Chương 12
Ánh nắng ban mai rọi những tia sáng trong veo qua mái ngói âm dương của dinh cơ nhà thầy đồ Hiếu, xua tan lớp sương mỏng còn sót lại trên những kẽ lá. Giữa khoảng sân gạch bát tràng rộng thênh thang, hai luồng không khí trái ngược nhau đang giằng co, tạo nên một sự bức bối đến nghẹt thở.
Phía dãy nhà ngang, mọi công việc trang hoàng tang lễ đều đã được bày biện tươm tất. Cỗ áo quan nằm im lìm lạnh lẽo, nhang đèn đã được thắp lên chập chờn. Mùi hương trầm đục ngầu cuộn lên, len lỏi qua những dải cờ tang trắng toát đang ủ rũ bay trong gió chiều. Thế nhưng, ngay tại gian nhà chính đồ sộ, thầy Hiếu vẫn bình thản quây lại một góc nhỏ tĩnh lặng để tiếp tục dạy học cho đám trẻ. Từ góc nhỏ ấy, một âm thanh khác lại cất lên đều đặn, trong vắt, át cả cái thê lương của tang sự.
"Nhân chi sơ... tính bản thiện... Tính tương cận... tập tương vi..." Tiếng trẻ con ê a đọc sách thánh hiền vang lên nhịp nhàng theo từng nhịp gõ của chiếc thước tre.
Ngồi trên chiếc sập gụ khảm xà cừ giữa nhà, thầy đồ Hiếu vẫn giữ nguyên cái dáng vẻ đạo mạo thường ngày. Tà áo thâm được vuốt phẳng phiu, không dính một hạt bụi. Ánh mắt y hiền từ nhìn bao quát đám học trò nghèo, miệng từ tốn giảng giải đạo lý dưới ánh sáng ban mai rạng rỡ.
Đúng lúc ấy, Nguyễn Duy vận bộ áo nho sinh màu xanh thẫm, tay cầm chiếc quạt giấy gấp nếp, thong thả bước tới trước cửa chính. Đi sát phía sau chàng là Thầy Đề Lĩnh, khúm núm ôm khư khư cuốn sổ bìa da trước ngực.
Vừa thấy bóng quan huyện xuất hiện ngoài hiên, Hiếu hơi nhướng mày. Y đặt nhẹ chiếc thước tre xuống mặt sập, rũ hai ống tay áo định đứng dậy nghênh bái.
"Các con, tạm nghỉ một lát để thầy..."
"Thầy Hiếu, xin cứ tự nhiên."
Nguyễn Duy cất lời, bước chân dừng lại ngay dưới mép hiên. Chàng đưa chiếc quạt giấy lên gõ nhẹ vào lòng bàn tay, khóe môi điểm một nụ cười nhã nhặn nhưng đôi mắt phượng lại lạnh như mặt hồ.
"Nhà có đại tang mà lớp học chữ thánh hiền vẫn không ngơi nghỉ. Cái tâm của người làm thầy quả thực đáng trọng. Thầy cứ tiếp tục đi, bản quan đi tuần ngang qua, mạn phép đứng ngoài này nghe ké chút đạo lý để tự răn mình."
Thầy Hiếu khẽ cúi đầu tạ lễ, khóe miệng kéo lên một nụ cười khiêm nhường: "Quan lớn quá lời rồi. Sự đời vô thường, sóng gió gia môn ập đến bất ngờ khiến lòng người xáo trộn. Thảo dân chỉ biết mượn lời cổ nhân để giúp tâm trí mấy đứa trẻ này, và cả chính mình, giữ được sự tĩnh tại. Xin mạn phép quan lớn, thảo dân xin giảng nốt đoạn này."
Nói rồi, y thong thả ngồi xuống. Bàn tay thư sinh trắng trẻo lại nhấc chiếc thước tre lên.
Cạch... cạch...
Nguyễn Duy khoanh tay sau lưng, đứng lặng im giữa sân nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay ấy. Nhịp thước tre gióng xuống mặt sập đều đặn, chuẩn xác, không hề trật đi dù chỉ một nhịp. Chàng nheo mắt, một tia hoài nghi xẹt qua tâm trí. Rõ ràng mới vài ngày trước, chính đám học trò nói rằng thầy Hiếu đã cho nghỉ học vài ngày để dốc lòng lo liệu đại tang cho anh trai. Vậy mà hôm nay, giữa lúc áo quan trống còn nằm lạnh lẽo góc nhà, tang sự bề bộn, lại đột ngột gọi đám trẻ đến mở lớp trở lại?
Chàng nhìn sâu vào con người đang ngồi trên sập kia. Một kẻ mà anh trai vừa chết rữa ngoài đảo hoang, chị dâu sắp bị đưa ra pháp trường chém đầu, bản thân lại sắp ôm trọn khối gia sản bạc vạn... Vậy mà cơ mặt vẫn bình thản, tay gõ nhịp không một chút run rẩy, lại còn đủ tâm trí để nhẩn nha giảng đạo lý. Sự hoàn hảo không một tì vết ấy, lớp vỏ bọc đạo mạo được dựng lên một cách cố ý này, đối với một con người bằng xương bằng thịt, lại chính là sự bất thường đáng sợ nhất.
Cảm thấy không khí quá bức bối, Nguyễn Duy thong thả quay gót, rảo những bước chậm rãi quanh khoảng sân rộng. Thầy Đề Lĩnh lật đật bám theo sau.
Gần chiếc giếng đá rêu phong, một bầy chim sẻ đang ríu rít mổ những hạt thóc rơi vãi. Nghe tiếng bước chân của Nguyễn Duy tiến lại, bầy chim giật mình, đồng loạt vỗ cánh phành phạch bay vút lên cao.
Ánh mắt Nguyễn Duy nương theo đường bay hoảng loạn của bầy chim sẻ, lướt qua những hàng ngói âm dương, rồi dừng lại ở những cây cột trụ khổng lồ bằng gỗ lim sừng sững đỡ lấy phần lầu gác nhô ra phía trước.
Chàng khẽ đứng khựng lại. Đôi mày rậm chau vào nhau.
"Thầy Đề." Nguyễn Duy thấp giọng gọi, mắt vẫn không rời khỏi hai cây cột trụ lớn nhất nằm ngay dưới khung cửa sổ phòng ngủ trên tầng hai. "Thầy nhìn lên chỗ kia xem. Gần sát với thanh xà ngang, thầy thấy gì không?"
Thầy Đề Lĩnh lụm cụm bước tới sát cạnh Duy, nheo đôi mắt già nua kèm nhèm cố ngước lên nhìn theo hướng chiếc quạt giấy đang chỉ.
"Dạ bẩm quan... lão già mắt kém, nhìn mãi chỉ thấy lớp sơn son thếp vàng ở hai cây cột đó dường như bị tróc ra từng mảng... Chắc là do mưa nắng lâu ngày làm phai màu thôi ạ."
"Theo ta thấy, không phải phai màu." Nguyễn Duy lắc đầu, giọng nói đanh lại. "Gỗ lim là loại gỗ cứng như sắt đá, mưa nắng bình thường không thể làm bong tróc một cách có tính toán như vậy được. Thầy nhìn cho kỹ đi, thớ gỗ ở hai điểm đối xứng đó không chỉ mất đi lớp sơn, mà nó còn bị mòn vẹt hẳn vào trong. Bề mặt vết lõm nhẵn thín và bóng loáng lên."
