cái đầu bạc cứ gục xuống rồi lại giật lên thon thót. Thấy Nguyễn Duy day day thái dương, Thầy Đề giật mình tỉnh hẳn, vội vàng rót một chén nước vối nóng hổi, hai tay run run dâng lên: “Bẩm quan lớn, quan uống ngụm nước cho ấm bụng. Cả đêm qua quan thức trắng rồi, cứ đà này thì đổ bệnh mất. Hay là quan cứ chợp mắt một chút, vụ án này để... để lát nữa tính tiếp ạ.”
Duy đỡ lấy chén nước, mỉm cười cảm kích nhìn người thư lại già: “Ta không sao đâu thầy Đề. Chỉ là những manh mối này cứ nhảy múa trong đầu, không tài nào ngủ được. Chuyện hai em nhà lão Tham và thầy Hiếu, rồi cái chết của con Thắm, một cái ghế sạch bong, và một nút thắt trái tay...”
Thầy Đề Lĩnh chép miệng, tháo cặp kính lão xuống lau vào vạt áo: “Lão sống ở cái huyện này mấy chục năm, chưa thấy vụ nào kỳ quái như vụ nhà bà Mận. Mà cái giống đời, càng cố nghĩ thì càng rối, quan ạ.”
Ông lão ngừng lại một chút, giọng hạ thấp xuống như đang kể chuyện ma, vẻ mặt đầy bí hiểm: “Quan cứ ngẫm mà xem, ngay từ cái gốc rễ gia đình nhà ấy đã trái khoáy rồi. Xưa nay người ta chỉ thấy anh em tranh giành nhau tấc đất tấc vàng, chứ ai đời lại đi đổi ngược đời như thế. Lão Tham thì nổi tiếng tham lam, lọc lõi, đang ở dinh cơ bề thế, đùng một cái lại nằng nặc đòi đổi xuống cái mảnh đất nhỏ xíu của chú em Hiếu. Bà Mận thì la ầm lên là vì con chim thần, chim thánh gì đó ăn khế trả vàng. Rồi giờ thì sao? Ông anh mất tích biệt tăm, để lại đống nợ. Bà chị dâu thì hóa điên hóa dại, còn con người ở thì treo cổ chết tức tưởi. Đúng là... phúc đâu chưa thấy, chỉ thấy họa vô đơn chí.”
“Bẩm quan lớn!”
Tiếng gọi của lính lệ phá tan bầu không khí tĩnh lặng. Một tên lính bước vào, cúi đầu bẩm báo: “Dạ, có khách từ kinh thành về thăm quan ạ. Xe ngựa vừa tới ngoài cổng.”
Đôi mắt lờ đờ của Duy bỗng sáng lên. Chàng đứng phắt dậy, vội vàng chỉnh lại vạt áo và khăn xếp cho ngay ngắn. Thầy Đề Lĩnh cũng lật đật đứng dậy theo, chỉnh lại cái khăn đóng xộc xệch.
“Là Phan Tiên Sinh phải không? Mau, mau mời vào phòng khách!” Duy nói giọng khấp khởi.
Chàng quay sang Thầy Đề: “Thầy Đề ơi, pha ấm trà mới đi, Phan Tiên Sinh là bạn tâm giao của ta, cũng là ngỗ tác lừng danh, có ông ấy giúp sức thì vụ án này ắt sẽ có lời giải.”
Thầy Đề nghe vậy thì mừng rỡ: “Dạ, để lão đi pha ngay. Trà Thái Nguyên loại ngon nhất huyện mình còn cất trong hũ sành đấy ạ.”
Thế nhưng, khi vừa bước chân qua ngưỡng cửa phòng khách, nụ cười rạng rỡ trên môi Nguyễn Duy vụt tắt, đông cứng lại thành một biểu cảm sững sờ pha lẫn khó chịu. Thầy Đề Lĩnh đi ngay phía sau, tay bưng khay trà nóng hổi, cũng khựng lại vì bầu không khí ngột ngạt đến khó thở.
Trong căn phòng khách đơn sơ của huyện nha, không chỉ có một mình Phan Tiên Sinh.
Ngồi lọt thỏm trong góc tối nhất của căn phòng là một nam nhân mặc y phục trắng toát, màu trắng lạnh lẽo như đồ tang, đối lập hoàn toàn với không gian xung quanh. Đó là Phan Tiên Sinh, có dáng người gầy guộc, dong dỏng cao như một cây tre khô. Gương mặt Phan trắng xanh, nhợt nhạt đến mức nhìn rõ cả những mạch máu li ti dưới da, hậu quả của việc quanh năm suốt tháng chui rúc trong những nhà xác thiếu ánh mặt trời. Đôi mắt y hẹp và dài, lúc nào cũng lờ đờ, vô cảm như mắt cá chết, chẳng mảy may quan tâm đến sự đời.
Phan ngồi đó, im lìm như một bóng ma, đôi tay gầy guộc với những ngón tay dài quá khổ đang tỉ mẩn dùng một chiếc khăn lụa lau chùi chiếc hòm gỗ mun đen bóng đặt trên đùi. Chiếc hòm chạm khắc hình hoa bỉ ngạn đỏ rực, toát lên vẻ quỷ dị. Thấy Duy bước vào, Phan chỉ khẽ ngước đôi mắt vô hồn lên, gật nhẹ một cái rồi lại cúi xuống chăm chút cho “bảo bối” của mình.
Nhưng điều khiến Nguyễn Duy gai mắt không phải là sự lạnh lùng của Phan, mà là kẻ đang ngồi chễm chệ ngay trên chiếc ghế chủ tọa, vị trí vốn dĩ chỉ dành cho quan huyện.
