Ăn Khế Trả Vàng

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Một lần lướt tiktok, thấy một clip hài khá vui, trong vai ông quan đang tra hỏi về việc "vàng có từ chim thần". Nên mình viết bộ này, theo thể loại trinh thám (lần đầu theo thể loại này)
Các tác phẩm cũ của mình
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Mợ Cả

List chương:
Chương 1 (1)
Chương 1 (2)
Chương 2 (1)
Chương 2 (2)
Chương 3 (1)
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9 (1)
Chương 9 (2)
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13 (1)
Chương 13 (2)
Chương 14 (1)
Chương 14 (2)
Chương 15 (1)
Chương 15 (2)
Chương 16 END (1)
Chương 16 END (2)

DONE bộ này
An Khe Tra Vang-0aaa1.webp
 
Sửa lần cuối:
Chương 11
Bến cá Vọng Khê lúc mờ sáng chìm trong một lớp sương mù đặc quánh, lạnh lẽo và mặn chát. Những vệt sương sực nức mùi cá tôm vừa cất lưới, quyện lẫn với mùi bùn non và mồ hôi người, tạo thành một thứ không khí sền sệt, nặng nề. Dưới chân, nền đất nhão nhoét in chằng chịt những dấu chân trần trượt đi vội vã. Tiếng dao phay băm chan chát xuống thớt gỗ, tiếng đàn bà xắn quần quá gối the thé mặc cả xé toạc cái tĩnh lặng của buổi sớm mai.

Nhưng cái nhịp điệu xô bồ ấy bỗng chốc bị cắt ngang bởi một âm thanh đanh thép xé tan màn sương.

Xoảng! Xoảng! Xoảng!

Một tên lính lệ áo nẹp đỏ đứng trên bục đá cao cạnh gốc đa cổ thụ. Hắn giơ cao một chiếc đĩa đồng thau sáng loáng của nha môn. Chiếc dùi gỗ trong tay hắn nện dứt khoát vào mặt đĩa, tạo ra những luồng âm thanh cao vút khiến những kẻ đang mải mê tranh giành rổ tôm cũng phải giật mình dừng tay, ngơ ngác ngước nhìn.

Hắn hắng giọng, tiếng loa truyền đi dõng dạc, mang theo cái uy quyền sắt đá của quan nha: "Chiềng làng chiềng chạ! Thượng lệnh quan trên! Toàn thể bá tánh Vọng Khê nghe cho rõ! Đêm qua, Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đại nhân dùng phải cá ươn thiu, dẫn đến ngộ độc, nôn ra huyết đen, tưởng chừng đã về chầu tiên tổ. May thay, nhờ thần y Cuội kịp thời nhai lá thần cứu mạng, ngài đã qua cơn bĩ cực, giữ lại được mạng sống! Để tạ ơn trời đất phật thánh, tối nay vào giờ Tuất, Quan Phủ đại nhân sẽ mở kho, phát chẩn một trăm bao gạo cho dân nghèo ngay tại sân sau huyện đường! Ngài hiện sức khỏe còn yếu, thọ phong hàn nên sẽ chỉ ngồi ban phúc sau rèm lụa. Kẻ nào đến nhận gạo phải giữ gìn trật tự, cấm huyên náo làm kinh động đến ngài!"

Đọc xong, tên lính phết hồ dán phịch tờ cáo thị lên thân cây đa. Tiếng xoảng lại vang lên một hồi kết thúc. Hắn đưa mắt quét một vòng qua những gương mặt đang há hốc vì kinh ngạc, rồi hất hàm ra lệnh cho toán lính: "Xong chỗ này rồi! Thúc nhanh cái chân lên, chúng ta còn phải sang làng Yên Lạc, rồi cả phố huyện nữa. Quan huyện Duy đã dặn, trước khi mặt trời đứng bóng, không được để sót một xó xỉnh nào trong cái huyện Hoằng Hóa này không biết tin!"

Toán lính lệ rầm rập quay gót, tà áo nẹp đỏ phất phơ trong gió sớm. Nhưng ngay khi bóng áo đỏ vừa khuất sau khúc quanh đường làng, một luồng sóng xì xào bắt đầu rộ lên, rồi nhanh chóng bùng nổ thành một cái chợ vỡ thứ hai.

Tại phản bán cá, một gã thanh niên lực lưỡng vứt tạch con dao mổ cá xuống thớt, đưa tay quệt vệt máu tanh trên má rồi phá lên cười hơ hớ. Hắn huých cùi chỏ vào lão già đang đan lưới cạnh bên, đôi mắt lấp lánh vẻ mỉa mai:

"Cá ươn? Ngộ độc? Khỉ gió! Lão nghe thấy gì không? Cái ông 'quan Phủ' ngộ độc ấy, chẳng phải là cái gã béo ục ịch rạng sáng hôm kia mặc quần áo lụa rách bướm, lẻn vào nhà thằng Sứa định trộm thỏi vàng rồi bị xóm mình quật cho tơi tả đấy sao?"

Lão đan lưới rít một hơi thuốc lào sòng sọc, nhả khói mù mịt qua kẽ răng thưa rồi chép miệng: "Thì chứ còn gì nữa! Bảo là nôn ra huyết vì cá ươn, ta đồ rằng nôn máu do ăn mấy gậy đòn gánh của dân làng mình thì có! Quan với chả nha, đi ăn trộm còn bày đặt!"

Cách đó không xa, một bà lão đang phân loại mớ tép nhảy lép bép trong thúng bỗng chắp hai tay hướng về phía huyện đường, đôi mắt già nua nhăn nheo ầng ậc nước. Bà rơm rớm nói với mấy người đàn bà xung quanh: "Cũng là phúc tổ bảy mươi đời làng mình có Quan huyện Nguyễn Duy. Lúc giải đám trai làng lên huyện vì cái tội 'đánh nhầm quan trên', ta cứ tưởng tụi nó rũ xương trong ngục tối rồi. Ai dè Quan huyện Duy thấu tình đạt lý, biết dân mình chỉ bảo vệ xóm làng chứ không có ác ý, ngài đã âm thầm cho thả hết tụi nhỏ về nhà. Ngài ấy bảo 'dân không biết không có tội'. Chứ rơi vào tay cái ông Phủ béo hay thù vặt kia thì hôm nay đình làng lại có lệ rơi đầu rồi."

Trong khi đó, ở góc chợ nghèo nhất, những ánh mắt mờ đục của những người ăn mày bỗng cháy rực lên một tia sáng. Một người đàn bà gầy guộc, áo vá chằng vá đúp, cuống cuồng vơ vội mấy cái rổ rách, đập đập gậy vào lưng đứa con nhỏ đang ngủ gật: "Bỏ mớ ốc đó xuống! Đi! Về nhà lấy cái thúng to nhất ra xếp hàng ngay! Có một trăm bao gạo thôi, chậm chân là hết phần đấy con ơi!"

Nhưng xen lẫn trong cái ồn ào của sự giễu cợt và lòng tham, một luồng không khí u ám vô hình vẫn lẩn khuất luồn lách qua những gánh hàng. Lão Tám Chài kéo sụp chiếc nón lá tơi tả che khuất nửa khuôn mặt sạm nắng. Lão rụt cổ lại, hàm răng nhai trầu nhóp nhép trào ra thứ nước đỏ au như máu. Lão hạ giọng thì thào với mấy gã đàn ông đang ngồi thu lu bên đống lửa sưởi ấm: "Các chú đừng có vội mừng. Lão quan đó xưa nay vắt cổ chày ra nước, bao giờ cho ai nắm đất nào. Nay tự dưng lại mở kho phát chẩn? Mọi người không thấy lạ à?"

Lão Tám rùng mình một cái, ánh mắt liếc nhìn về phía bóng tối âm u của huyện đường xa xa: "Không phải cá ươn gì đâu... Là 'vía' nặng đấy! Hồn oan đang vất vưởng về đòi nợ máu nên quan lớn mới trúng tà ác, suýt mất mạng. Cái trò phát chẩn này, thực chất là ngài ấy đang bỏ tiền ra để mua chuộc cô hồn dạ quỷ, mua lại cái mạng của mình thôi!"

Câu nói của lão Tám như một luồng gió lạnh thổi tạt qua, khiến mấy kẻ đang háo hức về việc nhận gạo bỗng dưng rụt tay lại, nhìn nhau e dè.



Đêm xuống, làng Vọng Khê không còn cái tĩnh lặng như mọi ngày. Sương đêm từ biển tràn vào, gặp hơi nóng của hàng chục ngọn đuốc cắm dọc lối đi vào huyện đường tạo thành một màn khói mờ ảo, đặc quánh.

Tại sân sau huyện nha, không khí trầm mặc đến đáng sợ. Hàng trăm người dân nghèo khổ, quần áo tả tơi, chân đi đất, tay ôm thúng mủng đứng xếp hàng dài dằng dặc. Tuy đông đúc, nhưng không một tiếng cười nói, không một lời than vãn. Chỉ có tiếng gió rít qua kẽ lá đa và mùi khói hương trầm nồng nặc, nghi ngút bốc lên từ những chiếc lư đồng lớn đặt bốn góc sân. Làn khói trắng lảng bảng theo gió, quấn quýt lấy chân người, khiến khung cảnh chẳng khác nào một buổi tế lễ u linh.

Dưới ánh đuốc chập chờn, những gương mặt hốc hác, đôi mắt sâu hoắm của dân nghèo đều đổ dồn về phía bậc thềm cao của hậu đường. Ở đó, Quan huyện Nguyễn Duy vừa bước ra.

Chàng khoác chiếc áo dài nho sinh màu xanh thẫm phẳng phiu, đầu đội khăn xếp ngay ngắn, dáng đứng thẳng tắp như cây tùng giữa bão. Ánh lửa bập bùng soi rõ gương mặt thanh tú nhưng cương nghị, đôi mắt phượng sắc sảo quét qua đám đông một lượt khiến ai nấy đều vô thức cúi đầu, không dám nhìn thẳng. Chàng chắp tay sau lưng, giọng nói vang lên trầm hùng, rành rọt, át cả tiếng xào xạc của đêm tối: "Hỡi bà con bá tánh huyện Hoằng Hoá! Trời cao có mắt, thần phật linh thiêng. Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đại nhân vốn dĩ đã chạm chân vào cửa tử sau trận bạo bệnh đêm qua. Thế nhưng, nhờ lòng thành hướng thiện, mạng lớn của người chưa tuyệt nên đã được thần y cứu sống trong gang tấc."

Duy ngừng lại một nhịp, tà áo lụa khẽ lay động trong gió. Chàng hạ giọng nhưng sức nặng của từng chữ vẫn khiến lòng người rung động: "Sau khi vượt qua cửa tử, ngài Tri Phủ đã đại ngộ, hiểu rằng của cải thế gian chỉ là vật ngoài thân, phúc đức mới là gốc rễ bền lâu. Chính vì lẽ đó, dù sức khỏe còn rất yếu, ngài vẫn nhất quyết lệnh cho nha môn mở kho, chia sẻ lộc trời cho bà con. Một trăm bao gạo này không chỉ là thức ăn, mà là tấm lòng thành của ngài muốn tích đức cho vùng đất Hoằng Hóa!"