Thầy Đề nín thở, cố rướn cổ lên nhìn lại. Lần này ông lão cũng lờ mờ nhận ra sự bất thường. "Dạ... quả đúng như quan nói. Nhưng mà... vết lõm bóng loáng như vậy thì là do cái gì cọ vào thưa quan?."
"Trông như là vết dây thừng siết." Nguyễn Duy quả quyết.
Chàng chắp tay sau lưng, bước lùi lại vài bước để lấy một góc nhìn bao quát hơn. Chàng ngước mắt nhìn lên khung cửa sổ khép hờ trên tầng hai, rồi từ từ quay đầu, kẻ một đường ngắm thẳng tắp từ khung cửa sổ đó, lao qua khoảng không giữa hai cây cột lim bị mòn.
Đường ngắm ấy đâm thẳng về phía bức tường ngăn cách, và điểm cuối cùng của nó... nằm ngay chính giữa tán lá rậm rạp của cây khế già bên căn nhà gạch nhỏ lụp xụp.
Sống lưng Thầy Đề Lĩnh bỗng dưng lạnh toát khi ông lão lờ mờ nhận ra ý đồ trong cái nhìn của quan huyện. "Bẩm quan... ngài... ngài đang nghĩ đến điều gì vậy?"
Khóe môi Nguyễn Duy khẽ nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý: "Thầy Đề ạ... Một khung cửa sổ mở hé nằm trên cao. Hai cây cột lim trụ vững chãi bị mài mòn bởi một loại dây tời chịu lực. Và nếu kéo một đường thẳng tắp từ đây..."
Nguyễn Duy quay sang nhìn vị thư lại già, ánh mắt mang theo sự hoài nghi sâu thẳm: "...Nó hướng thẳng tâm về phía ngọn cây khế bên kia bức tường. Ta có dự cảm rằng, hai vết hằn này... có mối liên hệ mật thiết nào đó với cây khế định mệnh kia chăng?"
Đúng lúc đó, từ phía hiên nhà vọng ra tiếng kéo ghế xuống nền gạch. Lớp học đã tan. Những đứa trẻ ríu rít xách những chiếc túi vải lục tục chạy ra cổng.
Thầy đồ Hiếu vuốt lại vạt áo, thong thả bước xuống bậc thềm gạch, hướng về phía Nguyễn Duy và Thầy Đề đang đứng dưới gốc cột lim. Trên trán y, vành khăn tang trắng toát quấn ngang đầu nổi bật dưới ánh nắng đứng bóng của buổi gần trưa.
"Quan lớn đang ngắm nghía cơ ngơi tệ xá sao?" Hiếu chắp tay, giọng ôn tồn cất lên, kéo ánh nhìn của Nguyễn Duy dời khỏi khung cửa sổ trên lầu hai.
Duy khẽ gật đầu, đưa đầu quạt giấy chỉ lên hai vết lõm nhẵn thín trên thân gỗ lim, giọng bâng quơ như người vãn cảnh: "Nhà xây kiên cố thật, nhưng bản quan thắc mắc, cớ sao hai cây cột cái sừng sững thế kia lại có vết hằn sâu đến vậy? Trông như thể có ai đó dùng loại dây thừng cực lớn siết qua tời lại nhiều lần."
Hiếu ngước mắt nhìn lên rồi đáp lời: "Dạ bẩm, thảo dân cũng không rõ lắm. Cơ ngơi này trước đây là do anh chị Tham tự tay xây dựng. Anh Tham làm nghề buôn lụa, thường có những chuyến hàng lớn bốc dỡ về đêm. Có thể ngày trước, anh chị ấy đã sai gia nhân làm cọc cột dây, chế trục tời để kéo vải vóc, hàng hóa to nặng lên lầu gác chăng? Thảo dân từ lúc chuyển sang đây, chỉ cắm cúi trang sách nên cũng không để tâm mấy việc vặt vãnh này."
Nguyễn Duy mỉm cười gật gù, không hỏi gì thêm. Chàng chắp tay, ánh mắt lảng đi nơi khác, lướt ra phía khoảng sân sau đang chói chang nắng gắt.
Ở đó, bên cạnh giếng nước, Nàng Sen đang cùng hai người làm xắn tay áo phơi đồ. Nàng mặc bộ áo nâu giản dị, dáng người mảnh khảnh, liêu xiêu dưới cái nắng hầm hập. Nguyễn Duy nheo mắt lại. Nàng đang cố sức cùng một người hầu nữa vắt chiếc chăn bông lớn vừa giặt xong, sũng nước nặng trịch.
Nguyễn Duy có thể thấy rõ qua lớp vải áo xắn cao, đôi cánh tay gầy guộc của nàng run lên bần bật. Gương mặt nàng tái nhợt đi vì gắng sức, hơi thở đứt quãng khó nhọc giữa cái đứng bóng trưa hè. Mới vắt được vài cái, nàng đã lảo đảo muốn ngã, khiến người hầu bên cạnh phải vội vàng đỡ lấy.
"Thầy Hiếu này," Nguyễn Duy cất lời, giọng mang chút xót xa khi nhìn cảnh tượng ấy. "Thầy nay đã ở nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ không thiếu, sao vợ thầy lại phải đích thân đụng tay vào ba cái việc nặng nhọc quá sức thế kia?"
Hiếu nhìn theo ánh mắt quan huyện, ánh mắt y thoáng hiện lên sự trìu mến. Y thở dài một hơi: "Dạ, quan lớn thấu hiểu cho. Vợ thảo dân vốn xuất thân bần hàn, quen tay chân làm lụng sương gió rồi. Giờ ép nàng ngồi không trong nhung lụa để hưởng lộc, nàng lại đâm ra phiền muộn, sinh tâm bệnh ốm o. Thảo dân khuyên mãi không được, đành chiều ý để nàng làm dăm ba việc chân tay cho khuây khỏa."
Cả ba người thong thả bước tiếp, tiến ra sát bức tường gạch thấp ngăn cách giữa hai khu nhà. Vài cành khế già sum suê chĩa lòa xòa qua bức tường, che bóng mát cho một góc sân. Những chùm khế chín vàng đung đưa, tỏa ra một mùi hương ngai ngái dưới nắng trưa.
Nguyễn Duy ngước nhìn cành khế, rồi đánh mắt sang căn nhà gạch lụp xụp bị niêm phong bằng những dải giấy chéo ngoe của nha môn, giọng trầm xuống đầy cảm thán: "Cây khế này... đúng là oan nghiệt của gia đình nhà thầy."
Hiếu ngừng bước. Y xoay người lại, cẩn trọng hỏi: "Dạ, hôm nay quan lớn đích thân ghé thăm, chẳng hay... là vì chuyện của chị Mận?"
Nguyễn Duy dừng lại, quay mặt đối diện với người thầy đồ. Chàng gõ mạnh chiếc quạt giấy vào lòng bàn tay một tiếng chát khô khốc, chậm rãi nhả từng chữ, dồn cái uy của bề trên vào khoảng không gian chật hẹp:
"Đúng vậy. Công văn từ Bộ Hình ở kinh thành đã được khoái mã đưa về lúc tờ mờ sáng nay. Bản án đã được phê chuẩn y án của Quan Tri Phủ. Trưa ngày mai, giờ Ngọ ba khắc... thị Mận sẽ bị đưa ra đoạn đầu đài xử chém vì tội mưu sát chồng và người hầu để chiếm đoạt tài sản."