Đó là một gã đàn ông trạc tuổi Duy, nhưng thân hình đẫy đà, phốp pháp trong bộ áo dài gấm thượng hạng thêu kim tuyến lấp lánh. Khuôn mặt gã tròn trịa, bóng nhẫy mồ hôi dầu, đôi mắt híp lại vì béo nhưng ánh lên vẻ tinh ranh và hợm hĩnh. Trên ngón tay cái đeo một chiếc nhẫn ngọc bích to tướng, cổ đeo chuỗi hạt trầm hương đắt tiền.
Đó là Lê Khắc Cẩn, Quan Tri Phủ, kẻ đang nắm giữ phẩm hàm cao hơn chức Tri huyện của Duy đến hai bậc, và cũng là bạn đồng niên thời còn dùi mài kinh sử cùng Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh. Một kẻ sinh ra đã ngậm thìa vàng, con nhà danh gia vọng tộc, đường quan lộ được trải thảm đỏ nhờ thế lực gia đình chứ chẳng phải nhờ tài cán gì cả.
Cẩn ngồi ngả ngớn, chân vắt chữ ngũ rung đùi liên hồi khiến cả cái ghế gỗ kẽo kẹt như muốn gãy. Hắn cầm chén trà nóng mà thầy Đề Lĩnh vừa rót, đưa lên soi dưới ánh sáng ban mai, rồi nhăn mặt, chép miệng đầy vẻ khinh bỉ.
Hắn thẳng tay hắt toẹt chén trà xuống nền gạch tàu, ngay sát chân Thầy Đề Lĩnh, khiến ông lão giật bắn mình lùi lại, nước trà nóng bắn cả vào gấu quần.
“Chà... trà này mà đệ cũng dám mang ra mời khách quý đấy à?” Cẩn rút chiếc khăn tay thêu hoa ra lau mấy ngón tay múp míp, giọng kéo dài đầy vẻ mỉa mai. “Đắng ngắt, nước thì đục ngầu như nước ruộng. Cái huyện Hoằng Hóa này nghèo đến mức quan huyện không mua nổi một lạng trà Thái Nguyên thượng hạng để uống hay sao? Lại còn để cái lão già lẩm cẩm này pha trà, hỏng hết cả vị.”
Thầy Đề Lĩnh mặt đỏ bừng vì tủi nhục, tay run run chắp lại định phân bua: “Bẩm quan lớn... trà này là loại ngon nhất...”
Nhưng Nguyễn Duy đã bước lên một bước, chắn trước mặt Thầy Đề, hít một hơi thật sâu nén cục tức đang dâng lên trong cổ họng.
Nguyễn Duy chắp tay, cúi đầu hành lễ đúng phép tắc của cấp dưới: “Đệ không biết Lê huynh... à không, bẩm Quan Phủ đại nhân giá lâm, tiếp đón không chu đáo, mong đại nhân thứ tội. Thầy Đề đây là người cũ của nha môn, tận tụy bao năm, mong đại nhân bỏ quá cho sự vụng về của người già.”
Cẩn cười khẩy, tiếng cười phát ra từ cổ họng nghe như tiếng gà mắc tóc. Hắn phẩy tay, coi như Thầy Đề không tồn tại: “Thôi thôi, chỗ bạn bè đồng niên, đệ cứ câu nệ làm gì. Ta đang đi tuần thú qua phủ, tình cờ gặp Phan huynh ở trạm dịch đang trên đường đến thăm đệ. Thấy Phan huynh cứ lầm lì chẳng nói năng gì, ta sợ đệ buồn nên tạt qua xem sao.”
Nói đoạn, hắn nheo mắt nhìn kỹ khuôn mặt Nguyễn Duy, tặc lưỡi: “Mà sao trông đệ thảm hại thế kia? Mới sáng sớm ra đã mặt mày bơ phờ, râu ria lởm chởm như kẻ mất hồn. Làm quan huyện ở cái chốn khỉ ho cò gáy, yên bình tẻ nhạt này mà cũng mất ngủ à? Hay là lại lo nghĩ chuyện thế thái nhân tình vớ vẩn?”
Nguyễn Duy thở dài, đưa tay vuốt mặt, giọng trầm xuống: “Bẩm, chẳng giấu gì các huynh, huyện vừa xảy ra một vụ trọng án đêm qua. Một cô người ở treo cổ chết tại làng Vọng Khê. Tình tiết có quá nhiều uẩn khúc, hiện trường lại kỳ quái khiến đệ phải thức trắng đêm để xử lý mà vẫn chưa đâu vào đâu.”
Thầy Đề Lĩnh đứng nép sau lưng Duy, cũng rụt rè đế thêm vào: “Dạ bẩm quan Phủ, vụ này lạ lắm ạ. Người chết thì treo cổ mà cái ghế lại sạch trơn...”
Lê Khắc Cẩn trừng mắt nhìn Thầy Đề khiến ông lão im bặt, rồi quay sang Duy, đôi mắt híp bỗng mở to, sáng rực lên vẻ thích thú như đứa trẻ con vớ được món đồ chơi mới. Hắn vỗ đùi đánh “đét” một cái, ồm ồm nói:
“Chết người ư? Chà, trùng hợp thật! Ta đang buồn chán muốn chết vì suốt đường đi tuần thú chẳng có gì vui, toàn mấy vụ kiện tụng tranh chấp đất cát vặt vãnh. Vụ này hay đây! Ta nể tình bạn cũ, lại cũng tò mò muốn xem tài năng xử án của vị ‘Thám hoa’ lừng lẫy năm nào giờ ra sao. Quyết định thế nhé, ta sẽ đi cùng đệ để... khụ khụ... ‘chỉ đạo’ và giám sát.”
Nguyễn Duy và Thầy Đề Lĩnh đưa mắt nhìn nhau đầy ngán ngẩm. Với tính cách của Cẩn, sự “chỉ đạo” này chẳng khác nào thêm dầu vào lửa, chỉ tổ làm rối thêm sự việc.