Lời nói của Nguyễn Duy như một liều thuốc trấn an, khiến dân chúng bắt đầu rục rịch, những tiếng "Mô Phật" khẽ vang lên trong đám đông. Tuy nhiên, ánh mắt của mọi người nhanh chóng bị thu hút bởi một điểm đen huyền bí nằm ngay phía sau lưng quan huyện.

Cánh cửa ngách dẫn vào thư phòng hậu đường chỉ khép hờ, để lộ một khe hở tối huơ tối hoắc, sâu hoắm. Giữa cái bóng tối đặc quánh như mực tàu ấy, chỉ có duy nhất một ngọn đèn dầu đơn độc, leo lét đặt trên chiếc bàn gỗ trắc sâu bên trong.

Ngọn đèn được đặt khéo léo phía sau một tấm rèm lụa mỏng màu mỡ gà. Ánh sáng yếu ớt xuyên qua lớp lụa, hắt lên một cái bóng khổng lồ.

Đó là một dáng người phục phịch, to lớn khác thường, ngồi bất động trên chiếc ghế bành cao. Cái bóng ấy sừng sững, uy nghiêm nhưng lại toát ra một luồng khí lạnh lẽo rợn người. Qua lớp rèm, người ta chỉ thấy mờ mờ cái ngấn cổ to bè và đôi bả vai rộng thênh thang, hơi thở của "Quan Tri Phủ" dường như rất nặng nề, lúc trầm lúc bổng, khiến tấm rèm lụa khẽ rung rinh theo từng nhịp.

Tiếng gạo đổ rào rào vào thúng mủng vang lên đều đặn, nhịp nhàng giữa sân. Từng người dân nghèo lầm lũi bước tới trước phản gỗ lớn, nơi lính lệ đang thoăn thoắt đong từng đấu gạo đầy ắp. Những chiếc thúng rách được chìa ra, người không có vật đựng thì đón lấy túi gạo nhỏ buộc túm bằng dây chuối từ tay quân lính.

Nhận xong phần lộc, thay vì rời đi theo lối cũ, từng người một đều được dẫn đi ngang qua trước cửa gian phòng của quan Tri Phủ. Đứng trước cái bóng phục phịch bí ẩn sau lớp rèm lụa, những đôi chân trần gầy guộc run rẩy bước chậm lại. Tiếng gối va xuống nền gạch nghe thình thịch. Ai nấy đều quỳ sụp xuống, đầu chạm mặt đất lạnh ngắt, đồng thanh lí nhí lời cảm tạ: "Lạy quan lớn cứu mạng", "Đa tạ ơn đức ngài Tri Phủ".

Họ vừa lạy vừa liếc nhìn cái bóng bất động kia bằng đôi mắt tràn ngập vẻ thành kính pha lẫn kinh hoàng. Một lão già thì thào với đứa cháu nhỏ đang nép sát vào lưng mình: "Vía ngài nặng quá... Người vừa từ cõi chết trở về, khí lạnh thấu xương. Nhìn cái bóng kia mà lão thấy rợn cả tóc gáy, cứ như ngài đang nhìn thấu tâm can mình vậy."

Một người đàn bà khác đứng gần đó cũng hùa theo, giọng run bần bật: "Ngài ngồi đó như một pho tượng đá, chẳng động đậy lấy một phân. Chắc là ngài đang tu thiền để giữ mạng sống. Thôi, nhận gạo xong thì đi mau, kẻo phạm vào linh khí của quan lớn thì khốn!"



Đêm càng về khuya, sương muối càng buông xuống dày đặc, cái lạnh luồn lách qua từng lớp áo. Hàng người xếp hàng đã vơi đi quá nửa. Tiếng đấu gỗ vét vào đáy những chiếc thúng không phát ra âm thanh sột soạt khô khốc.

Quan huyện Nguyễn Duy chắp tay đứng trên bậc thềm, ánh mắt vẫn bao quát toàn bộ sân đình không bỏ sót một góc nhỏ. Thấy gạo đã cạn, chàng giơ cao tay áo, dõng dạc ra lệnh: "Lính lệ đâu! Mở thêm kho, mang thêm năm mươi bao gạo nữa ra đây! Đêm nay quyết không để bá tánh nào phải ra về tay không!"

Vài tên lính canh gác quanh gian phòng hậu đường vội vã tách hàng, chạy ùa về phía kho lương phía đông, khiến hàng rào bảo vệ quanh bức rèm lụa nhất thời mỏng đi đôi chút.

Đúng lúc đó, đến lượt một gã ăn mày tiến lên bục nhận gạo. Dáng vẻ gã tiều tụy, bước chân lê lết, khập khiễng một cách khó nhọc. Nửa khuôn mặt gã quấn chằng chịt những lớp vải băng bẩn thỉu, rỉ ra những vệt ố vàng, chỉ chừa lại một con mắt đục ngầu, mệt mỏi rũ xuống. Gã vươn đôi bàn tay gầy guộc, cáu bẩn đón lấy túi gạo nhỏ từ lính lệ, miệng lẩm bẩm những tiếng cảm tạ không rõ lời.

Ôm túi gạo vào lòng, gã ăn mày chậm rãi lết từng bước về phía cánh cửa ngách, nơi có bức rèm lụa mỏng và cái bóng to lớn đang ngồi bất động.

Gã dừng lại trước ngưỡng cửa tối tăm, hai đầu gối từ từ khuỵu xuống nền gạch Bát Tràng lạnh buốt.

"Đa tạ... ơn cứu mạng... của ngài..." Gã thều thào, đầu cúi gập xuống sát đất.

Nhưng ngay trong khoảnh khắc cái đầu dập xuống ấy, khí chất tiều tụy, yếu ớt của gã ăn mày bỗng nhiên bốc hơi sạch sẽ. Con mắt đục ngầu vụt lóe lên một tia sát khí lạnh buốt như băng tuyết.

Bàn tay trái của gã, vốn đang khư khư ôm túi gạo, đột ngột vung lên. Cái dáng vẻ khập khiễng tiều tụy biến mất hoàn toàn, thay vào đó là thân pháp thoăn thoắt, nhanh như chớp. Từ trong ống tay áo rách tươm, một thanh đoản đao sắc lẹm trượt gọn vào lòng bàn tay. Không một tiếng động thừa, gã sát thủ lao vút tới như một bóng ma, dồn toàn bộ kình lực vào cánh tay trái, đâm thẳng mũi đao xuyên qua lớp rèm lụa mỏng mảnh, nhắm chuẩn xác vào vị trí trái tim của cái bóng phục phịch đang ngồi trên ghế.

Gã sát thủ khẽ nhếch mép dưới lớp băng vải, chờ đợi cảm giác mũi thép đâm xuyên qua lớp mỡ và da thịt ấm nóng.

Nhưng không! Thay vì tiếng gào rống thảm thiết, một biến cố kinh hoàng xảy ra. Ngay khi mũi đao của hắn vừa chọc thủng bức rèm, từ chính giữa cái bóng khổng lồ bất động ấy, một luồng sát khí lạnh buốt đột ngột bùng nổ phản bạt lại.

Keng!

Tiếng kim loại va chạm chát chúa vang lên làm rúng động cả gian phòng, tia lửa bắn ra tung tóe chiếu sáng một góc tối. Một thanh đao khác từ bên trong đã vung lên nhanh như chớp, chặn đứng hoàn toàn đòn đâm chí mạng của kẻ thủ ác bằng một lực đạo ngàn cân.

Đồng tử của tên sát thủ co rút lại tột độ. Cánh tay trái tê rần. Hắn nhận ra mình đã sập bẫy! Kẻ ngồi sau rèm không phải là một tên quan béo ục ịch đang chờ chết, mà là một mãnh thú đang mai phục. Hắn toan nhún người phi thân lùi lại phía sau để thoát thân, nhưng đã quá muộn.

Xoạc!

Tấm rèm lụa bị xé toạc thành hai nửa từ bên trong. Bóng "Quan Phủ" to béo bỗng dưng bật tung lên. Những lớp áo gấm rộng thùng thình và hàng tá bao cát ngụy trang quanh bụng bị hất văng xuống đất. Từ trong đống vỏ bọc cồng kềnh ấy, Đội trưởng Trần Hùng tung người lao ra như một con mãnh hổ vừa thoát lồng, đôi mắt quắc lên ngùn ngụt ngọn lửa phẫn nộ.

Khác với đêm trước, lần này Trần Hùng không dùng trường kiếm. Hai tay y nắm chặt thanh song đao sáng loáng. Việc sử dụng song đao chính là đòn khắc chế hoàn hảo nhất mà y và Nguyễn Duy đã tính toán để đối phó với lối đánh "tả thủ" dị biệt của tên sát thủ.

Biến cố kinh hoàng nổ ra ngay trước mắt khiến đám đông dân nghèo bên ngoài sân sững sờ trong tích tắc, rồi bùng lên nháo nhào kinh hãi. Tiếng thúng mủng rơi loảng xoảng, tiếng la hét thất thanh vang lên xé toạc màn đêm. Đứng trên bậc thềm, Nguyễn Duy vung tay dõng dạc ra lệnh: "Lính lệ! Lập hàng rào chắn! Mau chóng sơ tán toàn bộ bá tánh ra khỏi huyện đường!"

Việc thiết lập lối đi cho dân chúng nhận gạo hoàn toàn tách biệt, giữ một khoảng cách an toàn với khu vực án ngữ của bức rèm lụa vốn dĩ là tính toán cẩn mật từ đầu của Nguyễn Duy khi đặt bẫy. Chàng muốn mượn đám đông để dụ con mồi mất cảnh giác, nhưng tuyệt đối không để vòng xoáy tử chiến vạ lây đến sinh mạng dân lành.

Trần Hùng bổ nhào tới từ trên cao, hai lưỡi đao đan chéo vào nhau. Tên sát thủ nghiến răng, rút vội thanh dao găm dự phòng giắt ở thắt lưng, vung tay trái lên đỡ đòn trong tư thế cực kỳ bất lợi.

Keng!

Thanh đoản đao bên tay trái của Trần Hùng giáng xuống như búa tạ, ghim chặt lưỡi dao găm của sát thủ, khóa chết hoàn toàn hướng phản công quen thuộc của hắn. Ngay trong tích tắc đối phương bị khống chế góc đánh, thanh đao bên tay phải của Trần Hùng như một con mãng xà mổ ngang, vẽ một đường vòng cung tuyệt đẹp trong không trung.

Phập!