Nguyễn Duy nói thêm: "Và theo luật lệ của triều đình, khi ông Tham và thị Mận đều không còn, cũng không có con cái nối dõi. Thầy Hiếu... với tư cách là người ruột thịt duy nhất, nghiễm nhiên sẽ chính thức tiếp quản toàn bộ dinh cơ, đất đai, và cả xưởng tơ lụa khổng lồ của gia tộc."
Thầy Hiếu ngước nhìn lên vòm trời chói chang, giọng y nghe trầm mặc, nhuốm màu sầu bi của một kẻ sĩ vốn dĩ đứng ngoài vòng danh lợi: "Thảo dân nhiều năm đèn sách, vốn chỉ muốn làm kẻ sĩ thanh bần, thi thố mộng làm quan độ dân, nào có màng đến vinh hoa phú quý. Ấy vậy mà sóng gió lại cuốn bạt tất cả. Nay gia sản, cơ nghiệp của thầy u để lại không có người nhang khói, thảo dân dù tài hèn sức mọn cũng đành cắn răng mà đứng ra gánh vác, không thể để cơ nghiệp tổ tông rơi vào tay người ngoài."
"Bản quan thấy xưởng vải mấy hôm nay đã mở cửa mướn thợ lại rồi thì phải?" Nguyễn Duy nhướng mày hỏi.
"Dạ vâng," Hiếu đáp điềm nhiên. "Thảo dân vốn không rành đường buôn bán, nên đã xuất tiền thuê người giỏi giang về trông coi xưởng. Thảo dân chỉ lùi về phía sau coi sóc sổ sách, cốt là để giữ lại chén cơm manh áo cho đám thợ thuyền đã theo xưởng bao năm qua thôi ạ."
Đúng lúc bầu không khí giữa hai người đàn ông đang dần trở nên căng thẳng, thì một đám trẻ con, học trò của Hiếu, từ ngoài cổng ùa vào. Chúng đang đùa giỡn rượt đuổi nhau trước khi về nhà. Thằng Tí, đứa nhỏ gầy gò nhất đám, lon ton chạy tới. Nó ngước đôi mắt tròn xoe nhìn những chùm khế chín mọng đang chĩa qua sân, bẽn lẽn khoanh tay lại: "Dạ con thưa quan lớn, thưa thầy Đề, dạ thầy ơi... khế chín vàng ngon quá. Thầy cho con qua nhà bên kia hái một quả ăn nhé?"
Thầy Hiếu chưa kịp mở miệng, Nguyễn Duy đã bước tới. Chàng xòe chiếc quạt giấy ra che nửa miệng, cúi người xuống ngang tầm mắt thằng bé, mỉm cười hiền lành nhưng cố tình dọa dẫm: "Không được đâu con. Căn nhà bên đó đang bị quan quân niêm phong rồi. Với lại, bên đó có ma đấy, con mà leo rào qua đó là bị dạ quỷ bắt đi luôn, không được về với u đâu."
Thằng Tí nghe thấy chữ "ma" thì rụt cổ lại, mặt buồn thiu lùi về phía đám bạn. Thấy nó sợ hãi, thằng nhóc to đầu nhất đám liền chỉ tay vào mặt Tí, cười hô hố chọc ghẹo: "Lêu lêu thằng Tí tham ăn! Mày còn đòi hái khế cơ à? Mày coi chừng chim thần nó bay qua cắp mày đi như ông Tham nhà thầy đấy!"
Cả Nguyễn Duy, Thầy Đề và thầy Hiếu đều khựng lại.
"Đúng rồi đấy!" Một đứa khác hùa theo, tay chân khua khoắng đầy phấn khích. "Sáng nay u tao đi chợ bến cá, người ta đồn ầm lên kia kìa! Tối qua lúc dông bão, có người đi biển thấy một con chim thần đen ngòm, to bằng cả cái đình, bay ngoài bãi đá Vọng Nguyệt đó!"
Đồng tử của Nguyễn Duy khẽ mở to. Chàng vội thu quạt lại, quay ngoắt sang nhìn Hiếu.
Và lần đầu tiên kể từ lúc bước vào dinh cơ, Nguyễn Duy bắt được một khoảnh khắc xao động của người thầy đồ. Bàn tay đang giấu trong ống tay áo của Hiếu khẽ siết chặt lạ.
Nguyễn Duy vẫy đám nhỏ lại, giọng dồn dập hơn: "Các con nghe ai đồn? Chim to bằng cái đình bay ở Vọng Nguyệt sao?"
"Dạ, cả chợ bến cá ai cũng đồn râm ran sáng nay ạ! Người ta bảo chim thần về tìm chỗ đậu đó quan lớn!" Đám nhỏ đồng thanh kể lại.
Để đám nhỏ chạy đi, Nguyễn Duy từ từ quay người lại đối diện với Hiếu. Gió chiều thổi tung tà áo lụa xanh. Khóe môi vị quan trẻ nhếch lên, nở một nụ cười nhạt, ánh mắt sắc lẹm.
"Thầy Hiếu nghe thấy rồi chứ?" Nguyễn Duy bước tới một bước, rút ngắn khoảng cách, giọng nói thì thầm. "Tin đồn ngoài chợ thường có cái lý của nó. Liệu có phải 'chim thần' đang quay lại chăng? Thầy nhìn xem, cây khế nhà thầy lúc này cũng đang độ trĩu quả nhất..."
Nguyễn Duy cố tình lướt mắt qua khối dinh cơ đồ sộ mà Hiếu vừa được thừa hưởng, rồi nói: "...Xem ra, nhà thầy sắp có thêm vàng nữa rồi."
Thầy đồ Hiếu đứng lặng người. Lúc này, y không nhìn Nguyễn Duy nữa. Y từ từ ngước mặt lên, đôi mắt ghim chặt vào những chùm khế vàng rực đang đung đưa dưới ánh nắng quái dị của buổi chiều tà. Nét mặt y phẳng lặng như một tờ giấy trắng: "Lộc trời cho... hoặc cũng có thể là họa, thưa quan lớn."
Hiếu thu ánh nhìn lại, chắp tay cúi người, một nụ cười lạnh lẽo nở trên môi: "Trời đã gần đứng bóng, đứng ngoài này nắng nôi e tổn hại sức khỏe. Xin mời quan lớn và Thầy Đề dời gót vào trong thư phòng, thảo dân có ấm trà mạn vừa hãm, mong quan lớn đừng chê."
—
Nguyễn Duy gật đầu, rồi tiếp tục bước theo Hiếu vào thư phòng bên trong. Vừa bước chân qua bậu cửa, chàng đã cảm nhận được một sự quen thuộc rõ rệt, bởi lẽ chỉ mới vài ngày trước đây thôi, chàng đã từng có dịp vào căn phòng này để tìm hiểu sự tình.
Mùi trầm hương thoang thoảng quyện với mùi giấy mực tạo nên một không khí thanh tao, nhưng lại khiến người ta cảm thấy ngột ngạt bởi sự sang trọng quá mức cần thiết. Những cây cột gỗ lim bóng loáng, những bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng treo trang trọng trên tường, tất cả đều toát lên sự giàu có của chủ nhân cũ.