Đúng lúc đó, từ góc phòng tối tăm, một âm thanh lạch cạch vang lên. Phan Tiên Sinh, kẻ nãy giờ vẫn ngồi im như tượng gỗ, thờ ơ với mọi sự khoe mẽ của Cẩn, vừa nghe thấy cụm từ “cô người ở, xác chết treo cổ” thì bỗng nhiên thay đổi thái độ. Đôi mắt vô hồn của y ánh lên một tia sáng lạnh lẽo, sắc lẹm.
Phan đứng phắt dậy, động tác nhanh nhẹn đến kỳ lạ. Y xách chiếc hòm gỗ mun lên, bước ra giữa phòng, cắt ngang lời huyên thuyên của Cẩn bằng một chất giọng khàn khàn, ngắt quãng đặc trưng: “X-Xác... xác còn đó k-không Duy? D-Dẫn đường cho ta x-xem thử.”
Cẩn bị cắt ngang thì hơi cau mày khó chịu, nhưng dường như cũng kiêng dè cái khí chất quái dị của Phan nên không dám ho he. Hắn đứng dậy, chỉnh lại đai ngọc trên bụng, hất hàm ra lệnh cho Duy: “Đi thôi! Còn chần chừ gì nữa? Đệ định để quan trên chờ đến bao giờ?”
Bốn người bước ra sân huyện đường. Cỗ xe ngựa của huyện nha tuy sạch sẽ nhưng kích thước lại khiêm tốn, vốn chỉ vừa đủ cho ba người ngồi thoải mái đang đợi sẵn. Lê Khắc Cẩn vừa nhìn thấy đã nhíu mày, vẻ mặt đầy ái ngại, hắn lấy tay phe phẩy chiếc quạt, giọng đầy vẻ chê bai: “Đi cái xe này á? Đệ không đùa ta chứ? Bốn người đàn ông chen chúc trong cái hộp này thì còn gì là phong thái quan nha? Chật chội thế này thì hỏng hết cả áo gấm của ta mất!”
Thầy Đề Lĩnh vội vàng chạy lại, khom lưng nói: “Bẩm quan lớn, để con bảo thằng đánh xe dọn dẹp lại...”
“Thôi dẹp đi! Lằng nhằng!” Cẩn gạt phắt đi, rồi miễn cưỡng leo lên xe vì không muốn chờ đợi xe riêng của mình đánh vào. Hắn ngồi phịch xuống, thân hình phốp pháp choán hết hơn nửa băng ghế, ép Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh dạt cả vào góc.
Thầy Đề Lĩnh lật đật leo lên ngồi cạnh bác đánh xe phía trước, không dám ngồi chung với các quan lớn. Suốt dọc đường đi, Cẩn liên tục cựa quậy, than ngắn thở dài vì chỗ ngồi chật hẹp, chốc chốc lại huých vào người Nguyễn Duy một cái đầy vô ý, miệng lầm bầm chửi đổng cái đường làng xóc nảy.
Cỗ xe lăn bánh, tiếng gỗ kêu kẽo kẹt dưới sức nặng quá tải, để lại sau lưng huyện đường Hoằng Hóa, hướng thẳng về phía làng Vọng Khê, nơi tử thi lạnh lẽo đang chờ đợi để kể câu chuyện oan khuất của mình.
—
Cỗ xe ngựa của huyện nha lọc cọc dừng lại trước cổng căn nhà gạch nhỏ của bà Mận. Khung cảnh nơi đây tiêu điều, ảm đạm, bị bao phủ bởi lớp sương mù dày đặc và cái lạnh buốt giá của gió biển. Lính lệ canh gác bên ngoài thấy quan lớn đến thì vội vàng dập gót, cúi rạp người hành lễ, khuôn mặt ai nấy đều phờ phạc sau một đêm dài canh giữ xác chết.
Lê Khắc Cẩn bước xuống xe đầu tiên. Hắn nhăn mặt, nhón chân trên nền đất ẩm ướt như sợ làm bẩn đôi hài thêu rồng phượng của mình. Vừa hít phải luồng không khí ẩm mốc pha lẫn mùi tanh nồng đặc trưng của vùng cửa biển, Cẩn vội vàng rút chiếc khăn tay tẩm hương liệu ra che kín mũi, bộ dạng đầy vẻ ghê tởm.
“Cái chốn khỉ ho cò gáy này mà cũng có người ở được sao? Hôi hám, bẩn thỉu!” Hắn lầm bầm, liếc nhìn căn nhà gạch nhỏ bé, tuềnh toàng với ánh mắt khinh miệt.
Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh bước xuống theo sau. Khác với vẻ đỏm dáng của Cẩn, Duy lập tức quan sát tình hình lính canh.
Đội trưởng Trần Hùng thấy quan huyện đến, vội vàng chỉnh đốn trang phục, rảo bước tới trước mặt, dập gót hành lễ dõng dạc: “Bẩm quan lớn! Thuộc hạ cùng mọi người đã canh gác nghiêm ngặt suốt đêm qua. Hiện trường vẫn được giữ nguyên trạng, nội bất xuất, ngoại bất nhập.”
Nguyễn Duy gật đầu hài lòng, rồi quay sang giới thiệu với giọng nghiêm trang: “Tốt lắm. Trần Hùng, mau ra mắt hai vị khách quý. Vị mặc áo gấm đây là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đại nhân, cấp trên của ta, đang đi tuần thú qua huyện, đích thân ghé xuống đây để giám sát vụ án.”
Trần Hùng nghe đến danh “Quan Tri Phủ”, lại thấy phẩm phục lấp lánh thì giật mình thon thót, vội vàng quỳ một chân xuống, chắp tay vái lạy còn cung kính hơn cả với Duy: “Tiểu nhân Trần Hùng, Đội trưởng lính lệ huyện Hoằng Hóa, tham kiến Quan Phủ đại nhân!!”
Lê Khắc Cẩn chỉ liếc mắt nhìn xuống bằng nửa con mắt, tay vẫn phe phẩy chiếc quạt che mũi, hừ mũi một cái: “Thôi, miễn lễ. Trông ngươi to xác đen trùi trũi thế kia mà cũng biết phép tắc đấy.”