Lưỡi thép sắc bén xé toạc lớp áo nông dân rách rưới bên ngoài, cắt sâu qua cả lớp võ phục màu đen giấu kín bên trong. Một vệt máu đỏ thẫm tóe lên không trung.

Tên sát thủ gầm lên một tiếng đau đớn, lùi lảo đảo ra phía sau lưng vài bước. Hắn ôm chặt lấy bắp tay trái đang tuôn máu xối xả, nhuộm đỏ cả một mảng áo đen. Lối đánh tay trái quỷ khốc thần sầu của hắn giờ đây đã bị Trần Hùng phế bỏ hoàn toàn chỉ bằng một chiêu thức giao tranh chớp nhoáng.

Trần Hùng gầm lên một tiếng, tung cước đá văng thanh đao còn lại trên tay sát thủ, đồng thời ấn mạnh mũi song đao lạnh ngắt tì sát vào yết hầu đối phương. Tên sát thủ khụy một bên gối xuống nền gạch, lồng ngực phập phồng kịch liệt, máu từ bắp tay trái không ngừng rỉ ra theo từng kẽ tay tuôn xuống đất.

Bập! Bập! Bập!

Hàng loạt tiếng ma sát vang lên giòn giã. Từ bốn phía cửa sổ ngách và những góc khuất quanh dãy hành lang, hàng chục tên lính lệ phục kích sẵn đồng loạt phóng ra. Những ngọn đuốc tẩm dầu được châm lửa sáng rực, vòng vây khép chặt không để lọt một kẽ hở.

Tiếng bước chân vững chãi vang lên đều đặn. Nguyễn Duy từ từ bước ra từ bóng tối dưới hàng hiên. Ánh đuốc hắt lên sườn mặt cương nghị của chàng, soi rõ đôi mắt phượng đang nhìn kẻ thủ ác bằng một sự điềm tĩnh đến đáng sợ.

Chàng khẽ phẩy tay. Trần Hùng hiểu ý, lùi lại nửa bước nhưng mũi đao vẫn không rời khỏi cổ mục tiêu.

"Ngươi đã tự tay hạ độc giết huynh ấy một lần..." Giọng Nguyễn Duy vang lên đều đều, trầm tĩnh nhưng sắc như dao cạo, "...nay lại lặn lội đến tận đây, muốn giết hắn thêm lần nữa bằng đao sao? Tiếc là Lê huynh của ta đã chết thật rồi. Nãy giờ, ngươi chỉ đang phí sức diễn trò với chúng ta mà thôi."

Nghe câu nói ấy, cả thân hình tên sát thủ bỗng chốc cứng đờ. Hắn chớp mắt liên tục, rồi đột nhiên bờ vai hắn bỗng run lên bần bật.

Không phải vì sợ hãi, cũng không phải vì đau đớn. Từ trong cổ họng hắn bật ra một âm thanh khùng khục, rồi vỡ òa thành một tràng cười. Tràng cười điên dại, đứt quãng, xen lẫn những tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột xé gan.

Hắn hoàn toàn từ bỏ ý định kháng cự. Đưa bàn tay dính đầy máu nhầy nhụa, hắn lột phăng lớp băng gạc rách rưới trên mặt.

Dưới ánh lửa bập bùng, một gương mặt còn rất trẻ lộ ra, nhưng má trái lại bị vắt ngang bởi một vết sẹo dài lồi lõm, đỏ hỏn như con rết vắt ngang mặt, dấu tích của một nhát chém chí mạng.

"Chết rồi... Hắn thực sự chết rồi..." Sát thủ lẩm bẩm, nước mắt hòa lẫn mồ hôi ứa ra từ khóe mắt rực đỏ, "Ông trời rốt cuộc cũng có mắt!"

Hắn ngước lên nhìn Nguyễn Duy, đôi mắt hằn sâu những tia máu của thù hận: "Quan huyện, ngài cho rằng ta chỉ hạ độc vào mỗi ấm nước vối của hắn thôi sao?" Hắn nhếch mép, một nụ cười thê lương và tàn độc nở rộ trên môi. "Không! Trả thù cho hàng chục mạng người nhà của ta ở Hà Trung, chỉ một mạng của tên cẩu quan này làm sao cho đủ?"

Nguyễn Duy hơi nheo mắt lại nhưng vẫn đứng chắp tay sau lưng, bất động.

Tên sát thủ gầm lên, giọng đặc quánh thù hận: "Hai năm trước, chính tay gã Tri Phủ thối nát này, vì muốn phá án nhanh để tranh công đoạt tước, đã nhắm mắt nhắm mũi ký trát chém đầu toàn bộ gia đình ta! Cha ta là quản gia nhà họ Dương, những người hầu kẻ hạ trung kiên chỉ đang cố bảo vệ chủ nhân chạy trốn khỏi đám sơn tặc, cuối cùng lại bị nha môn tóm lại và vu cho tội đồng lõa! Lúc đó, ta đang đi học võ ở phương Bắc nên mới giữ được cái mạng quèn này!"

Hắn điên cuồng chỉ tay về phía cái xác: "Vì thế, ta không chỉ muốn mạng của hắn! Ta đã đổ toàn bộ kịch độc Đoạn Trường Thảo xuống tận đáy cái giếng ở giữa sân huyện đường này! Bất cứ kẻ nào khoác áo quan nha, ăn lộc triều đình ở cái chốn mục nát này mà múc nước giếng uống, đều phải đền mạng cho gia đình ta!"

Hắn ngửa mặt lên trần nhà cười gằn, hơi thở dốc dồn dập: "Nhưng ý trời đã định! Gã họ Lê cẩu thả này vô tình lại là người đầu tiên khát khô cổ, nốc cạn bát nước vối pha từ gàu nước sớm nhất vừa múc lên! Hắn chết nhanh nhất, đau đớn nhất!"

Gã sát thủ chờ đợi một biểu cảm hoảng loạn, sợ hãi, hay chí ít là sự bàng hoàng từ vị quan huyện trẻ tuổi trước mặt. Bởi nếu lời hắn nói là thật, cả cái nha môn này đang đứng trên bờ vực của cái chết.

Nhưng trái với sự đắc ý điên cuồng của hắn, Nguyễn Duy không hề nao núng. Chàng không lùi bước, khuôn mặt vẫn phẳng lặng như mặt hồ mùa thu.

Nguyễn Duy khẽ rũ tà áo, giọng nói lạnh lùng vang lên, đập tan mọi sự hả hê của kẻ thủ ác: "Ngay khoảnh khắc Lê huynh nôn ra ngụm máu đen đầu tiên, ta đã nhận ra sự bất thường. Một vốc trà nhỏ không thể phát độc nhanh như vậy. Ta đã lập tức sai người âm thầm niêm phong toàn bộ chum vại, đặc biệt là cấm tiệt việc múc nước từ giếng chính. Nước vối, nước chè ngày hôm nay nha môn dùng đều được lấy từ giếng của miếu Thành Hoàng."

Ánh mắt Duy sắc lẹm, chọc thẳng vào sự ngỡ ngàng của tên sát thủ: "Ngươi tưởng ta mờ mắt đến mức để cho thuộc hạ và huynh đệ của mình chết một cách vô ích, ngu ngốc như vậy sao?"

Nụ cười trên môi tên sát thủ tắt lịm. Đôi mắt hắn mở to, trân trối nhìn vị quan trẻ tuổi với vẻ khó tin. Sự thâm sâu và cẩn mật của Nguyễn Duy hoàn toàn vượt xa sự tưởng tượng của một kẻ bị lòng thù hận che mờ mắt.

Nguyễn Duy khẽ thở dài, ánh mắt bớt đi vài phần sắc lạnh, nhưng tăng thêm sự uy nghiêm của bậc trượng phu thấu suốt đạo lý: "Ngươi mượn cớ báo thù cho gia tộc, nhưng lại tàn nhẫn hạ độc xuống cả giếng nước, định đoạt mạng những người vô tội ở nha môn này. Oan oan tương báo, lấy máu rửa máu, vòng lẩn quẩn ấy đến bao giờ mới dứt? Ngươi giết người hôm nay để trả thù, ngươi không nghĩ rằng ngày mai, thân nhân của những kẻ vô tội kia lại cầm đao tìm đến dòng họ của ngươi.!"

Thấy kẻ thủ ác đã cạn lời, vai thõng xuống trước những lý lẽ đanh thép, Duy phẩy tay, giọng nói đanh lại, uy nghiêm ban lệnh: "Trần Hùng! Khóa tay hắn lại, giải thẳng xuống ngục thất, nhốt riêng một buồng biệt giam, canh gác ngày đêm. Sáng mai ta sẽ đích thân lấy khẩu cung cụ thể!"

Lính lệ rầm rập xông tới, xiềng xích bằng sắt lạnh ngắt móc chặt vào tay chân tên sát thủ. Dù bắp tay máu vẫn chảy, nhưng hắn không rên la lấy một tiếng.

"Ha... ha ha..." Hắn ngửa cổ lên trời cười dài, giọng khàn đặc, đầy vẻ mãn nguyện. "Chỉ cần kẻ thủ ác đã phải đền mạng, linh hồn cha mẹ ta dưới suối vàng được an ủi, thì quan huyện muốn chém, muốn róc xương lột da ta thế nào ta cũng cam lòng! Cái mạng này... vốn đã chết từ hai năm trước rồi!"

Bóng tên sát thủ bị áp giải khuất dần sau hành lang tối. Trong khoảng sân giờ đây chỉ còn lại tiếng đuốc nổ lách tách. Nguyễn Duy đứng lặng người, bóng chàng đổ dài trên mặt đất. Chàng vừa chiến thắng một ván cờ sinh tử, nhưng trong ánh mắt lại chất chứa một nỗi xót xa vô hình cho sự thối nát của quan trường, thứ đã biến một người con hiếu thảo thành một cỗ máy giết người máu lạnh.



Việc một quan Tri Phủ của triều đình bị sát hại ngay trong huyện đường là một trọng án kinh thiên động địa, thế nên suốt cả ngày qua, Phan Tiên Sinh với sự trợ giúp của y sĩ Cuội đã đóng chặt cửa, tiến hành khám nghiệm tử thi vô cùng kỹ càng. Căn phòng nặc mùi giấm chua, bã trầu và tử khí, ánh đèn cầy leo lét hắt những cái bóng vặn vẹo lên bức tường vôi lở lói.

Nguyễn Duy vén rèm bước vào. Bên trong, Phan Tiên Sinh đang cúi gập người, nheo mắt rà soát từng tấc da thịt trên thi thể dưới ánh sáng của ngọn đèn lồng do y sĩ Cuội cầm soi. Ở một góc bàn, Thầy Đề Lĩnh mím chặt môi, bàn tay cầm cọ run rẩy ghi chép từng lời nhận định vào cuốn sổ bìa sồi.