Nguyễn Duy ngồi trên chiếc ghế trắc, tay nâng chén trà nóng, ánh mắt lướt qua bộ ấm chén sứ Giang Tây đắt tiền.
"Xem ra thư phòng của thầy vẫn chẳng có gì thay đổi mấy so với lần trước ta ghé qua." Nguyễn Duy chậm rãi đặt chén trà xuống, nhấp một ngụm rồi im lặng quan sát, ánh mắt như muốn nhìn thấu từng ngóc ngách của căn phòng.
Vừa lúc đó, tấm mành thưa khẽ lay động, Nàng Sen khẽ bước tới gần án thư để thu dọn những xấp giấy còn dang dở. Nàng vẫn giữ vẻ ngoài khép nép, đôi mắt luôn rủ xuống không dám nhìn thẳng, bước đi nhẹ tênh không phát ra một tiếng động, tựa như một cái bóng mờ ảo lướt đi trong gian phòng âm u.
Nguyễn Duy dán mắt vào từng cử động của nàng. Khi nàng vừa cúi xuống định nhặt lấy chiếc nghiên mực, chàng vờ như đang lướt tay tìm chỗ đặt quạt, rồi bất thình lình huých nhẹ vào chiếc chặn giấy bằng đồng khối nặng trịch đang nằm chênh vênh trên mép bàn.
Khối đồng mất đà, lao thẳng xuống đất.
Xoảng!
Khối đồng đập xuống nền gạch bát tràng, phát ra một âm thanh khô khốc. Đúng như dáng vẻ của một người phụ nữ yếu đuối, Nàng Sen giật bắn mình, khẽ kêu lên một tiếng rồi hốt hoảng lùi lại phía sau. Đợi cho khối đồng nằm im lìm trên nền gạch, nàng mới run rẩy quỳ xuống, dùng cả hai tay khệ nệ ôm lấy vật nặng để đặt lại chỗ cũ.
Nguyễn Duy cũng nhanh chóng cúi xuống, chìa tay ra vờ như muốn giúp đỡ. Bất chợt, bàn tay chàng chạm mạnh vào tay nàng, rồi nắm lấy mu bàn tay gầy guộc ấy. Chàng không buông ra ngay mà giữ chặt lấy, đôi mắt phượng nheo lại, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đang run rẩy của Nàng Sen dưới ánh nắng chiều rọi xiên qua khung cửa sổ. Duy im lặng hồi lâu, ánh nhìn xoáy sâu vào từng đốt ngón tay nàng như muốn tìm kiếm một điều gì đó giấu kín phía sau lớp da thịt xanh xao ấy.
Hiếu lập tức bước tới, một tay cầm chén trà, tay kia dứt khoát gạt nhẹ như thể đang muốn đỡ lấy vật nặng thay vợ.
Nàng Sen vội vàng rụt tay lại, giấu chặt vào trong ống tay áo rộng rồi lùi nhanh ra sau bức mành mờ ảo. Nguyễn Duy nhìn theo bóng nàng biến mất, ánh mắt đăm chiêu, trong lòng thầm ghi lại chi tiết về sự xao động lạ lùng ấy.
"Vợ thầy kín kẽ quá." Nguyễn Duy nhấp thêm một ngụm trà, mắt vẫn hướng về phía bức mành. "Ta thấy khí chất nàng có phần trầm mặc, chẳng hay lai lịch vợ thầy ở đâu? Thầy và nàng nên duyên chắc cũng đã lâu?"
Hiếu điềm nhiên rót thêm nước vào ấm, cử chỉ vô cùng khoan thai: "Dạ bẩm quan lớn, cũng là cái duyên nợ ở đời. Hai năm trước, thảo dân trên đường từ kinh thành trở về, tình cờ thấy nàng đang lả đi vì đói rách bên vệ đường, không người thân thích, lại còn bị câm, chẳng còn nhớ nổi gốc gác quê quán nơi đâu. Thấy cảnh đời bần hàn tội nghiệp, thảo dân động lòng trắc ẩn nên đưa về cưu mang, rồi nên nghĩa vợ chồng."
Nguyễn Duy khẽ gật đầu, vẻ mặt không chút biểu cảm: "Ra là vậy. Một người không rõ tung tích mà thầy vẫn bao dung nhận làm vợ, quả là một tấm lòng quảng đại."
Chàng nhìn ra rặng trúc lao xao ngoài hiên, giọng bỗng trở nên trầm lắng: "Thú thực với thầy, hôm nay có dịp ghé thăm, ta bỗng thấy lòng mình thư thái lạ thường. Mấy hôm nay, sóng gió nổi lên liên miên, hẳn thầy cũng đã nghe phong phanh. Hết chuyện của gia đình thầy, lại đến cái chết kinh động của quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn vừa bị sát hại...."
Hiếu chắp tay đáp lễ, gương mặt không chút xao động, giọng nói vẫn điềm tĩnh: "Bẩm quan lớn, thế sự bên ngoài dẫu có xoay vần, máu đổ đầu rơi cũng là do lòng người quá tham sân si mà ra. Thảo dân tài hèn đức mọn, vốn chỉ mong mượn chén trà, trang sách để giữ lấy chút thanh tịnh cho tâm hồn, đâu dám màng đến chuyện thiên hạ. Kẻ cầu danh lợi ắt có ngày gặp họa, đó là lẽ thường ở đời."
Nguyễn Duy mỉm cười nhạt, rồi vờ như đang dạo bước ngắm nghía. Chàng vừa đi vừa trầm trồ trước những kệ sách đồ sộ xếp kín tường.
"Năm xưa khi bản quan đỗ đạt Thám hoa, số sách đọc qua phỏng chừng chưa bằng một nửa thư phòng này của thầy. Thầy Hiếu đèn sách nhiều năm ròng rã trên kinh kỳ, uyên bác nhường này mà lại không đỗ đạt công danh, thật là đáng tiếc."
Vừa nói, chàng vừa dừng lại trước án thư của Hiếu, tiện tay lật giở một cuốn sách mỏng nằm lăn lóc giữa đống Tứ Thư Ngũ Kinh. Bìa sách đề chữ: "Chu Dịch Tập Chú".
"Kinh Dịch vốn là đỉnh cao của thánh nhân, chẳng hay thầy đang nghiên cứu đến quẻ nào?"
Vừa hỏi, Nguyễn Duy vừa lật nhanh vài trang sách. Ánh mắt chàng khựng lại. Xen lẫn giữa những đồ hình bát quái và những dòng chú giải uyên thâm, là những nét than chì nhạt màu phác thảo những hình vẽ lạ lùng. Đó là những đường cong của nan tre, những phép tính toán về sức nâng của gió ứng với quẻ Tốn, và cả những ký hiệu về lực kéo.
Bị quan huyện nhìn thấu trang sách, Hiếu vẫn thong thả rót trà, giọng nói trầm ổn như không có chuyện gì xảy ra: "Quan lớn tinh tường quá. Thảo dân dạo này đang chiêm nghiệm quẻ Tốn. Tốn chính là Phong, là Gió. Thảo dân tò mò về cái sức mạnh vô hình của luồng khí trong trời đất có thể nâng bổng vạn vật, nên mạn phép mượn thuật làm diều của đám trẻ nhỏ để vẽ nháp vài đồ hình, mong từ cái hữu hình mà ngộ ra cái vô hình của đạo lý thôi ạ."