“Dạ! Tiểu nhân không dám!” Trần Hùng toát mồ hôi hột, lùi lại một bước.
Nguyễn Duy tiếp tục chỉ tay về phía người đàn ông mặc áo trắng đang đứng lặng lẽ như một bóng ma bên cạnh xe: “Còn đây là Phan Tiên Sinh, ngỗ tác lừng danh của Hình Bộ kinh thành, là bạn tâm giao của ta. Ông ấy sẽ trực tiếp khám nghiệm tử thi hôm nay. Các ngươi phải tuyệt đối nghe theo sự sắp xếp của ông ấy.”
Trần Hùng ngước lên nhìn Phan Tiên Sinh với ánh mắt tò mò pha lẫn e dè, định cất tiếng chào. Nhưng Phan Tiên Sinh dường như không nghe thấy gì, cũng chẳng màng đến sự hiện diện của đám người xung quanh. Đôi mắt vô hồn của y dán chặt vào cánh cửa gỗ đóng kín của gian bếp, nơi tử khí đang len lỏi qua từng khe hở, mũi khẽ hít hít như đang đánh hơi thấy mùi vị quen thuộc.
Khi bước đến trước cửa gian bếp, mùi xú uế bốc ra nồng nặc hơn. Lê Khắc Cẩn đứng tít ngoài sân, cách xa cả trượng, một tay bịt mũi, tay kia phe phẩy chiếc quạt giấy, quát tháo ầm ĩ:
“Này! Lũ lính đâu! Cái mùi chết chóc này làm ta buồn nôn quá! Lôi... mau lôi cái xác đó ra sân cho thoáng đãng mà khám! Việc gì phải chui rúc vào cái xó bếp tối tăm ấy?”
Đám lính lệ nghe lệnh quan lớn, định xông vào thì một bóng trắng lướt qua họ như một cơn gió lạnh. Phan Tiên Sinh phớt lờ hoàn toàn mệnh lệnh của Cẩn, Phan đi thẳng vào trong bếp, không hề che mũi, thậm chí còn hít nhẹ một hơi như thưởng thức một mùi hương quen thuộc.
“G-Giữ... giữ nguyên mọi thứ!” Giọng Phan vang lên, khàn khàn nhưng đanh thép. “D-Di chuyển sẽ làm m-mất... dấu vết.”
Cẩn bị bẽ mặt trước đám lính, mặt đỏ gay lên định quát tháo, nhưng Nguyễn Duy đã vội can thiệp: “Lê huynh bớt giận, Phan huynh nói phải đấy ạ. Trong ngỗ tác pháp, hiện trường ban đầu là quan trọng nhất. Xin huynh chịu khó một chút.”
Cẩn hừ một tiếng, miễn cưỡng đứng lại ở mép cửa, không dám bước sâu vào trong, nhưng miệng vẫn lầm bầm chửi đổng về cái sự “cầu kỳ rách việc”.
—-
Bên trong gian bếp tối tăm, Phan Tiên Sinh ra hiệu cho lính hạ cái xác xuống một tấm chiếu manh trải sẵn. Hắn đeo vào đôi găng tay bằng lụa mỏng manh, động tác nhẹ nhàng, nâng niu như đang chạm vào một bảo vật dễ vỡ. Hắn gạt mớ tóc rối bù xòa trước mặt nạn nhân, để lộ vùng cổ tím tái, sưng phồng.
“Duy... Lê huynh... lại đ-đây mà xem.” Phan vẫy tay gọi, mắt không rời khỏi cổ tử thi.
Nguyễn Duy bước lại gần, ngồi xổm xuống cạnh Phan. Lê Khắc Cẩn thì đứng từ xa ngó vào, tay vẫn bịt mũi, vẻ mặt đầy sự miễn cưỡng và chán ghét.
Phan Tiên Sinh chỉ ngón tay thon dài vào cổ con Thắm, giọng nói trở nên rành mạch lạ thường, cái tật cà lăm dường như biến mất khi đắm chìm vào chuyên môn:
“Các huynh nhìn cho kỹ. Trên cổ nạn nhân có tới hai vết hằn chồng chéo lên nhau, rất rõ rệt.”
Phan miết nhẹ ngón tay theo đường viền trên da thịt tím bầm: “Vết thứ nhất mờ hơn, chạy xiên chéo ngược ngược lên phía mang tai, hở ở sau gáy. Đây là vết do dây thòng lọng treo cổ tạo ra khi trọng lượng cơ thể kéo xuống.”
“Nhưng...” Phan nhấn mạnh, ánh mắt sắc lẹm ngước lên nhìn Duy. “Quan trọng là vết thứ hai này. Nó nằm ngang, chạy vòng quanh cổ, khép kín và giao nhau ở gáy, nằm thấp hơn, ngay dưới sụn giáp. Vết này tím bầm, tụ máu sâu hơn và mép vết thương xước xát nhiều hơn.”
Nguyễn Duy gật đầu, hiểu ngay vấn đề. Nhưng Lê Khắc Cẩn ở phía sau thì bật cười khẩy, giọng đầy vẻ kẻ cả và coi thường:
“Hừ! Phan huynh quả là người kỹ tính, soi mói đến từng sợi lông chân. Nhưng theo ta, việc đó có quan trọng quái gì? Một con hầu gái chết, ắt hẳn có kẻ muốn nó chết, hoặc nó muốn tự chết. Siết hay treo thì kết quả cũng là nó đã tắt thở. Hiền đệ Duy cứ hay thích phức tạp hóa vấn đề, mời cả ngỗ tác kinh thành về chỉ để xem mấy cái vết dây thừng này à? Rõ là vẽ rắn thêm chân để tỏ ra mình tài cán!”