Nghe tiếng bước chân, Phan Tiên Sinh ngẩng lên, không rào trước đón sau mà đi thẳng vào vấn đề. Gương mặt khắc khổ của y hiện lên một vẻ nghiêm trọng dị thường.

"D... Duy, đến đ... đúng lúc lắm." Phan Tiên Sinh vẫy tay gọi Duy lại gần, rồi cẩn thận dùng những ngón tay gầy guộc lật nghiêng cái đầu cứng đơ của cái xác sang một bên.

Y chỉ vào một điểm khuất dạng nằm ngay dưới chân tóc sau gáy, sát với đốt sống cổ thứ nhất. Ở đó, nếu không nhìn kỹ dưới ánh đèn soi sát sạt, sẽ không thể nhận ra một chấm nhỏ xíu chỉ bằng đầu tăm, vùng da xung quanh đã chuyển sang màu tím sẫm ngả đen.

Phan Tiên Sinh rút từ trong tay áo ra một chiếc kẹp bạc mảnh, tỉ mỉ kẹp vào chấm đen đó rồi từ từ rút ra.

Nguyễn Duy nín thở, bất giác bước sát lại gần bàn khám nghiệm: "Phan Huynh, đó... chẳng lẽ là ám khí?"

Dưới ánh lửa, một vật thể sắc nhọn, mỏng manh như sợi tóc dài chừng nửa thốn dần hiện ra. Cả thân mũi kim ngả một màu đen kịt, tỏa ra thứ hàn khí bức người.

"L... là Ngưu Mao Châm," Phan Tiên Sinh giơ chiếc kẹp bạc lên ngang tầm mắt, nét mặt đanh lại. "M... mỏng như lông, đâm vào da th... thịt người, chết cũng không r... ra máu."

Cuội ghé sát lại gần, sống mũi chun lại khi ngửi thấy mùi hương lạ thoảng ra từ đầu kim. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống góc tường, nhếch mép cười nhạt: "Thứ này không chỉ mỏng đâu, tẩm toàn kỳ độc đấy."

"Đ... Đoạn Trường Thảo l... là kịch độc, cắn rứt ruột gan, g... gây co giật và n... nôn mửa..." Phan Tiên Sinh rủ rỉ giải thích, giọng nói đều đều nhưng liên tục vấp váp vì tật cà lăm, "Nh... nhưng nôn ra một vũng máu, đen đặc và ồ ạt như đêm qua th... thì lại là do m... mạch máu đứt gãy bất thường. Mũi k... kim này chứa một loại đ... độc hoàn toàn khác..."

Cuội khoanh hai tay trước ngực, hất hàm tiếp lời, giọng điệu chẳng màng đến lễ nghĩa quan nha: "Nói trắng ra nhé quan lớn, thứ độc trên kim này là hàng cao cấp, đám giang hồ cỏ vùng Hoằng Hóa này moi đâu ra! Nó ngấm từ từ, chỉ cần chờ thêm một mồi lửa xúc tác châm vào... bùm! Xong đời một kiếp người."

Đồng tử Nguyễn Duy chợt co rút. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng chàng.

Tên sát thủ tay trái kia vừa khai nhận chính tay hắn đã đổ Đoạn Trường Thảo xuống giếng, và Cẩn là kẻ uống bát nước vối tử thần đó. Rõ ràng, bát nước vối chỉ là thứ chất xúc tác ép loại độc thứ hai trong gáy bùng phát cùng một lúc. Vậy kẻ nào đã ghim mũi kim này vào gáy Cẩn?

"Huynh ấy đã bị ám sát từ khi nào?" Duy buột miệng lẩm bẩm, đôi chân mày chau lại thành một đường thẳng tắp. Chàng đột ngột quay ngoắt sang góc phòng, ánh mắt sắc như chim ưng ghim thẳng vào Thầy Đề Lĩnh đang đổ mồ hôi hột.

"Thầy Đề!" Giọng Duy đanh lại, mang theo uy áp bức người. "Từ lúc được y sĩ Cuội cứu sống đêm hôm kia, cho đến lúc gục chết vào trưa hôm qua, Lê huynh đã gặp gỡ những ai? Đi những đâu?"

"Bẩm... bẩm quan..." Giọng Thầy Đề ấp úng, "Sáng sớm hôm qua... sau khi tỉnh lại và cảm thấy trong người khoan khoái hơn, Quan Phủ đại nhân bỗng dưng... bỗng dưng có vẻ tỉnh táo lạ thường. Ngài ấy gắt gỏng đuổi hết nha dịch, một mực đòi thay y phục để ra ngoài 'đi dạo' cho thoáng người..."

Sắc mặt Duy tối sầm lại. Đầu óc chàng quay cuồng với hàng loạt câu hỏi. Trong khoảng thời gian "đi dạo" ngắn ngủi ấy, rốt cuộc Lê huynh đã đi những đâu? Đã vô tình hay cố ý gặp gỡ những ai? Và kẻ thủ ác đã hành động ra sao, tiếp cận thế nào để có thể ghim một mũi Ngưu Mao Châm vào tận gáy mà ngay cả một kẻ đa nghi như Lê Khắc Cẩn cũng không hề hay biết?

Chàng lùi lại một bước, ánh mắt chuyển từ Thầy Đề sang cái xác lạnh lẽo, rồi dừng lại ở mũi kim đen sì trên chiếc kẹp bạc của Phan Tiên Sinh. Bầu không khí trong phòng bỗng chốc trở nên đặc quánh, ngột ngạt đến khó thở. Chợt, một luồng ký ức xẹt qua tâm trí Duy khiến sống lưng chàng lạnh toát. Căn nhà gỗ chênh vênh nơi vách đá Vọng Nguyệt... Dấu vết của kẻ thứ ba bí ẩn thoắt ẩn thoắt hiện đêm hôm đó... Liệu hắn và chủ nhân của mũi kim tẩm độc này... có phải là cùng một người?

Giữa lúc bầu không khí đang chìm trong sự im lặng căng thẳng, Cuội bỗng chép miệng. Gã hất hàm, ném một cái nhìn đầy mỉa mai, buông lời khích bác về phía quan huyện: "Này quan lớn, ngài lo xa mường tượng đẩu đâu làm gì cho mệt óc. Thế ngài không nghĩ tới chuyện... kẻ cắm cái gai này vào cổ lão quan béo kia chẳng cần tìm đâu xa, mà hắn chính là người đang ở ngay trong cái nha môn này sao?"

Câu nói bâng quơ nhưng sắc như dao đâm của Cuội khiến sống lưng Nguyễn Duy lạnh toát. Chàng sững người, một cơn ớn lạnh bò dọc bờ vai.

"Chúng ta vừa bắt được một con sói..." Nguyễn Duy lẩm bẩm, bàn tay siết chặt lại giấu sau lưng tà áo, ánh mắt thâm trầm xoáy sâu vào ngọn lửa đèn cầy đang leo lét, "...nhưng lại không ngờ rằng, có một con độc xà vẫn đang cuộn mình nhởn nhơ ngay dưới chân."

"Thôi được rồi!" Nguyễn Duy đột ngột quay gót, ánh mắt lóe lên sự quyết đoán sắc lạnh, "Ta sẽ đi tra hỏi tên sát thủ kia ngay lập tức trước khi có biến. Thầy Đề, mau theo ta!"

Nguyễn Duy giật lấy chiếc lồng đèn từ tay lính gác, gấu áo lụa tung bay khi chàng rảo những bước dài xuống dãy bậc thang đá nhớp nháp rêu phong. Bóng tối của ngục thất dưới lòng đất chực chờ nuốt chửng ánh lửa vàng ệch. Thầy Đề lật đật chạy theo sau, tiếng thở dốc hòa cùng tiếng gót giày nện thình thịch vỡ vụn trong không gian chật hẹp, u ám.

Vừa rẽ qua ngã rẽ dẫn vào khu biệt giam, bước chân Duy đột ngột đóng đinh xuống mặt đất. Cổ tay chàng khẽ run lên, khiến chiếc lồng đèn chao đảo. Một thứ mùi rỉ sét, nồng nặc và tanh tưởi xộc thẳng vào cuống họng, đè bẹp cả cái mùi nấm mốc và nước đọng kinh niên của nhà lao.

Chàng từ từ nâng cao lồng đèn. Ánh sáng chiếu hắt qua những song sắt rỉ sét, rọi thẳng vào góc tường. Ở đó, tên sát thủ trẻ tuổi đang ngồi gục đầu xuống ngực. Hai cánh tay bị xích bằng gông sắt buông thõng, chỏng trơ. Không còn tiếng thở dốc dồn dập hận thù như ban nãy, lồng ngực hắn giờ đây phẳng lặng như mặt hồ chết.

Nguyễn Duy áp sát mặt vào song sắt, đồng tử co rút. Dưới cằm tên tội đồ, một dòng chất lỏng đặc quánh, sẫm màu đang từ từ rỏ xuống tảng đá lạnh lẽo, đọng lại thành một vũng đen ngòm trên lớp rơm tơi tả. Hai hàm răng của hắn nghiến chặt vào nhau đến mức cơ hàm bạnh ra cứng đơ, khóe môi rách toạc.

"Trời... trời đất quỷ thần ơi..." Tiếng Thầy Đề Lĩnh rít lên rền rĩ ngay sau lưng Duy. Giọng lão run rẩy, lập cập như kẻ đang lên cơn sốt rét, chiếc lồng đèn trong tay chao đảo chực rơi xuống đất. "Hắn... hắn cắn lưỡi tự tận rồi bẩm quan!"

Quả thực, tên sát thủ đã dùng chút sức tàn cuối cùng, nghiến nát chính cuống lưỡi của mình để bịt miệng vĩnh viễn, tàn nhẫn kết liễu một kiếp người mang nặng oán thù và mang theo toàn bộ sự thật xuống tuyền đài.

Giữa cái tĩnh lặng chết chóc ấy, từ buồng giam tối tăm kế bên chợt vang lên những tiếng rên rỉ đứt quãng, thê lương.

"Hử... hử... oan uổng... đau quá..."

Nguyễn Duy soi đèn bước sang. Đó là Sứa, gã thanh niên làng chài xui xẻo bị bắt giam từ hôm trước. Gã đang nằm cuộn tròn trên đống rơm rạ ẩm ướt, cả người rách nát, đầy rẫy những vết thương rướm máu đỏ lòm.

Duy cau mày, chỉ tay vào thân hình tàn tạ trong ngục, ánh mắt sắc lạnh quay sang hỏi: "Thầy Đề, tên này... sao lại ra nông nỗi này?"

Thầy Đề Lĩnh khúm núm bước tới, vội vã đưa tay áo lau lớp mồ hôi lạnh đang vã ra trên trán: "Dạ... bẩm quan... là do Quan Tri Phủ. Ngài ấy đích thân xuống ngục, dùng cực hình tra khảo tên này để ép hắn nhả ra chỗ giấu số vàng của lão Tham..."