Nguyễn Duy gập cuốn sách lại, âm thanh khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch. Chàng không quay lại ghế ngồi ngay mà đứng lặng bên án thư, tay vuốt ve bìa sách đã sờn, ánh mắt đột ngột xoáy thẳng vào Hiếu: "Nói về quẻ Tốn và sức nâng của khí trời... ta chợt nhớ tới lời đám trẻ ngoài sân lúc nãy. Chuyện 'con chim đen to bằng cái đình' hiện ra ngoài bãi đá Vọng Nguyệt khiến lòng ta không khỏi suy nghĩ. Thầy vốn là người am tường đạo lý, lại từng xác nhận chuyện duyên nợ kỳ lạ với linh điểu, thầy nghĩ sao về điều này? Liệu rằng nó có phải là con chim thần đã chở thầy và anh trai đi tìm vàng, nay lại hiện thân về chăng?"
Hiếu thong thả nâng chén trà mạn, làn khói mỏng bốc lên che mờ ánh mắt y trong một thoáng. Y mỉm cười, giọng nói vẫn bình ổn như không: "Dân gian vốn dĩ đa sự, thưa quan lớn. Chuyện chim thần chở anh em thảo dân đi tìm vàng năm ấy... quả thực là phép màu mà trời xanh ban tặng cho phúc đức của tổ tông để lại, thảo dân chưa bao giờ dám xem nhẹ. Thế nhưng chim thần vốn linh thiêng, thoắt ẩn thoắt hiện. Chuyện 'chim thần' đen ngòm bay giữa cơn dông đêm qua... thảo dân trộm nghĩ e chỉ là những đám mây đen vần vũ được kẻ yếu bóng vía nhìn nhầm mà thêu dệt nên thôi?"
Nguyễn Duy nhìn thẳng vào mắt Hiếu, nụ cười trên môi chàng vẫn nhã nhặn, nhưng trong ánh mắt lúc này đã mang theo một luồng hàn khí sắc lạnh. Chàng khẽ gật đầu, giọng nói trầm xuống đầy vẻ trăn trở: "Phép màu ư? Thầy tin vào phép màu thì cũng là lẽ thường. Nhưng chính cái sự kỳ lạ này đang khiến ta vô cùng đau đầu trong việc soạn tờ sớ báo cáo lên Bộ Hình. Chẳng lẽ ta lại viết vào công văn rằng cái chết của ông Tham nhà thầy là do con chim thần kia cõng đi? Chuyện hoang đường ấy, làm sao ta có thể đưa vào án văn cho được? Hơn nữa, trong bản cáo trạng mà quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn quá cố để lại, cũng đã ghi rành rành rằng chính thị Mận là kẻ hạ thủ giết chồng. Một bên là huyền thoại khó tin, một bên là bút tích của quan trên đã phê... thầy bảo bản quan phải tin vào đâu cho phải?"
Thấy quan huyện đặt mình vào thế khó xử giữa pháp lý và huyền thoại, Hiếu không vội giải thích về con chim, y chỉ khẽ thở dài. Y chắp tay, giọng nói đầy vẻ khẩn thiết nhưng vô cùng kín kẽ: "Bẩm quan lớn, chân tướng ở đời vốn như bóng trăng dưới nước, nhìn thì rõ mà chạm vào lại tan. Quan lớn đã dạy, bút tích của bậc tiền nhiệm vốn là ý trời, là phép nước đã định. Nay án tử của chị Mận đã được định, thảo dân chỉ mong sóng gió gia đạo này mau chóng khép lại để linh hồn người khuất được về với đất mẹ. Liệu sau giờ Ngọ ngày mai, khi chị ấy đã đền tội, thảo dân có thể xin nha môn cho mang di cốt anh Tham và chị Mận về để tang, đặng tròn đạo đệ huynh được không?"
Nguyễn Duy không đáp ngay. Chàng chậm rãi nhấp một ngụm trà đã nguội, ánh mắt nhìn xoáy vào làn khói trầm đang cuộn lên từ chiếc lư đồng. Một lúc sau, chàng khẽ lắc đầu, thở dài một tiếng đầy hàm ý: "Chuyện này... e là không đơn giản như thầy nghĩ. Tuy thị Mận bị kết tội giết hai mạng người, và cái chết của con Thắm thì cách thức xuống tay đã có phần rõ tỏ. Thế nhưng, về phần ông Tham, bản án vẫn còn treo đó nhiều điểm dị thường. Bản quan ghé qua đây hôm nay, thực chất cũng là muốn thỉnh giáo thầy. Giữa hai vợ chồng họ, ngày thường có điều gì khuất tất, hay có uẩn khúc gì ẩn giấu mà thầy, với tư cách người sát vách, từng nghe thấy chăng?"
Không gian thư phòng bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng đến rợn người. Bên ngoài, tiếng ve bắt đầu ran lên báo hiệu sự oi nồng của buổi trưa đứng bóng. Nàng Sen đứng sau bức mành thưa dường như cũng ngừng bặt nhịp thở, bóng nàng bất động như một bức tượng tạc giữa căn phòng âm u.
Hiếu hơi chau mày, đôi mắt y nheo lại như đang cố lục tìm trong ký ức, rồi y đáp lời bằng giọng đều đều, thận trọng: "Dạ bẩm quan lớn, chuyện gia đạo anh chị, thảo dân vốn là kẻ ngoại cuộc nên ít khi dòm ngó. Chỉ thi thoảng, thảo dân có nghe thấy tiếng bát đĩa xô lệch, lời qua tiếng lại giữa hai người... Đa phần cũng chỉ là chuyện tiền nong buôn bán, anh Tham vốn tính tình nóng nảy, còn chị Mận lại là người đàn bà hay chấp nhặt. Thảo dân cứ ngỡ đó là lẽ thường, nào ngờ lại dẫn đến nông nỗi này."
Thấy Hiếu đưa ra những lời lẽ lấp liếm chung chung, Nguyễn Duy bất ngờ buông chén trà xuống bàn, ném thêm một câu hỏi sắc lẹm như lưỡi đao: "Vậy còn chuyện cô hầu gái tên Thắm có mang đến tháng thứ tư thì sao? Thầy ở ngay sát vách, bầu bí đến chừng ấy thời gian, chẳng lẽ tai thầy không nghe, mắt thầy không thấy điều gì bất thường giữa ông Tham và cô ta hay sao?"
Hiếu khẽ chớp mắt, một thoáng kinh ngạc tột độ hiện lên trên gương mặt y. Y dường như sững hờ trong giây lát, rồi vội vàng lắc đầu, buông tiếng thở dài não nuột, đầy vẻ thảng thốt: "Dạ bẩm... chuyện kín đáo ấy, thảo dân phận làm em thực không dám lạm bàn. Con Thắm lại ít khi qua lại bên này, lúc nào cũng lầm lũi cúi đầu. Nếu quả thực có chuyện ô nhục ấy xảy ra, thì e là gia môn bất hạnh, đạo lý suy đồi... Thảo dân thực tình nghe quan lớn nhắc lại, trong lòng vẫn đau xót khôn nguôi."