Nguyễn Duy đứng dậy, quay lại nhìn Cẩn, ánh mắt kiên định nhưng giọng nói vẫn giữ vẻ điềm tĩnh: “Bẩm Lê huynh, sự khác biệt này thay đổi hoàn toàn bản chất vụ án. Nếu chỉ có vết chéo ngược lên trên, thì là tự sát. Nhưng vết hằn ngang kia chứng tỏ nạn nhân đã bị siết cổ bằng dây thừng mềm từ phía sau cho đến chết trước. Sau khi nạn nhân đã tắt thở, hung thủ mới dựng hiện trường giả, treo cái xác lên để tạo ra vết chéo kia nhằm đánh lừa quan nha. Đây không phải tự sát, mà là một vụ giết người được tính toán kỹ lưỡng.”
Lê Khắc Cẩn nghe xong thì cứng họng. Hắn đảo mắt liên hồi, cố tìm lời để phản bác nhưng không được, đành hừ lạnh một tiếng, phẩy tay áo: “Thì... thì ta đã bảo là không quan trọng mà. Giết hay tự sát thì cũng phải bắt được hung thủ. Các đệ cứ loay hoay với cái xác thì bao giờ mới bắt được người?”
Không để Cẩn kịp lấp liếm sự dốt nát của mình, Nguyễn Duy tiếp tục tung ra đòn bồi về logic hiện trường mà chàng đã suy ngẫm suốt đêm qua.
Chàng bước đến bên chiếc ghế đẩu gỗ bị đạp đổ nằm chỏng chơ giữa nền đất, rồi chỉ tay vào đôi bàn chân trần của tử thi.
“Lê huynh, Phan huynh, xin hãy nhìn kỹ.” Duy nói. “Nền bếp này là đất nện, mấy hôm nay mưa gió ẩm ướt, lại thêm tro bếp vương vãi nên rất bẩn. Đôi chân của nạn nhân lấm lem bùn đất đen kịt, chứng tỏ cô ta đã đi chân trần trên nền đất này.”
Duy cúi xuống, nhặt chiếc ghế lên, giơ mặt ghế gỗ mun bóng loáng ra trước ánh sáng từ bên ngoài rọi vào: “Thế nhưng, mặt chiếc ghế này lại sạch bong, không hề có một vết chân bẩn hay hạt bụi nào. Nếu nạn nhân đứng lên ghế để tự treo cổ, thì tại sao mặt ghế lại sạch như chưa từng có ai chạm vào?”
Lê Khắc Cẩn đứng đó, mặt hắn đỏ dần lên vì thẹn, nhưng cái tôi to lớn của một kẻ bề trên không cho phép hắn nhận sai trước mặt cấp dưới. Hắn đảo mắt nhìn quanh căn bếp trống hoác, rồi hắng giọng hỏi một câu chẳng ăn nhập gì để đánh trống lảng:
“Mà này, nhà cửa vắng tanh thế này, chủ nhà đâu cả rồi? Sao để lính tráng tự tung tự tác thế? Không có ai ra mặt quản lý à?”
Thầy Đề Lĩnh đứng nép ở cửa, nghe quan lớn hỏi thì vội vàng khom người thưa:
“Dạ bẩm quan Phủ, chủ căn nhà này là bà Mận. Hôm qua vì bị dân làng vây đòi nợ, lại thêm nghi vấn lừa đảo nên quan huyện đã cho giải bà ấy về huyện đường giam giữ rồi ạ. Còn chồng bà ấy là ông Tham thì đã biệt tích cả tháng nay, không rõ tung tích.”
Nghe đến đây, Cẩn như vớ được cọc, hắn vỗ đùi cái đét, chỉ tay vào chiếc ghế rồi cười khẩy đầy vẻ đắc thắng: “Đấy! Thế thì có gì mà lạ đâu? Bà chủ nhà đã bị bắt, biết đâu trước khi đi, mụ ta đã dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ đạc cho sạch sẽ để đỡ xui xẻo? Hoặc là con ả này... đàn bà con gái chúng nó ưa sạch sẽ, kỹ tính lắm. Biết đâu trước khi trèo lên ghế để chết, nó còn cẩn thận lấy giẻ lau sạch ghế thì sao? Hiền đệ đừng có nhìn gà hóa cuốc, suy diễn lung tung những chuyện cỏn con. Cứ lôi cổ mụ chủ nhà ra mà tra khảo là ra hết!”
Nguyễn Duy nhìn Cẩn, kìm nén tiếng thở dài ngao ngán. Ký ức thời còn dùi mài kinh sử ở Quốc Tử Giám bỗng chốc ùa về. Ngày ấy, trong khi mọi người bàn luận sôi nổi về sách lược trị nước an dân, về việc lấy đức phục người, thì Cẩn luôn là kẻ đưa ra những phát ngôn thiển cận, thậm chí là ngu dốt đến nực cười.
Hắn luôn vỗ ngực cho rằng làm quan cốt ở cái uy, dân đen là lũ ngu muội chỉ cần dùng roi vọt và quyền lực để trấn áp là xong. "Án tại hồ sơ, ép cung khắc nhận", cái tư duy ấu trĩ và tàn độc ấy bao năm qua vẫn ăn sâu vào máu thịt hắn, giờ đây khoác lên mình tấm áo gấm quan quyền lại càng trở nên nguy hiểm gấp bội phần. Nhưng Nguyễn Duy biết, tranh luận với kẻ điếc về âm luật cũng bằng thừa, chàng chỉ lặng lẽ đưa mắt nhìn sang Phan Tiên Sinh, chờ đợi một bằng chứng đanh thép hơn từ người bạn ngỗ tác.
Không gian trong căn bếp chật hẹp bỗng trở nên ngột ngạt hơn khi Phan Tiên Sinh bắt đầu có những hành động kỳ quặc. Phan cúi rạp người xuống, ghé sát mặt vào thi thể lạnh lẽo của con Thắm. Mũi Phan khẽ hít hít, đôi mắt nhắm nghiền lại, gương mặt lộ ra vẻ khoái trá bệnh hoạn như đang thưởng thức hương thơm của một loài hoa quý hiếm chứ không phải mùi tử khí nồng nặc.