Nguyễn Duy đứng lặng người, hai bàn tay siết chặt. Chàng thở dài, áp sát mặt vào song sắt, thậm chí quỳ một gối xuống nền đất ẩm thấp để nhìn rõ hơn khuôn mặt bầm dập của gã thanh niên. "Ngươi... là Sứa phải không?" Giọng Duy cất lên, không mang sát khí mà pha chút xót xa. "Nói cho ta biết, ngoài việc nhặt được vàng, ngươi còn chuyện gì giấu giếm nha môn không?"

Sứa khó nhọc hé mở đôi mắt sưng húp. Dưới ánh đèn lồng, đôi môi nứt nẻ, rỉ máu của gã mấp máy từng chữ thều thào đứt quãng: "Oan... oan cho con... Con và thằng Hến... đúng là có lấy được vàng từ xác ông Tham... nhưng... nhưng thằng Hến chết rồi... nó chết chìm cùng đống vàng đó dưới biển rồi..."

Duy nheo mắt, chớp lấy một điểm bất thường mà chàng đã nghi ngờ từ lâu: "Làng chài Vọng Khê thiếu gì hang hốc, tại sao các ngươi lại phải nhọc công chèo thuyền ra tận hòn đảo hoang vu, xa xôi đó chỉ để bắt cua đá?"

Sứa thóp bụng, ho khan mấy tiếng làm văng ra những tia máu nhỏ. Lồng ngực gã phập phồng yếu ớt, cố rặn ra từng lời: "Là do... do thằng Hến... Nó kể... có một ông thầy... đã cho tiền nó... Ông ấy dặn nó... phải tìm người, ra đúng cái đảo đó... bắt cua đá mang về cho thầy ấy... cho những mười quan tiền lận..."

Nguyễn Duy đứng phắt dậy, gấu áo tuột khỏi tay. "Một ông thầy?"

Kẻ thứ ba thoắt ẩn thoắt hiện ở vách đá Vọng Nguyệt, mũi Ngưu Mao Châm tẩm kỳ độc ghim sau gáy Cẩn, và giờ là một "ông thầy" bí ẩn đứng sau vung tiền sai khiến anh em Sứa ra đảo để phát hiện ra xác ông Tham. Sợi dây liên kết vô hình giữa các sự kiện tưởng chừng rời rạc đang dần lộ diện. Đầu mối duy nhất về tên sát thủ vừa đứt đoạn, nhưng lời khai của Sứa lại mở ra một con đường khác, dẫn thẳng vào một vũng lầy sâu hiểm và tăm tối hơn chàng tưởng tượng rất nhiều.
 
Sửa lần cuối:
Chi tiết ông khầy cho tiền thằng Hến để ra hòn Mê, mục đích của ông khầy là gì nhỉ các bác? Để tìm thấy xác ông Tham hay để lấy lại túi vàng?
 
Chi tiết ông khầy cho tiền thằng Hến để ra hòn Mê, mục đích của ông khầy là gì nhỉ các bác? Để tìm thấy xác ông Tham hay để lấy lại túi vàng?
Em nghĩ để tìm thấy xác ông Tham, để chứng thực việc ông Tham chết bởi con chim thần là thật (do có lông chim trong tay) và mình vô tội.
Còn túi vàng ở tay ông Tham thì nếu thằng Hến khai đúng, thì là vàng thật, đây là 1 nhóm cướp nổi tiếng nên sẵn sàng hi sinh 1 khoản vàng cho ông Tham,sau đó giết ông Tham vì mục đích đoạt lại ngôi nhà (những gì xứng đáng thuộc về mình) chứ không phải vì tiền.
-> Mọi nghi vấn lớn nhất vẫn là khầy Hiếu vì có động cơ rõ ràng, btw có thêm vụ hạ độc ông tri phủ nên em nghĩ có người khác đứng sau (thằng Cuội chẳng hạn, plotwist)
 
Câu chuyện nếu em vẽ ra thì nó đang như sau:
Khầy Hiếu được chia phần thiệt, gia sản bố mẹ để lại hết cho người anh -> bất mãn
Khầy lên kinh học mấy năm, thực chất có giao du với nhóm cướp (hoặc 1 môn phái chân truyền của Lỗ Ban, có skill mộc rất đỉnh, tương truyền Lỗ Ban làm được con chim gỗ, có khả năng cưỡi bay đi được)
Sau vụ cướp 1 nhà phú hộ, khầy đón nàng Sen (là con phú hộ) bị câm thật hoặc giả về nhà làm vợ, lên kế hoạch cho nhóm cướp để đổi nhà ông Tham, chiếm đoạt hết gia sản của ông này và làm ra vụ chết người.
Sau đó có mâu thuẫn khi ăn chia tài sản, Khầy (hoặc hung thủ) đã giết 2 người còn lại chiếm toàn bộ tiền vàng, phóng hoả đốt con chim phi tang, dựng hiện trường giả.
Hung thủ thuê thằng Hến ra hòn Mê, để phát hiện xác ông Tham nhằm chối tội.

Toàn bộ vụ này, nếu xem xét tổng thể nghi phạm lớn nhất vẫn là khầy Hiếu và vợ thầy, nếu tác giả thích plotwist thì có thể là người khác (Cuội). Nhưng em nghĩ diễn biến thì nó như trên :mad:
 
Câu chuyện nếu em vẽ ra thì nó đang như sau:
Khầy Hiếu được chia phần thiệt, gia sản bố mẹ để lại hết cho người anh -> bất mãn
Khầy lên kinh học mấy năm, thực chất có giao du với nhóm cướp (hoặc 1 môn phái chân truyền của Lỗ Ban, có skill mộc rất đỉnh, tương truyền Lỗ Ban làm được con chim gỗ, có khả năng cưỡi bay đi được)
Sau vụ cướp 1 nhà phú hộ, khầy đón nàng Sen (là con phú hộ) bị câm thật hoặc giả về nhà làm vợ, lên kế hoạch cho nhóm cướp để đổi nhà ông Tham, chiếm đoạt hết gia sản của ông này và làm ra vụ chết người.
Sau đó có mâu thuẫn khi ăn chia tài sản, Khầy (hoặc hung thủ) đã giết 2 người còn lại chiếm toàn bộ tiền vàng, phóng hoả đốt con chim phi tang, dựng hiện trường giả.
Hung thủ thuê thằng Hến ra hòn Mê, để phát hiện xác ông Tham nhằm chối tội.

Toàn bộ vụ này, nếu xem xét tổng thể nghi phạm lớn nhất vẫn là khầy Hiếu và vợ thầy, nếu tác giả thích plotwist thì có thể là người khác (Cuội). Nhưng em nghĩ diễn biến thì nó như trên :mad:
Hướng này hay đấy bác ơi, cơ mà thớt có khi bị dính kịch độc rồi, lặn mãi chưa thấy đâu đây :sweat:
 
Khầy Hiếu 5 năm trên kinh thành không phải đi học và là đi làm cướp rồi. Tiền tự nhiên có rồi phát cho nhân dân thì chỉ có thể cướp mà ra.Rất có thể thầy là tướng cướp, đứng đằng sau dàn dựng tất cả, kể cả ông Tham cũng là 1 thành viên trong băng cướp kia. Mục đích cuối cùng có thể là giết toàn bộ thành viên của băng cướp Thanh Long để độc chiếm tài sản. Con Thắm chết oan là do vô tình phát hiện 1 bí mật động trời nào đó. Còn thằng ăn mày giết viên quan Tri phủ trả thù cho gia đình độc lập hoàn toàn với khầy.
 

Chương 12​

Ánh nắng ban mai rọi những tia sáng trong veo qua mái ngói âm dương của dinh cơ nhà thầy đồ Hiếu, xua tan lớp sương mỏng còn sót lại trên những kẽ lá. Giữa khoảng sân gạch bát tràng rộng thênh thang, hai luồng không khí trái ngược nhau đang giằng co, tạo nên một sự bức bối đến nghẹt thở.


Phía dãy nhà ngang, mọi công việc trang hoàng tang lễ đều đã được bày biện tươm tất. Cỗ áo quan nằm im lìm lạnh lẽo, nhang đèn đã được thắp lên chập chờn. Mùi hương trầm đục ngầu cuộn lên, len lỏi qua những dải cờ tang trắng toát đang ủ rũ bay trong gió chiều. Thế nhưng, ngay tại gian nhà chính đồ sộ, thầy Hiếu vẫn bình thản quây lại một góc nhỏ tĩnh lặng để tiếp tục dạy học cho đám trẻ. Từ góc nhỏ ấy, một âm thanh khác lại cất lên đều đặn, trong vắt, át cả cái thê lương của tang sự.

"Nhân chi sơ... tính bản thiện... Tính tương cận... tập tương vi..." Tiếng trẻ con ê a đọc sách thánh hiền vang lên nhịp nhàng theo từng nhịp gõ của chiếc thước tre.

Ngồi trên chiếc sập gụ khảm xà cừ giữa nhà, thầy đồ Hiếu vẫn giữ nguyên cái dáng vẻ đạo mạo thường ngày. Tà áo thâm được vuốt phẳng phiu, không dính một hạt bụi. Ánh mắt y hiền từ nhìn bao quát đám học trò nghèo, miệng từ tốn giảng giải đạo lý dưới ánh sáng ban mai rạng rỡ.

Đúng lúc ấy, Nguyễn Duy vận bộ áo nho sinh màu xanh thẫm, tay cầm chiếc quạt giấy gấp nếp, thong thả bước tới trước cửa chính. Đi sát phía sau chàng là Thầy Đề Lĩnh, khúm núm ôm khư khư cuốn sổ bìa da trước ngực.

Vừa thấy bóng quan huyện xuất hiện ngoài hiên, Hiếu hơi nhướng mày. Y đặt nhẹ chiếc thước tre xuống mặt sập, rũ hai ống tay áo định đứng dậy nghênh bái.

"Các con, tạm nghỉ một lát để thầy..."

"Thầy Hiếu, xin cứ tự nhiên."

Nguyễn Duy cất lời, bước chân dừng lại ngay dưới mép hiên. Chàng đưa chiếc quạt giấy lên gõ nhẹ vào lòng bàn tay, khóe môi điểm một nụ cười nhã nhặn nhưng đôi mắt phượng lại lạnh như mặt hồ.

"Nhà có đại tang mà lớp học chữ thánh hiền vẫn không ngơi nghỉ. Cái tâm của người làm thầy quả thực đáng trọng. Thầy cứ tiếp tục đi, bản quan đi tuần ngang qua, mạn phép đứng ngoài này nghe ké chút đạo lý để tự răn mình."

Thầy Hiếu khẽ cúi đầu tạ lễ, khóe miệng kéo lên một nụ cười khiêm nhường: "Quan lớn quá lời rồi. Sự đời vô thường, sóng gió gia môn ập đến bất ngờ khiến lòng người xáo trộn. Thảo dân chỉ biết mượn lời cổ nhân để giúp tâm trí mấy đứa trẻ này, và cả chính mình, giữ được sự tĩnh tại. Xin mạn phép quan lớn, thảo dân xin giảng nốt đoạn này."