Nguyễn Duy lặng lẽ quan sát nét mặt của Hiếu trong giây lát, chàng khẽ gật đầu như đã nghe thấu câu trả lời. Nguyễn Duy thong thả chỉnh lại vạt áo nho sinh, vừa định đứng dậy cáo từ thì Thầy đề Ký, người nãy giờ vẫn ngồi im lặng như một cái bóng bên cạnh, bỗng hắng giọng, khẽ cúi đầu nhắc nhở:
"Bẩm quan lớn, trời cũng đã đứng bóng, tính theo giờ giấc thì vị quan từ trên Hình Bộ chắc cũng sắp tới trạm xá rồi. E là chúng ta phải về ngay để chuẩn bị nghênh tiếp cho chu đáo."
Thầy đồ Hiếu đang định rót thêm trà, nghe thấy hai chữ "Hình Bộ" thì bàn tay y khẽ khựng lại giữa không trung. Một thoáng ngạc nhiên lướt nhanh qua, y ngước lên hỏi với vẻ tò mò không giấu giếm: "Hình Bộ? Chẳng hay triều đình có việc gì trọng đại mà lại đặc phái người về tận chốn hẻo lánh này, thưa quan lớn?"
Nguyễn Duy đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi không có thật trên tay áo, ánh mắt chàng lướt qua Hiếu một cách thản nhiên nhưng đầy uy lực: "Vụ án quan Tri phủ bị sát hại là việc tày trời, kinh động đến tận kinh thành. Hình Bộ không thể ngồi yên nhìn một mệnh quan triều đình bị sát hại, nên đã sai người xuống đây để đốc thúc và trực tiếp thẩm tra lại toàn bộ án tiết. Có lẽ trưa mai tại pháp trường, vị quan ấy cũng sẽ có mặt để giám sát."
Nói đoạn, Nguyễn Duy thong thả bước ra đến ngưỡng cửa, chàng nhìn ánh nắng chói chang đang đổ xuống sân gạch bát tràng, khiến không khí hầm hập như lò lửa, rồi mới quay đầu lại nói tiếp: "Vậy làm phiền thầy rồi. Trưa mai giờ Ngọ, pháp trường chắc chắn sẽ náo nhiệt lắm. Chị dâu thầy phải đền tội, dù sao cũng là người một nhà, mong thầy nén đau thương đến tiễn biệt bà ấy đoạn đường cuối."
Hiếu bước theo sau, chắp tay cúi gập người, một nụ cười hiền hậu: "Đa tạ quan lớn đã cất công đến báo tin. Thảo dân dĩ nhiên phải trọn đạo hiếu nghĩa, không thể để chị ấy cô độc lúc lâm chung."
Nguyễn Duy dừng bước ngay trước hiên, bất thình lình ngoái đầu lại, ánh mắt sắc như kim châm xoáy thẳng vào mặt Hiếu: "Anh trai chết thảm ngoài đảo hoang, chị dâu sắp lên đoạn đầu đài. Vậy mà bản quan thấy thầy có vẻ... quá đỗi bình tĩnh thì phải?"
Hiếu không chút lúng túng. Y nhìn Nguyễn Duy, buông một câu triết lý với giọng trầm mặc, chậm rãi: "Bẩm quan lớn, cổ nhân có câu: 'Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu'. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Phàm ở đời, làm việc ác ắt có ngày đền tội, đó là nhân quả luân hồi khắt khe của tạo hóa. Bi kịch gia đạo này, thảo dân tuy xót xa đến đứt từng khúc ruột, nhưng ngẫm lại cũng là do số phận đã an bài, mệnh trời khó cưỡng. Kẻ sĩ học đạo thánh hiền, chỉ biết nén bi thương mà thuận theo lẽ trời thôi ạ."
Nguyễn Duy không nói gì thêm, chàng xoay người bước xuống sân gạch đang hầm hập nắng. Tiếng bước chân của vị quan trẻ xa dần, để lại sau lưng bóng dáng thầy đồ Hiếu vẫn đứng lặng yên như một pho tượng đá dưới mái hiên, trong khi tiếng ve ngoài vườn bỗng rộ lên từng đợt thê thiết, báo hiệu cho những biến động đẫm máu sắp diễn ra giữa trưa đứng bóng ngày mai.
—
Bước ra khỏi vòm cổng đồ sộ của dinh cơ họ Trần, cái nắng gần trưa hắt xuống mặt đường đất rát bỏng. Thầy đề Ký lấy tay áo lau mồ hôi tứa ra trên trán, khúm núm bước lên ngang tầm quan huyện: "Bẩm quan lớn, trời đã đứng bóng, chúng ta mau quay về nha môn thôi ạ. Nhỡ vị quan từ trên Hình Bộ tới nơi mà không thấy người nghênh đón, e là mang tội khi quân..."
Nguyễn Duy dừng bước. Chàng không đáp, ánh mắt sắc lẹm lướt qua hàng rào dâm bụt, dán chặt vào căn nhà gạch lụp xụp nằm sát vách dinh cơ vừa rồi. Những dải giấy niêm phong có dấu triện đỏ của nha môn dán chéo ngoe trên cánh cửa gỗ xỉn màu, im lìm và lạnh lẽo.
"Khoan đã," Nguyễn Duy khẽ nhíu mày, đưa chiếc quạt giấy gõ nhẹ vào lòng bàn tay. "Ta có linh cảm căn nhà này vẫn còn cất giấu thứ gì đó chưa tỏ. Vào xem lại một chút rồi về cũng chưa muộn."
Thầy đề Ký há hốc miệng định can ngăn, nhưng thấy dáng vẻ kiên quyết của vị quan trẻ đành lật đật vác sổ sách chạy theo sau. Lính nha dịch vội vã bóc lớp giấy niêm phong, đẩy mạnh cánh cửa gỗ. Tiếng bản lề rỉ sét rít lên ken kết.
Không gian bên trong gian bếp vô cùng oi bức, nặc mùi ẩm mốc hòa quyện cùng thứ mùi ngai ngái của khói bếp ám trên vách đất lâu ngày. Mạng nhện giăng mắc khắp các góc xà nhà, tro tàn từ bếp trấu vẫn còn vương vãi lấm lem trên nền gạch vỡ. Nguyễn Duy vén tà áo nho sinh, không màng đến bụi bặm dính vào tay áo, tự tay lật tìm từng góc nhỏ trong gian bếp tối tăm. Chàng cẩn thận xem xét từ mép chạn bát sứt mẻ cho đến đống củi khô vứt chỏng chơ góc tường. Và rồi, khi lướt qua khoảng tối nơi xó bếp rêu phong, ánh mắt tinh tường của vị quan trẻ đột ngột dừng lại ở một chiếc hũ gạo sành cũ kỹ đã cạn trơ đáy, mạng nhện phủ quanh miệng hũ dường như có vết rách mới.
Chàng cúi xuống, dùng cả hai tay nhấc bổng chiếc hũ nặng trịch ra chỗ khác. Ngay dưới đáy hũ, trên nền đất nện tối màu, lộ ra một hốc nhỏ được khoét vô cùng cẩn thận.
"Có đồ vật, thưa quan!" Thầy Đề Ký thốt lên, rướn cổ nhìn vào.
Nguyễn Duy thò tay vào hốc đất, lấy một tờ giấy bản được gấp làm tư. Chàng bước ra chỗ sáng, từ từ giở tờ giấy ra. Đó là một bức thư, nét mực hãy còn khá rõ.