“Thơm... mùi của t-t-thanh xuân... mùi của s-sự... lụi tàn...” Phan lẩm bẩm, bàn tay gầy guộc vuốt nhẹ lên gò má trắng bệch của tử thi.
Đám lính lệ đứng xung quanh nhìn cảnh tượng ấy mà nổi da gà, lạnh toát sống lưng. Ngay cả Lê Khắc Cẩn, kẻ vốn hống hách coi trời bằng vung, cũng phải rùng mình, lùi lại thêm một bước, mặt lộ rõ vẻ ghê tởm pha lẫn sợ hãi: “Cái... cái tên điên này! Lại nữa rồi.”
Nguyễn Duy chỉ khẽ lắc đầu, ra hiệu cho mọi người im lặng. Chàng biết rõ tính nết quái dị của người bạn đồng niên này. Phan Tiên Sinh vốn dĩ là kẻ lập dị, coi xác chết phụ nữ trẻ là những tác phẩm nghệ thuật dang dở. Chính cái sự “biến thái” tinh vi ấy lại là thứ vũ khí sắc bén giúp hắn nhìn thấy những điều mà người thường không dám nhìn.
Sau màn rợn người ấy, Phan Tiên Sinh trở lại vẻ lạnh lùng chuyên nghiệp. Hắn từ từ cởi bỏ lớp áo ngoài bạc màu của nạn nhân, rồi vén nhẹ lớp yếm bên trong lên, để lộ phần ngực và nách.
“Đây rồi...” Giọng Phan vang lên, không còn cà lăm nữa.
Hắn chỉ tay vào vùng dưới nách và hai bên sườn của Thắm: “Nguyễn huynh, Lê huynh, nhìn vào đây.”
Dưới ánh đuốc chập chờn, trên làn da trắng xanh của tử thi hiện lên những vết bầm tím chạy dài, dạng sọc ngang, mờ hơn vết ở cổ nhưng vẫn có thể nhìn thấy rõ bằng mắt thường.
Phan Tiên Sinh trầm giọng giải thích: “Những vết hằn này không phải do đòn roi, cũng không phải do va đập. Nó là vết hằn do trọng lượng cơ thể đè nặng lên một vật dạng dây, xuất hiện ngay sau khi tim vừa ngừng đập, máu vẫn còn chưa đông hẳn. Vị trí của nó nằm ngay dưới nách, chạy ngang qua ngực.”
Lời nhận định của Phan Tiên Sinh như một tia chớp xé toạc màn sương mù trong đầu Nguyễn Duy. Chàng lập tức đứng dậy, ngước mắt nhìn lên thanh xà ngang đen đúa trên trần nhà, nơi lúc nãy treo cái thòng lọng.
Nguyễn Duy nheo mắt, ra hiệu cho Đội trưởng Trần Hùng giơ cao ngọn đuốc lên sát trần nhà. Ánh lửa bập bùng soi rọi vào góc tối tăm đầy bồ hóng và mạng nhện.
Đúng lúc đó, Nguyễn Duy khẽ giật mình. Một giọt chất lỏng sền sệt, nhưng nhức từ trong bóng tối trên cao bất ngờ rơi xuống, trúng ngay gò má của chàng.
Duy đưa tay lên quệt, xoa nhẹ hai đầu ngón tay vào nhau để cảm nhận độ trơn nhớt, rồi đưa lên mũi ngửi. Mùi hôi nồng ngai ngái xộc vào mũi chàng.
“Là mỡ lợn.” Duy lẩm bẩm, ánh mắt sáng rực lên. “Quả nhiên là như vậy!”
Chàng chỉ tay lên thanh xà gỗ lim chắc chắn, giọng vang lên rành rọt: “Các vị hãy nhìn kỹ chỗ đó. Cách vị trí buộc thòng lọng chừng hai gang tay, ở hai bên mép xà, lớp bụi lâu năm đã bị cào sạch, gỗ bị mòn vẹt đi, tạo thành hai vết lõm sâu hoắm. Và quan trọng hơn, chỗ đó bóng loáng dị thường dưới ánh lửa. Đó là dấu hiệu của sự cọ xát rất mạnh vừa mới xảy ra.”
Lê Khắc Cẩn cũng nheo mắt nhìn theo, nhưng hắn vội lấy tay áo che lên đầu vì sợ bụi rơi trúng mũ cánh chuồn, miệng lầm bầm: "Thì gỗ cũ nó mòn, có gì lạ đâu mà đệ cứ làm quá lên."
Không đôi co với Cẩn, Nguyễn Duy quay sang Trần Hùng, ra lệnh dứt khoát: "Trần Hùng, kiệu ta lên! Chỗ đó quá cao, ta cần kiểm tra kỹ hơn."
Trần Hùng lập tức khom người xuống, làm thành một cái bệ đỡ vững chãi. Nguyễn Duy không nề hà, bước lên vai viên đội trưởng vạm vỡ để được nâng lên cao sát trần nhà. Chàng nheo mắt, cẩn trọng dùng móng tay gỡ lấy một vật nhỏ xíu mắc kẹt trong khe nứt của vết lõm, rồi quệt mạnh tay vào chỗ gỗ mòn.
Ra hiệu cho Trần Hùng hạ mình xuống, Nguyễn Duy xòe tay ra trước mặt mọi người. Trong lòng bàn tay chàng là vài sợi xơ màu nâu vàng thô ráp, dính bết lại với nhau bởi một lớp mỡ trơn tuột.
“Đây là xơ của dây thừng gai, loại dây thô dùng để buộc hàng hóa, hoàn toàn khác với loại dây thừng mềm dùng để siết cổ hay treo cổ nạn nhân.”