Nói rồi, y thong thả ngồi xuống. Bàn tay thư sinh trắng trẻo lại nhấc chiếc thước tre lên.

Cạch... cạch...

Nguyễn Duy khoanh tay sau lưng, đứng lặng im giữa sân nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay ấy. Nhịp thước tre gióng xuống mặt sập đều đặn, chuẩn xác, không hề trật đi dù chỉ một nhịp. Chàng nheo mắt, một tia hoài nghi xẹt qua tâm trí. Rõ ràng mới vài ngày trước, chính đám học trò nói rằng thầy Hiếu đã cho nghỉ học vài ngày để dốc lòng lo liệu đại tang cho anh trai. Vậy mà hôm nay, giữa lúc áo quan trống còn nằm lạnh lẽo góc nhà, tang sự bề bộn, lại đột ngột gọi đám trẻ đến mở lớp trở lại?

Chàng nhìn sâu vào con người đang ngồi trên sập kia. Một kẻ mà anh trai vừa chết rữa ngoài đảo hoang, chị dâu sắp bị đưa ra pháp trường chém đầu, bản thân lại sắp ôm trọn khối gia sản bạc vạn... Vậy mà cơ mặt vẫn bình thản, tay gõ nhịp không một chút run rẩy, lại còn đủ tâm trí để nhẩn nha giảng đạo lý. Sự hoàn hảo không một tì vết ấy, lớp vỏ bọc đạo mạo được dựng lên một cách cố ý này, đối với một con người bằng xương bằng thịt, lại chính là sự bất thường đáng sợ nhất.

Cảm thấy không khí quá bức bối, Nguyễn Duy thong thả quay gót, rảo những bước chậm rãi quanh khoảng sân rộng. Thầy Đề Lĩnh lật đật bám theo sau.

Gần chiếc giếng đá rêu phong, một bầy chim sẻ đang ríu rít mổ những hạt thóc rơi vãi. Nghe tiếng bước chân của Nguyễn Duy tiến lại, bầy chim giật mình, đồng loạt vỗ cánh phành phạch bay vút lên cao.

Ánh mắt Nguyễn Duy nương theo đường bay hoảng loạn của bầy chim sẻ, lướt qua những hàng ngói âm dương, rồi dừng lại ở những cây cột trụ khổng lồ bằng gỗ lim sừng sững đỡ lấy phần lầu gác nhô ra phía trước.

Chàng khẽ đứng khựng lại. Đôi mày rậm chau vào nhau.

"Thầy Đề." Nguyễn Duy thấp giọng gọi, mắt vẫn không rời khỏi hai cây cột trụ lớn nhất nằm ngay dưới khung cửa sổ phòng ngủ trên tầng hai. "Thầy nhìn lên chỗ kia xem. Gần sát với thanh xà ngang, thầy thấy gì không?"

Thầy Đề Lĩnh lụm cụm bước tới sát cạnh Duy, nheo đôi mắt già nua kèm nhèm cố ngước lên nhìn theo hướng chiếc quạt giấy đang chỉ.

"Dạ bẩm quan... lão già mắt kém, nhìn mãi chỉ thấy lớp sơn son thếp vàng ở hai cây cột đó dường như bị tróc ra từng mảng... Chắc là do mưa nắng lâu ngày làm phai màu thôi ạ."

"Theo ta thấy, không phải phai màu." Nguyễn Duy lắc đầu, giọng nói đanh lại. "Gỗ lim là loại gỗ cứng như sắt đá, mưa nắng bình thường không thể làm bong tróc một cách có tính toán như vậy được. Thầy nhìn cho kỹ đi, thớ gỗ ở hai điểm đối xứng đó không chỉ mất đi lớp sơn, mà nó còn bị mòn vẹt hẳn vào trong. Bề mặt vết lõm nhẵn thín và bóng loáng lên."

Thầy Đề nín thở, cố rướn cổ lên nhìn lại. Lần này ông lão cũng lờ mờ nhận ra sự bất thường. "Dạ... quả đúng như quan nói. Nhưng mà... vết lõm bóng loáng như vậy thì là do cái gì cọ vào thưa quan?."

"Trông như là vết dây thừng siết." Nguyễn Duy quả quyết.

Chàng chắp tay sau lưng, bước lùi lại vài bước để lấy một góc nhìn bao quát hơn. Chàng ngước mắt nhìn lên khung cửa sổ khép hờ trên tầng hai, rồi từ từ quay đầu, kẻ một đường ngắm thẳng tắp từ khung cửa sổ đó, lao qua khoảng không giữa hai cây cột lim bị mòn.

Đường ngắm ấy đâm thẳng về phía bức tường ngăn cách, và điểm cuối cùng của nó... nằm ngay chính giữa tán lá rậm rạp của cây khế già bên căn nhà gạch nhỏ lụp xụp.

Sống lưng Thầy Đề Lĩnh bỗng dưng lạnh toát khi ông lão lờ mờ nhận ra ý đồ trong cái nhìn của quan huyện. "Bẩm quan... ngài... ngài đang nghĩ đến điều gì vậy?"

Khóe môi Nguyễn Duy khẽ nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý: "Thầy Đề ạ... Một khung cửa sổ mở hé nằm trên cao. Hai cây cột lim trụ vững chãi bị mài mòn bởi một loại dây tời chịu lực. Và nếu kéo một đường thẳng tắp từ đây..."

Nguyễn Duy quay sang nhìn vị thư lại già, ánh mắt mang theo sự hoài nghi sâu thẳm: "...Nó hướng thẳng tâm về phía ngọn cây khế bên kia bức tường. Ta có dự cảm rằng, hai vết hằn này... có mối liên hệ mật thiết nào đó với cây khế định mệnh kia chăng?"

Đúng lúc đó, từ phía hiên nhà vọng ra tiếng kéo ghế xuống nền gạch. Lớp học đã tan. Những đứa trẻ ríu rít xách những chiếc túi vải lục tục chạy ra cổng.

Thầy đồ Hiếu vuốt lại vạt áo, thong thả bước xuống bậc thềm gạch, hướng về phía Nguyễn Duy và Thầy Đề đang đứng dưới gốc cột lim. Trên trán y, vành khăn tang trắng toát quấn ngang đầu nổi bật dưới ánh nắng đứng bóng của buổi gần trưa.

"Quan lớn đang ngắm nghía cơ ngơi tệ xá sao?" Hiếu chắp tay, giọng ôn tồn cất lên, kéo ánh nhìn của Nguyễn Duy dời khỏi khung cửa sổ trên lầu hai.

Duy khẽ gật đầu, đưa đầu quạt giấy chỉ lên hai vết lõm nhẵn thín trên thân gỗ lim, giọng bâng quơ như người vãn cảnh: "Nhà xây kiên cố thật, nhưng bản quan thắc mắc, cớ sao hai cây cột cái sừng sững thế kia lại có vết hằn sâu đến vậy? Trông như thể có ai đó dùng loại dây thừng cực lớn siết qua tời lại nhiều lần."

Hiếu ngước mắt nhìn lên rồi đáp lời: "Dạ bẩm, thảo dân cũng không rõ lắm. Cơ ngơi này trước đây là do anh chị Tham tự tay xây dựng. Anh Tham làm nghề buôn lụa, thường có những chuyến hàng lớn bốc dỡ về đêm. Có thể ngày trước, anh chị ấy đã sai gia nhân làm cọc cột dây, chế trục tời để kéo vải vóc, hàng hóa to nặng lên lầu gác chăng? Thảo dân từ lúc chuyển sang đây, chỉ cắm cúi trang sách nên cũng không để tâm mấy việc vặt vãnh này."

Nguyễn Duy mỉm cười gật gù, không hỏi gì thêm. Chàng chắp tay, ánh mắt lảng đi nơi khác, lướt ra phía khoảng sân sau đang chói chang nắng gắt.

Ở đó, bên cạnh giếng nước, Nàng Sen đang cùng hai người làm xắn tay áo phơi đồ. Nàng mặc bộ áo nâu giản dị, dáng người mảnh khảnh, liêu xiêu dưới cái nắng hầm hập. Nguyễn Duy nheo mắt lại. Nàng đang cố sức cùng một người hầu nữa vắt chiếc chăn bông lớn vừa giặt xong, sũng nước nặng trịch.

Nguyễn Duy có thể thấy rõ qua lớp vải áo xắn cao, đôi cánh tay gầy guộc của nàng run lên bần bật. Gương mặt nàng tái nhợt đi vì gắng sức, hơi thở đứt quãng khó nhọc giữa cái đứng bóng trưa hè. Mới vắt được vài cái, nàng đã lảo đảo muốn ngã, khiến người hầu bên cạnh phải vội vàng đỡ lấy.

"Thầy Hiếu này," Nguyễn Duy cất lời, giọng mang chút xót xa khi nhìn cảnh tượng ấy. "Thầy nay đã ở nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ không thiếu, sao vợ thầy lại phải đích thân đụng tay vào ba cái việc nặng nhọc quá sức thế kia?"

Hiếu nhìn theo ánh mắt quan huyện, ánh mắt y thoáng hiện lên sự trìu mến. Y thở dài một hơi: "Dạ, quan lớn thấu hiểu cho. Vợ thảo dân vốn xuất thân bần hàn, quen tay chân làm lụng sương gió rồi. Giờ ép nàng ngồi không trong nhung lụa để hưởng lộc, nàng lại đâm ra phiền muộn, sinh tâm bệnh ốm o. Thảo dân khuyên mãi không được, đành chiều ý để nàng làm dăm ba việc chân tay cho khuây khỏa."

Cả ba người thong thả bước tiếp, tiến ra sát bức tường gạch thấp ngăn cách giữa hai khu nhà. Vài cành khế già sum suê chĩa lòa xòa qua bức tường, che bóng mát cho một góc sân. Những chùm khế chín vàng đung đưa, tỏa ra một mùi hương ngai ngái dưới nắng trưa.

Nguyễn Duy ngước nhìn cành khế, rồi đánh mắt sang căn nhà gạch lụp xụp bị niêm phong bằng những dải giấy chéo ngoe của nha môn, giọng trầm xuống đầy cảm thán: "Cây khế này... đúng là oan nghiệt của gia đình nhà thầy."

Hiếu ngừng bước. Y xoay người lại, cẩn trọng hỏi: "Dạ, hôm nay quan lớn đích thân ghé thăm, chẳng hay... là vì chuyện của chị Mận?"