Chàng lướt nhanh qua những dòng chữ, khóe môi hơi mím lại.
Nội dung bức thư là những lời tình tự vụng trộm, sướt mướt của ông Tham gửi cho con Thắm. Trong thư, ông ta thừa nhận cái thai trong bụng Thắm chính là giọt máu của ông ta. Đặc biệt, cuối thư còn có một lời hứa hẹn chắc nịch: "Đợi ta lấy được thứ kho báu kia, bề thế vững vàng, ta sẽ lập tức đuổi mụ Mận ra khỏi cửa, đường hoàng rước em lên làm phu nhân, cho mẹ con em một danh phận..."
Thầy đề Ký đọc ké bên cạnh, hai mắt sáng rực lên, đập tay đôm đốp: "Bẩm quan lớn, bằng chứng thép đây rồi! Bức thư này chứng tỏ hai kẻ đó gian díu với nhau. Thị Mận chắc hẳn đã phát hiện ra thứ này, uất hận vì sắp bị đuổi khỏi nhà nên mới sinh ác tâm hạ độc tàn sát cả chồng lẫn ả hầu gái. Nguyên cớ hạ sát đã quá rõ ràng, án này chốt lại được rồi thưa quan!"
Trái với sự mừng rỡ của vị thư lại già, nét mặt Nguyễn Duy lại phẳng lặng như tờ. Chàng gấp bức thư lại, nhịp nhịp lên mặt bàn, ánh mắt lóe lên một tia sắc sảo:
"Thầy Đề, thầy làm việc ở nha môn bao năm, sao suy nghĩ lại đơn giản thế? Thầy nói đây là bằng chứng thép, nhưng trong mắt ta, thứ này lại khiên cưỡng và rập khuôn đến mức nực cười."
"Nực... nực cười sao ạ?" Thầy Đề ngơ ngác.
"Thứ nhất," Nguyễn Duy bước lại gần cái hốc đất, chỉ đầu quạt xuống. "Thầy nhìn cho kỹ đi. Hốc đất này tối tăm, bụi bặm tích tụ rất nhiều. Nếu bức thư này được giấu ở đây từ lâu, thì khi ta vừa nhấc nó lên, bề mặt đất ngay dưới tờ giấy phải để lại một vệt sạch sẽ, hoặc chí ít là ít bụi hơn xung quanh. Đằng này, thầy xem... lớp bụi bên dưới tờ giấy lại y nguyên, đều tăm tắp với lớp bụi bên ngoài."
Thầy Đề cúi rạp người xuống soi xét, mồ hôi lạnh toát ra: "Dạ... quả đúng như vậy."
"Điều đó chứng tỏ bức thư này mới được kẻ nào đó vội vàng xếp lại rồi nhét vào đây chưa được bao lâu." Nguyễn Duy lãnh đạm nói tiếp. "Thứ hai, hãy xét về lẽ thường. Ông Tham là chủ, Thắm là tớ. Hai kẻ sống chung dưới một mái nhà, sớm tối chạm mặt nhau. Ông Tham muốn sai bảo chuyện gì, hay muốn tình tự, chỉ việc vẫy tay gọi con Thắm vào buồng kín là xong. Cớ sao phải cất công viết một bức thư tình sướt mướt dài dòng rồi nhét dưới hũ gạo? Những kẻ làm chuyện vụng trộm mờ ám, giấu nhẹm đi còn không kịp, ai lại dại dột để lại bút tích rành rành, ghi rõ cả chuyện đuổi vợ chính thất để làm bằng chứng cho người ta bắt thóp?"
Nguyễn Duy nhếch mép, gõ nhẹ chiếc quạt vào vai vị thư lại già: "Và thứ ba, giả sử như thị Mận tình cờ phát hiện ra bức thư này và biết được mưu đồ phụ bạc của chồng, theo lẽ thường, một người đàn bà chua ngoa, hay ghen như thị sẽ làm gì?"
Thầy đề Ký giật mình, như bừng tỉnh ngộ: "Dạ... ắt hẳn thị sẽ nổi cơn tam bành, gào thét ầm ĩ, hoặc bét nhất cũng vò nát, xé vụn bức thư ra thành trăm mảnh để xả giận... chứ đời nào lại cẩn thận gấp nếp vuông vức, rồi giấu lại vào đúng cái hốc tối tăm này như chưa từng có chuyện gì xảy ra?"
"Chính xác." Nguyễn Duy gật đầu.
Sống lưng Thầy Đề Ký lạnh toát. Mọi lập luận của quan huyện sắc bén như dao cạo, chém đứt mọi sự hoan hỉ vừa nhen nhóm.
"Và còn một điểm chí mạng nữa," Nguyễn Duy gõ nhẹ quạt vào lòng bàn tay, ánh mắt đăm chiêu. "Thầy Đề có nhớ tại buổi xét xử đầu tiên trên công đường, thị Mận từng khai rành rành rằng ông Tham bị chứng vô sinh, chạy chữa bao năm không khỏi không? Một người vô sinh sao có thể làm con Thắm có mang rồi viết thư nhận con như thế này được? Lát nữa về nha môn, ta phải hỏi lại Phan huynh xem y thuật có cách nào chứng minh được việc này không."
"Vậy… ý quan lớn là... bức thư này là đồ giả? Có kẻ cố tình ngụy tạo để đổ vấy tội lỗi cho thị Mận?"
"Không chỉ đổ vấy tội lỗi, mà kẻ đó còn muốn hợp lý hóa động cơ giết người của thị Mận để triều đình nhanh chóng khép lại vụ án này, hòng che giấu một bí mật lớn hơn thế nữa." Nguyễn Duy cẩn thận gấp tờ giấy lại, đưa cho Thầy Đề. "Thầy mau niêm phong kỹ lá thư này lại làm vật chứng."
Đoạn, chàng nhíu mày nhìn quanh căn bếp tăm tối, ánh mắt đầy đăm chiêu: "Nhưng điều đáng bàn là... căn nhà này đã bị nha môn niêm phong kín cổng cao tường ngay từ hôm xảy ra án mạng. Cửa nẻo cài then chặt chẽ, bên ngoài lại có lính canh gác. Vậy rốt cuộc, kẻ nào đã có thể che mắt được quan quân, lẻn vào đây ung dung bỏ lá thư giả mạo này vào hốc?"
Nguyễn Duy im lặng một lát, trong đầu bỗng văng vẳng lại câu nói bỡn cợt của thầy lang Cuội hôm nọ: "Này quan lớn, ngài lo xa mường tượng đẩu đâu làm gì cho mệt óc. Thế ngài không nghĩ tới chuyện... kẻ cắm cái gai này vào cổ lão quan béo kia chẳng cần tìm đâu xa, mà hắn chính là người đang ở ngay trong cái nha môn này sao?"
Ánh mắt chàng lóe lên một tia sáng lạnh lẽo. Thầy Đề Ký đứng bên cạnh nhìn nét mặt quan huyện, sống lưng lại thêm một phen ớn lạnh, lắp bắp hỏi: "Dạ bẩm... vậy theo ý quan lớn, trong đám lính ngoài kia... có kẻ đã..."
Nguyễn Duy không đáp, chàng quay phắt người sải bước ra khỏi gian bếp, tiến thẳng ra khoảng sân trước. Đám lính nha dịch đang gác vòng ngoài thấy quan huyện bước ra với sát khí đằng đằng liền vội vàng đứng nghiêm trang.