Duy giơ ngón tay dính mỡ lên: “Và đây là mỡ lợn. Hung thủ đã cố tình bôi một lớp mỡ dày lên thanh xà để làm trơn, giúp sợi dây thừng gai trượt đi dễ dàng hơn, không bị gỗ ghì lại khi kéo vật nặng.”
Nguyễn Duy quay lại nhìn Phan Tiên Sinh, cả hai trao nhau một ánh mắt ăn ý. Bức tranh về vụ án mạng đã dần hiện ra rõ nét.
Nguyễn Duy quay sang Lê Khắc Cẩn, giọng điệu đanh thép và đầy sức thuyết phục: “Thưa Lê huynh, từ những dấu vết này, ta có thể tái hiện lại toàn bộ quá trình gây án của hung thủ. Hắn đã giết chết nạn nhân trước bằng cách siết cổ. Sau đó, hắn luồn một sợi dây thừng gai qua nách nạn nhân, vắt sợi dây đó qua xà nhà, tận dụng thanh xà làm đòn bẩy để kéo cái xác lên cao.”
Nguyễn Duy vừa nói vừa dùng tay mô phỏng động tác kéo dây: “Vì dây gai cọ vào gỗ lim rất rít, hắn đã phải dùng mỡ lợn trong bếp bôi lên xà để kéo cho nhẹ tay. Khi cái xác đã lơ lửng ở độ cao mong muốn, hắn mới thong thả tròng cái thòng lọng giả vào cổ nạn nhân và buộc chặt lên xà. Cuối cùng, hắn tháo sợi dây kéo ở nách ra và đạp đổ chiếc ghế sạch bong kia để hoàn tất màn kịch tự sát.”
Nguyễn Duy dừng lại một chút, ánh mắt trở nên sắc sảo: “Tại sao hung thủ phải nhọc công dùng ‘mẹo’ đòn bẩy phức tạp, lại còn phải dùng mỡ bôi trơn như vậy? Chỉ có một lý do duy nhất: Hung thủ không đủ sức để bế xốc một cái xác người lớn lên cao.”
Vừa nói, Duy vừa chỉ tay vào thi thể con Thắm đang nằm sóng soài trên chiếu. Quả thật, tuy mới mười sáu tuổi đầu, nhưng do quanh năm làm lụng vất vả, bốc vác nặng nhọc nên thân hình nó đẫy đà, xương cốt rắn chắc chứ không hề mảnh mai yếu đuối như những thiếu nữ khuê các. Để nâng bổng một cơ thể như vậy lên cao quá đầu người, nếu không phải là kẻ có sức vóc hơn người như Trần Hùng hay đám phu phen bến bãi, thì chắc chắn không thể làm nổi bằng tay không.
Nguyễn Duy nhấn mạnh từng chữ. “Hung thủ có thể là kẻ yếu đuối về thể chất. Là một người già, một thư sinh trói gà không chặt, hoặc... là một người phụ nữ.”
“Đủ rồi!”. Lê Khắc Cẩn đột ngột quát lớn, cắt ngang dòng suy luận của Nguyễn Duy. Hắn phẩy tay áo, vẻ mặt đầy sự mất kiên nhẫn và coi thường: “Mấy cái suy luận lằng nhằng dây mơ rễ má này chỉ tổ mất thời gian! Hiền đệ cứ vòng vo Tam Quốc mãi để làm gì? Trong cái nhà này, ngoài con ở đã chết thì chỉ còn mỗi mụ Mận chủ nhà. Mụ ta là đàn bà, sức yếu nên phải dùng mẹo là đúng quá rồi còn gì nữa!”
Cẩn cười khẩy, đắc ý như thể mình vừa phá được án: “Rõ ràng quá rồi! Theo kinh nghiệm bao năm làm quan của ta, cứ bắt ngay kẻ tình nghi duy nhất về, dùng đại hình tra khảo, kẹp tay, nung sắt... mười kẻ thì chín kẻ sẽ phải nhận tội ngay thôi. Người ở đâu thì tội ở đó!”
Phan Tiên Sinh dường như bỏ ngoài tai những lời hồ đồ của Lê Khắc Cẩn. Hắn vẫn tiếp tục công việc của mình một cách tỉ mỉ đến đáng sợ.
Đột nhiên, đôi mày thanh tú của Phan hơi nhíu lại. Ánh mắt hắn dừng lại ở vùng bụng dưới của nạn nhân, nơi lớp da trắng bệch có vẻ căng lên một cách bất thường.
“Nhìn k-kỹ đi...” Phan thì thầm, ngón tay thon dài chỉ vào một đường sọc nâu mờ nhạt chạy dọc từ rốn xuống xương mu. “Đường hắc tuyến... dấu hiệu của m-mang thai.”
Sau đó, trước con mắt kinh ngạc và e ngại của mọi người, Phan Tiên Sinh thản nhiên đặt bàn tay đeo găng lụa lên vùng hạ phúc. Phan ấn mạnh các đầu ngón tay xuống, sờ nắn, day nhẹ để cảm nhận độ cứng và vị trí của khối u bên trong.
Phan ngẩng đầu lên, gương mặt vô cảm nhưng giọng nói lại chứa đựng một sự khẳng định lạnh lùng: “Một x-xác... hai m-mạng người.”
Hắn vỗ nhẹ vào bụng tử thi: “Tử cung đã t-to vượt khỏi khớp xương vệ, sờ rõ đáy tử c-cung ở khoảng giữa rốn và xương mu. Khối thai cứng, tròn. Đ-Đứa nhỏ... đã thành hình... chừng bốn tháng rồi.”
Thông tin này như một tiếng sét đánh ngang tai giữa ban ngày, khiến không gian vốn đã lạnh lẽo của căn bếp càng thêm phần u ám. Nguyễn Duy cau chặt đôi mày, ánh mắt đăm chiêu nhìn vào phần bụng nhô lên của tử thi, như cố tìm kiếm một lời giải đáp cho tấn bi kịch này.