Nguyễn Duy dừng lại, quay mặt đối diện với người thầy đồ. Chàng gõ mạnh chiếc quạt giấy vào lòng bàn tay một tiếng chát khô khốc, chậm rãi nhả từng chữ, dồn cái uy của bề trên vào khoảng không gian chật hẹp:

"Đúng vậy. Công văn từ Bộ Hình ở kinh thành đã được khoái mã đưa về lúc tờ mờ sáng nay. Bản án đã được phê chuẩn y án của Quan Tri Phủ. Trưa ngày mai, giờ Ngọ ba khắc... thị Mận sẽ bị đưa ra đoạn đầu đài xử chém vì tội mưu sát chồng và người hầu để chiếm đoạt tài sản."

Nguyễn Duy nói thêm: "Và theo luật lệ của triều đình, khi ông Tham và thị Mận đều không còn, cũng không có con cái nối dõi. Thầy Hiếu... với tư cách là người ruột thịt duy nhất, nghiễm nhiên sẽ chính thức tiếp quản toàn bộ dinh cơ, đất đai, và cả xưởng tơ lụa khổng lồ của gia tộc."

Thầy Hiếu ngước nhìn lên vòm trời chói chang, giọng y nghe trầm mặc, nhuốm màu sầu bi của một kẻ sĩ vốn dĩ đứng ngoài vòng danh lợi: "Thảo dân nhiều năm đèn sách, vốn chỉ muốn làm kẻ sĩ thanh bần, thi thố mộng làm quan độ dân, nào có màng đến vinh hoa phú quý. Ấy vậy mà sóng gió lại cuốn bạt tất cả. Nay gia sản, cơ nghiệp của thầy u để lại không có người nhang khói, thảo dân dù tài hèn sức mọn cũng đành cắn răng mà đứng ra gánh vác, không thể để cơ nghiệp tổ tông rơi vào tay người ngoài."

"Bản quan thấy xưởng vải mấy hôm nay đã mở cửa mướn thợ lại rồi thì phải?" Nguyễn Duy nhướng mày hỏi.

"Dạ vâng," Hiếu đáp điềm nhiên. "Thảo dân vốn không rành đường buôn bán, nên đã xuất tiền thuê người giỏi giang về trông coi xưởng. Thảo dân chỉ lùi về phía sau coi sóc sổ sách, cốt là để giữ lại chén cơm manh áo cho đám thợ thuyền đã theo xưởng bao năm qua thôi ạ."

Đúng lúc bầu không khí giữa hai người đàn ông đang dần trở nên căng thẳng, thì một đám trẻ con, học trò của Hiếu, từ ngoài cổng ùa vào. Chúng đang đùa giỡn rượt đuổi nhau trước khi về nhà. Thằng Tí, đứa nhỏ gầy gò nhất đám, lon ton chạy tới. Nó ngước đôi mắt tròn xoe nhìn những chùm khế chín mọng đang chĩa qua sân, bẽn lẽn khoanh tay lại: "Dạ con thưa quan lớn, thưa thầy Đề, dạ thầy ơi... khế chín vàng ngon quá. Thầy cho con qua nhà bên kia hái một quả ăn nhé?"

Thầy Hiếu chưa kịp mở miệng, Nguyễn Duy đã bước tới. Chàng xòe chiếc quạt giấy ra che nửa miệng, cúi người xuống ngang tầm mắt thằng bé, mỉm cười hiền lành nhưng cố tình dọa dẫm: "Không được đâu con. Căn nhà bên đó đang bị quan quân niêm phong rồi. Với lại, bên đó có ma đấy, con mà leo rào qua đó là bị dạ quỷ bắt đi luôn, không được về với u đâu."

Thằng Tí nghe thấy chữ "ma" thì rụt cổ lại, mặt buồn thiu lùi về phía đám bạn. Thấy nó sợ hãi, thằng nhóc to đầu nhất đám liền chỉ tay vào mặt Tí, cười hô hố chọc ghẹo: "Lêu lêu thằng Tí tham ăn! Mày còn đòi hái khế cơ à? Mày coi chừng chim thần nó bay qua cắp mày đi như ông Tham nhà thầy đấy!"

Cả Nguyễn Duy, Thầy Đề và thầy Hiếu đều khựng lại.

"Đúng rồi đấy!" Một đứa khác hùa theo, tay chân khua khoắng đầy phấn khích. "Sáng nay u tao đi chợ bến cá, người ta đồn ầm lên kia kìa! Tối qua lúc dông bão, có người đi biển thấy một con chim thần đen ngòm, to bằng cả cái đình, bay ngoài bãi đá Vọng Nguyệt đó!"

Đồng tử của Nguyễn Duy khẽ mở to. Chàng vội thu quạt lại, quay ngoắt sang nhìn Hiếu.

Và lần đầu tiên kể từ lúc bước vào dinh cơ, Nguyễn Duy bắt được một khoảnh khắc xao động của người thầy đồ. Bàn tay đang giấu trong ống tay áo của Hiếu khẽ siết chặt lạ.

Nguyễn Duy vẫy đám nhỏ lại, giọng dồn dập hơn: "Các con nghe ai đồn? Chim to bằng cái đình bay ở Vọng Nguyệt sao?"

"Dạ, cả chợ bến cá ai cũng đồn râm ran sáng nay ạ! Người ta bảo chim thần về tìm chỗ đậu đó quan lớn!" Đám nhỏ đồng thanh kể lại.

Để đám nhỏ chạy đi, Nguyễn Duy từ từ quay người lại đối diện với Hiếu. Gió chiều thổi tung tà áo lụa xanh. Khóe môi vị quan trẻ nhếch lên, nở một nụ cười nhạt, ánh mắt sắc lẹm.

"Thầy Hiếu nghe thấy rồi chứ?" Nguyễn Duy bước tới một bước, rút ngắn khoảng cách, giọng nói thì thầm. "Tin đồn ngoài chợ thường có cái lý của nó. Liệu có phải 'chim thần' đang quay lại chăng? Thầy nhìn xem, cây khế nhà thầy lúc này cũng đang độ trĩu quả nhất..."

Nguyễn Duy cố tình lướt mắt qua khối dinh cơ đồ sộ mà Hiếu vừa được thừa hưởng, rồi nói: "...Xem ra, nhà thầy sắp có thêm vàng nữa rồi."

Thầy đồ Hiếu đứng lặng người. Lúc này, y không nhìn Nguyễn Duy nữa. Y từ từ ngước mặt lên, đôi mắt ghim chặt vào những chùm khế vàng rực đang đung đưa dưới ánh nắng quái dị của buổi chiều tà. Nét mặt y phẳng lặng như một tờ giấy trắng: "Lộc trời cho... hoặc cũng có thể là họa, thưa quan lớn."

Hiếu thu ánh nhìn lại, chắp tay cúi người, một nụ cười lạnh lẽo nở trên môi: "Trời đã gần đứng bóng, đứng ngoài này nắng nôi e tổn hại sức khỏe. Xin mời quan lớn và Thầy Đề dời gót vào trong thư phòng, thảo dân có ấm trà mạn vừa hãm, mong quan lớn đừng chê."



Nguyễn Duy gật đầu, rồi tiếp tục bước theo Hiếu vào thư phòng bên trong. Vừa bước chân qua bậu cửa, chàng đã cảm nhận được một sự quen thuộc rõ rệt, bởi lẽ chỉ mới vài ngày trước đây thôi, chàng đã từng có dịp vào căn phòng này để tìm hiểu sự tình.

Mùi trầm hương thoang thoảng quyện với mùi giấy mực tạo nên một không khí thanh tao, nhưng lại khiến người ta cảm thấy ngột ngạt bởi sự sang trọng quá mức cần thiết. Những cây cột gỗ lim bóng loáng, những bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng treo trang trọng trên tường, tất cả đều toát lên sự giàu có của chủ nhân cũ.

Nguyễn Duy ngồi trên chiếc ghế trắc, tay nâng chén trà nóng, ánh mắt lướt qua bộ ấm chén sứ Giang Tây đắt tiền.

"Xem ra thư phòng của thầy vẫn chẳng có gì thay đổi mấy so với lần trước ta ghé qua." Nguyễn Duy chậm rãi đặt chén trà xuống, nhấp một ngụm rồi im lặng quan sát, ánh mắt như muốn nhìn thấu từng ngóc ngách của căn phòng.

Vừa lúc đó, tấm mành thưa khẽ lay động, Nàng Sen khẽ bước tới gần án thư để thu dọn những xấp giấy còn dang dở. Nàng vẫn giữ vẻ ngoài khép nép, đôi mắt luôn rủ xuống không dám nhìn thẳng, bước đi nhẹ tênh không phát ra một tiếng động, tựa như một cái bóng mờ ảo lướt đi trong gian phòng âm u.

Nguyễn Duy dán mắt vào từng cử động của nàng. Khi nàng vừa cúi xuống định nhặt lấy chiếc nghiên mực, chàng vờ như đang lướt tay tìm chỗ đặt quạt, rồi bất thình lình huých nhẹ vào chiếc chặn giấy bằng đồng khối nặng trịch đang nằm chênh vênh trên mép bàn.

Khối đồng mất đà, lao thẳng xuống đất.

Xoảng!

Khối đồng đập xuống nền gạch bát tràng, phát ra một âm thanh khô khốc. Đúng như dáng vẻ của một người phụ nữ yếu đuối, Nàng Sen giật bắn mình, khẽ kêu lên một tiếng rồi hốt hoảng lùi lại phía sau. Đợi cho khối đồng nằm im lìm trên nền gạch, nàng mới run rẩy quỳ xuống, dùng cả hai tay khệ nệ ôm lấy vật nặng để đặt lại chỗ cũ.

Nguyễn Duy cũng nhanh chóng cúi xuống, chìa tay ra vờ như muốn giúp đỡ. Bất chợt, bàn tay chàng chạm mạnh vào tay nàng, rồi nắm lấy mu bàn tay gầy guộc ấy. Chàng không buông ra ngay mà giữ chặt lấy, đôi mắt phượng nheo lại, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay đang run rẩy của Nàng Sen dưới ánh nắng chiều rọi xiên qua khung cửa sổ. Duy im lặng hồi lâu, ánh nhìn xoáy sâu vào từng đốt ngón tay nàng như muốn tìm kiếm một điều gì đó giấu kín phía sau lớp da thịt xanh xao ấy.

Hiếu lập tức bước tới, một tay cầm chén trà, tay kia dứt khoát gạt nhẹ như thể đang muốn đỡ lấy vật nặng thay vợ.

Nàng Sen vội vàng rụt tay lại, giấu chặt vào trong ống tay áo rộng rồi lùi nhanh ra sau bức mành mờ ảo. Nguyễn Duy nhìn theo bóng nàng biến mất, ánh mắt đăm chiêu, trong lòng thầm ghi lại chi tiết về sự xao động lạ lùng ấy.

"Vợ thầy kín kẽ quá." Nguyễn Duy nhấp thêm một ngụm trà, mắt vẫn hướng về phía bức mành. "Ta thấy khí chất nàng có phần trầm mặc, chẳng hay lai lịch vợ thầy ở đâu? Thầy và nàng nên duyên chắc cũng đã lâu?"