"Tất cả đến đây!" Nguyễn Duy quát lớn, âm vang đanh thép dội lại từ những bức tường gạch.
Đám lính vội vã xếp thành một hàng ngang, mặt mũi hoang mang. Nguyễn Duy chắp tay sau lưng, ánh mắt như dao cau lướt qua từng gương mặt: "Bản quan hỏi các ngươi, mấy ngày nay canh giữ ở đây, việc phòng vệ được thực hiện thế nào? Có kẻ nào chểnh mảng, tắc trách, hay đã lén lút ăn hối lộ mà mở niêm phong cho người lạ đột nhập vào căn nhà này không? Kẻ nào biết mà che giấu, tội đồng lõa chém đầu không tha!"
Đám lính nghe đến chữ "chém đầu" thì đồng loạt tái xanh mặt mày, run rẩy quỳ rạp xuống đất thề thốt kêu oan. Một tên lính đánh bạo dập đầu bẩm báo: "Dạ bẩm quan lớn, oan cho chúng con quá! Buổi sáng chúng con canh gác nghiêm ngặt, tuyệt đối không để lọt một con ruồi nào qua cửa. Còn mấy hôm nay... dạ, ca trực đêm là do nhóm của đội Nguyễn Bình phụ trách. Hiện giờ nhóm trực đêm ấy đã mãn ca, đang nghỉ ngơi ở nha môn, chúng con quả thực không rõ sự tình ban đêm ra sao ạ!"
Nguyễn Duy đảo mắt nhìn quanh một lượt, biết có tra hỏi ngay lúc này cũng chẳng kẻ nào dám nhận. Chàng lạnh lùng ra lệnh cho lính tráng dán lại giấy niêm phong mới. Cửa nhà gạch một lần nữa bị niêm phong kín mít. Sau đó, Nguyễn Duy và Thầy Đề sải bước thật nhanh trên con đường làng mấp mô, hướng về phía nha môn.
—
"Thầy Đề này," Nguyễn Duy vừa đi vừa nói, giọng trầm xuống hòa vào tiếng ve kêu râm ran. "Tạm bỏ qua chuyện niêm phong căn bếp, lúc nãy ở thư phòng của thầy Hiếu, ta vô tình làm rơi cục chặn giấy, nhưng khi xem đôi bàn tay của phu nhân thầy Hiếu. Có một chi tiết rất đáng suy ngẫm, vết chai sần trên tay trái của nàng ta dày cộp và thô ráp hơn hẳn tay phải... nàng ta là người thuận tay trái."
Thầy Đề gật gù ghi nhớ, bước chân lúp xúp đuổi theo bóng vị quan trẻ.
"Còn nữa," Duy chắp tay sau lưng, ánh mắt đăm đăm nhìn về phía trước. "Thầy Hiếu khoác lên mình tấm áo đạo mạo, miệng lúc nào cũng xót xa tình huynh đệ, gia đạo. Ấy vậy mà từ lúc bản quan bước vào cho tới lúc cáo từ, y tuyệt nhiên không hé môi hỏi thăm một câu rằng... người chị dâu sắp bị chém đầu của y, ở trong ngục thất sống chết ra sao, ăn ngủ thế nào. Một kẻ tự nhận là trọng đạo nghĩa, sao lại vô tình đến mức ấy?"
Nghe đến đây, bước chân của Thầy đề Ký bỗng khựng lại. Sắc mặt ông lão thoắt cái tái mét dưới cái nắng trưa. Ông ta nuốt nước bọt, ấp úng tiến lên bẩm báo: "Bẩm quan lớn... chuyện này... quả thực có một uẩn khúc mà lão chưa kịp bẩm báo với ngài. Thực ra... thầy Hiếu không hề vô tình với chị dâu đâu ạ. Tối hôm qua, y đã đích thân vào tận ngục tối để thăm thị Mận rồi."
Nguyễn Duy đứng sững lại giữa đường. Chàng quay phắt người lại, đôi mắt phượng mở to đầy sửng sốt: "Cái gì? Tối qua? Giờ cấm môn, ngục thất nội bất xuất ngoại bất nhập, sao y có thể vào được? Phép nước để đâu?"
Thầy Đề run rẩy chắp tay, cúi rạp đầu sầm sập: "Dạ bẩm... tên cai ngục gác đêm qua vốn là chỗ thâm giao bạn bè từ thuở hàn vi với thầy Hiếu. Nó nể tình xưa nghĩa cũ, lại thấy thầy Hiếu đứng ngoài sương đêm khóc lóc thảm thiết, nỉ non xin được gặp mặt chị dâu... Tên cai ngục mềm lòng, bèn làm liều mở khóa cho y vào buồng giam một canh giờ. Sáng sớm nay, khi lão đến nha môn mới nghe bọn lính canh rỉ tai nhau chuyện này..."
Một luồng khí lạnh buốt dọc sống lưng Nguyễn Duy, xua tan cái oi bức của buổi trưa hè. Những mảnh ghép rời rạc bỗng chốc đập mạnh vào nhau, tạo thành một viễn cảnh kinh hoàng.
Tại sao Hiếu lại phải dùng mối quan hệ để lén lút vào thăm tử tù?
Nghĩ đến đây, Nguyễn Duy quay sang vị thư lại già, giọng đanh thép ra lệnh: "Thầy Đề, mau quay trở lại căn nhà gạch nhỏ, sai ngay một tên lính gác ở đó chạy gấp lên xưởng vải. Cứ dùng lệnh của nha môn, yêu cầu tìm cho bằng được sổ sách hay chứng từ có lưu bút tích thật của ông Tham mang về để ta đối chiếu nét chữ!"
Thầy Đề Ký vội vã vâng dạ, ôm tay nải lật đật chạy ngược lại đoạn đường đất hầm hập nắng.
Nhìn theo bóng vị thư lại già khuất dần, Nguyễn Duy siết chặt chiếc quạt giấy trong tay, tiếp tục sải những bước dài vội vã hướng về phía công đường. Hôm nay chắc chắn sẽ là một ngày bận rộn và căng thẳng tột độ của chàng. Trước mắt, vị quan lớn từ Hình Bộ sắp sửa giá lâm để trực tiếp điều tra rõ ngọn ngành cái chết của quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn, nhưng ngay lúc này, có một chuyện cấp bách mang tính sống còn khác mà chàng buộc phải làm rõ.
Chàng phải về nha môn mau, phải gặp thị Mận ngay lập tức! Phải tra hỏi xem đêm qua, người em rể đáng kính kia đã lén lút vào ngục để nói những gì!
Dưới cái nắng chang chang đổ lửa của buổi trưa đứng bóng, chiếc bóng cô độc của vị quan trẻ đổ dài trên mặt đất, lao nhanh về phía nha môn. Với những manh mối mới vừa xâu chuỗi được, chàng có một niềm tin mãnh liệt rằng thị Mận đang bị hàm oan. Chàng không chỉ phải chạy đua với giờ hành hình vào trưa mai, mà còn đang chạy đua với cỗ xe ngựa của vị khâm sai Hình Bộ sắp sửa tiến vào phủ án. Một khi quan trên tiếp quản toàn bộ công đường, sinh mạng của một người đàn bà vô tội và chân tướng thực sự của vụ án này rất có thể sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong bóng tối...