Thầy Đề Lĩnh đứng ở cửa, mặt tái mét đi vì kinh hãi. Ông lão run rẩy tháo cặp kính lão xuống lau vội vào vạt áo, rồi lại đeo lên như không tin vào tai mình, miệng lắp bắp: “Mô Phật! Trời cao đất dày ơi! Con Thắm... nó chưa chồng mà lại chửa hoang sao? Bốn tháng... Bốn tháng...”
Ông lão lẩm bẩm tính toán ngón tay, rồi bỗng ngẩng phắt lên, đôi mắt mở to đầy vẻ kinh hoàng khi xâu chuỗi được các sự kiện: “Bẩm... bẩm các quan! Bốn tháng trước, ông Tham vẫn còn ở nhà chưa đi đâu cả! Mà cái nhà này kín cổng cao tường, con Thắm thì quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm mặt vào bếp núc, chẳng giao du với ai...”
Giọng Thầy Đề Lĩnh trở nên run rẩy nhưng đầy vẻ khẳng định chắc nịch: “Chẳng lẽ... cái thai này là của ông Tham? Làng này ai mà chẳng biết bà Mận có máu 'Hoạn Thư', ghen tuông. Chắc là bà ấy phát hiện ra chồng tòm tem với người ở, lại lòi ra cả đứa con rơi, nên nhân lúc ông Tham bỏ trốn, bà ấy đã ra tay tàn độc để trút cơn ghen, vừa giết người diệt khẩu, vừa triệt hạ cái thai kia?”
Lê Khắc Cẩn nghe thấy thế thì sướng rơn, hắn vỗ đùi đánh “đét” một cái, cười hô hố: “Đấy! Ta đã nói rồi mà! Sự thật nó sờ sờ ra đấy, chạy đi đâu cho thoát. Ghen tuông mù quáng là bản tính của đàn bà. Mụ Mận này giết người vì tình, lại dàn cảnh tự sát để trốn tội. Quá khớp với cái suy luận ‘sức yếu’ của hiền đệ rồi nhé!”
Cẩn quay sang Nguyễn Duy, mặt vênh lên tận trời: “Hiền đệ còn chần chừ gì nữa? Cho lính về huyện đường, lôi cổ mụ Mận ra, tống giam vào ngục tử tù, làm ngay cái trát xử trảm là xong. Vụ này mà phá nhanh, ta sẽ báo lên trên là hiền đệ có công ‘hỗ trợ’ ta phá án. Công đầu thuộc về ta, nhưng đệ cũng được thơm lây, hậu hĩnh quá còn gì!”
Hắn trắng trợn nhận vơ công trạng và áp đặt kết quả, không thèm đếm xỉa đến những uẩn khúc khác. Nguyễn Duy phớt lờ sự hợm hĩnh của Cẩn, chàng quay sang hỏi Phan Tiên Sinh một câu hỏi cuối cùng mang tính then chốt: “Phan huynh, liệu có thể biết chính xác nạn nhân chết vào lúc nào không?”
Phan Tiên Sinh nâng cánh tay cứng đờ của tử thi lên, kiểm tra độ cứng của các khớp ngón tay và các mảng hoen tử thi ở lưng đã tím thẫm và không biến mất khi ấn vào.
“Xác đã cứng hoàn toàn, vết hoen đã định hình.” Phan nói, giọng đều đều. “Dựa vào nhiệt độ lạnh giá đêm qua và độ co cứng này... nạn nhân đã chết từ chiều hôm qua, khoảng giờ Thân đến giờ Dậu.”
Nguyễn Duy giật mình, quay phắt sang Đội trưởng Trần Hùng, ánh mắt sắc như dao: “Trần Hùng! Chiều hôm qua, khoảng giờ Thân đến giờ Dậu chính là lúc ngươi dẫn quân xuống giải tán đám đông và áp giải bà Mận. Lúc đó, ngươi có nhìn thấy con Thắm không?”
Trần Hùng mặt biến sắc, vội vàng lục lại trí nhớ rồi lắp bắp: “Dạ bẩm... bẩm quan, lúc thuộc hạ đập cửa gọi, chỉ có một mình bà Mận thò mặt ra. Lúc xông vào áp giải bà ấy đi, nhà cửa vắng tanh, thuộc hạ cứ ngỡ con Thắm trốn ở xó xỉnh nào vì sợ. Tuyệt nhiên... không ai nhìn thấy nó cả!”
Mọi chứng cứ như sức yếu, động cơ ghen tuông, hiện trường giả, và giờ là thời gian tử vong trùng khớp với lúc bà Mận ở nhà một mình, tất cả đều chĩa mũi dùi vào người đàn bà góa bụa ấy như một bản án tử hình đã được định sẵn.
Lê Khắc Cẩn hối thúc, giọng đầy vẻ bề trên: “Rõ như ban ngày rồi! Duy, mau kết án đi để ta còn về phủ nghỉ ngơi. Ở cái chỗ hôi hám này thêm một khắc nào nữa chắc ta chết mất.”
Nguyễn Duy cúi đầu, chắp tay cung kính: “Lê huynh dạy phải.”
Nhưng khi ngẩng đầu lên, ánh mắt chàng lại nhìn sang Phan Tiên Sinh đầy ẩn ý. Trong ánh mắt ấy không phải là sự đồng tình, mà là một sự nghi hoặc sâu sắc. Một người đàn bà đang hoảng loạn vì bị chủ nợ vây ráp, liệu có đủ bình tĩnh và lý trí để thực hiện một màn kịch giết người treo cổ tỉ mỉ đến thế không?
Nguyễn Duy phất tay áo, ra lệnh dứt khoát: “Người đâu! Đưa xác về nha môn để Phan Tiên Sinh tiếp tục nghiệm thi. Triệu tập thị Mận thăng đường ngay lập tức!”