Hiếu điềm nhiên rót thêm nước vào ấm, cử chỉ vô cùng khoan thai: "Dạ bẩm quan lớn, cũng là cái duyên nợ ở đời. Hai năm trước, thảo dân trên đường từ kinh thành trở về, tình cờ thấy nàng đang lả đi vì đói rách bên vệ đường, không người thân thích, lại còn bị câm, chẳng còn nhớ nổi gốc gác quê quán nơi đâu. Thấy cảnh đời bần hàn tội nghiệp, thảo dân động lòng trắc ẩn nên đưa về cưu mang, rồi nên nghĩa vợ chồng."

Nguyễn Duy khẽ gật đầu, vẻ mặt không chút biểu cảm: "Ra là vậy. Một người không rõ tung tích mà thầy vẫn bao dung nhận làm vợ, quả là một tấm lòng quảng đại."

Chàng nhìn ra rặng trúc lao xao ngoài hiên, giọng bỗng trở nên trầm lắng: "Thú thực với thầy, hôm nay có dịp ghé thăm, ta bỗng thấy lòng mình thư thái lạ thường. Mấy hôm nay, sóng gió nổi lên liên miên, hẳn thầy cũng đã nghe phong phanh. Hết chuyện của gia đình thầy, lại đến cái chết kinh động của quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn vừa bị sát hại...."

Hiếu chắp tay đáp lễ, gương mặt không chút xao động, giọng nói vẫn điềm tĩnh: "Bẩm quan lớn, thế sự bên ngoài dẫu có xoay vần, máu đổ đầu rơi cũng là do lòng người quá tham sân si mà ra. Thảo dân tài hèn đức mọn, vốn chỉ mong mượn chén trà, trang sách để giữ lấy chút thanh tịnh cho tâm hồn, đâu dám màng đến chuyện thiên hạ. Kẻ cầu danh lợi ắt có ngày gặp họa, đó là lẽ thường ở đời."

Nguyễn Duy mỉm cười nhạt, rồi vờ như đang dạo bước ngắm nghía. Chàng vừa đi vừa trầm trồ trước những kệ sách đồ sộ xếp kín tường.

"Năm xưa khi bản quan đỗ đạt Thám hoa, số sách đọc qua phỏng chừng chưa bằng một nửa thư phòng này của thầy. Thầy Hiếu đèn sách nhiều năm ròng rã trên kinh kỳ, uyên bác nhường này mà lại không đỗ đạt công danh, thật là đáng tiếc."

Vừa nói, chàng vừa dừng lại trước án thư của Hiếu, tiện tay lật giở một cuốn sách mỏng nằm lăn lóc giữa đống Tứ Thư Ngũ Kinh. Bìa sách đề chữ: "Chu Dịch Tập Chú".

"Kinh Dịch vốn là đỉnh cao của thánh nhân, chẳng hay thầy đang nghiên cứu đến quẻ nào?"

Vừa hỏi, Nguyễn Duy vừa lật nhanh vài trang sách. Ánh mắt chàng khựng lại. Xen lẫn giữa những đồ hình bát quái và những dòng chú giải uyên thâm, là những nét than chì nhạt màu phác thảo những hình vẽ lạ lùng. Đó là những đường cong của nan tre, những phép tính toán về sức nâng của gió ứng với quẻ Tốn, và cả những ký hiệu về lực kéo.

Bị quan huyện nhìn thấu trang sách, Hiếu vẫn thong thả rót trà, giọng nói trầm ổn như không có chuyện gì xảy ra: "Quan lớn tinh tường quá. Thảo dân dạo này đang chiêm nghiệm quẻ Tốn. Tốn chính là Phong, là Gió. Thảo dân tò mò về cái sức mạnh vô hình của luồng khí trong trời đất có thể nâng bổng vạn vật, nên mạn phép mượn thuật làm diều của đám trẻ nhỏ để vẽ nháp vài đồ hình, mong từ cái hữu hình mà ngộ ra cái vô hình của đạo lý thôi ạ."

Nguyễn Duy gập cuốn sách lại, âm thanh khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch. Chàng không quay lại ghế ngồi ngay mà đứng lặng bên án thư, tay vuốt ve bìa sách đã sờn, ánh mắt đột ngột xoáy thẳng vào Hiếu: "Nói về quẻ Tốn và sức nâng của khí trời... ta chợt nhớ tới lời đám trẻ ngoài sân lúc nãy. Chuyện 'con chim đen to bằng cái đình' hiện ra ngoài bãi đá Vọng Nguyệt khiến lòng ta không khỏi suy nghĩ. Thầy vốn là người am tường đạo lý, lại từng xác nhận chuyện duyên nợ kỳ lạ với linh điểu, thầy nghĩ sao về điều này? Liệu rằng nó có phải là con chim thần đã chở thầy và anh trai đi tìm vàng, nay lại hiện thân về chăng?"

Hiếu thong thả nâng chén trà mạn, làn khói mỏng bốc lên che mờ ánh mắt y trong một thoáng. Y mỉm cười, giọng nói vẫn bình ổn như không: "Dân gian vốn dĩ đa sự, thưa quan lớn. Chuyện chim thần chở anh em thảo dân đi tìm vàng năm ấy... quả thực là phép màu mà trời xanh ban tặng cho phúc đức của tổ tông để lại, thảo dân chưa bao giờ dám xem nhẹ. Thế nhưng chim thần vốn linh thiêng, thoắt ẩn thoắt hiện. Chuyện 'chim thần' đen ngòm bay giữa cơn dông đêm qua... thảo dân trộm nghĩ e chỉ là những đám mây đen vần vũ được kẻ yếu bóng vía nhìn nhầm mà thêu dệt nên thôi?"

Nguyễn Duy nhìn thẳng vào mắt Hiếu, nụ cười trên môi chàng vẫn nhã nhặn, nhưng trong ánh mắt lúc này đã mang theo một luồng hàn khí sắc lạnh. Chàng khẽ gật đầu, giọng nói trầm xuống đầy vẻ trăn trở: "Phép màu ư? Thầy tin vào phép màu thì cũng là lẽ thường. Nhưng chính cái sự kỳ lạ này đang khiến ta vô cùng đau đầu trong việc soạn tờ sớ báo cáo lên Bộ Hình. Chẳng lẽ ta lại viết vào công văn rằng cái chết của ông Tham nhà thầy là do con chim thần kia cõng đi? Chuyện hoang đường ấy, làm sao ta có thể đưa vào án văn cho được? Hơn nữa, trong bản cáo trạng mà quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn quá cố để lại, cũng đã ghi rành rành rằng chính thị Mận là kẻ hạ thủ giết chồng. Một bên là huyền thoại khó tin, một bên là bút tích của quan trên đã phê... thầy bảo bản quan phải tin vào đâu cho phải?"

Thấy quan huyện đặt mình vào thế khó xử giữa pháp lý và huyền thoại, Hiếu không vội giải thích về con chim, y chỉ khẽ thở dài. Y chắp tay, giọng nói đầy vẻ khẩn thiết nhưng vô cùng kín kẽ: "Bẩm quan lớn, chân tướng ở đời vốn như bóng trăng dưới nước, nhìn thì rõ mà chạm vào lại tan. Quan lớn đã dạy, bút tích của bậc tiền nhiệm vốn là ý trời, là phép nước đã định. Nay án tử của chị Mận đã được định, thảo dân chỉ mong sóng gió gia đạo này mau chóng khép lại để linh hồn người khuất được về với đất mẹ. Liệu sau giờ Ngọ ngày mai, khi chị ấy đã đền tội, thảo dân có thể xin nha môn cho mang di cốt anh Tham và chị Mận về để tang, đặng tròn đạo đệ huynh được không?"

Nguyễn Duy không đáp ngay. Chàng chậm rãi nhấp một ngụm trà đã nguội, ánh mắt nhìn xoáy vào làn khói trầm đang cuộn lên từ chiếc lư đồng. Một lúc sau, chàng khẽ lắc đầu, thở dài một tiếng đầy hàm ý: "Chuyện này... e là không đơn giản như thầy nghĩ. Tuy thị Mận bị kết tội giết hai mạng người, và cái chết của con Thắm thì cách thức xuống tay đã có phần rõ tỏ. Thế nhưng, về phần ông Tham, bản án vẫn còn treo đó nhiều điểm dị thường. Bản quan ghé qua đây hôm nay, thực chất cũng là muốn thỉnh giáo thầy. Giữa hai vợ chồng họ, ngày thường có điều gì khuất tất, hay có uẩn khúc gì ẩn giấu mà thầy, với tư cách người sát vách, từng nghe thấy chăng?"

Không gian thư phòng bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng đến rợn người. Bên ngoài, tiếng ve bắt đầu ran lên báo hiệu sự oi nồng của buổi trưa đứng bóng. Nàng Sen đứng sau bức mành thưa dường như cũng ngừng bặt nhịp thở, bóng nàng bất động như một bức tượng tạc giữa căn phòng âm u.

Hiếu hơi chau mày, đôi mắt y nheo lại như đang cố lục tìm trong ký ức, rồi y đáp lời bằng giọng đều đều, thận trọng: "Dạ bẩm quan lớn, chuyện gia đạo anh chị, thảo dân vốn là kẻ ngoại cuộc nên ít khi dòm ngó. Chỉ thi thoảng, thảo dân có nghe thấy tiếng bát đĩa xô lệch, lời qua tiếng lại giữa hai người... Đa phần cũng chỉ là chuyện tiền nong buôn bán, anh Tham vốn tính tình nóng nảy, còn chị Mận lại là người đàn bà hay chấp nhặt. Thảo dân cứ ngỡ đó là lẽ thường, nào ngờ lại dẫn đến nông nỗi này."

Thấy Hiếu đưa ra những lời lẽ lấp liếm chung chung, Nguyễn Duy bất ngờ buông chén trà xuống bàn, ném thêm một câu hỏi sắc lẹm như lưỡi đao: "Vậy còn chuyện cô hầu gái tên Thắm có mang đến tháng thứ tư thì sao? Thầy ở ngay sát vách, bầu bí đến chừng ấy thời gian, chẳng lẽ tai thầy không nghe, mắt thầy không thấy điều gì bất thường giữa ông Tham và cô ta hay sao?"

Hiếu khẽ chớp mắt, một thoáng kinh ngạc tột độ hiện lên trên gương mặt y. Y dường như sững hờ trong giây lát, rồi vội vàng lắc đầu, buông tiếng thở dài não nuột, đầy vẻ thảng thốt: "Dạ bẩm... chuyện kín đáo ấy, thảo dân phận làm em thực không dám lạm bàn. Con Thắm lại ít khi qua lại bên này, lúc nào cũng lầm lũi cúi đầu. Nếu quả thực có chuyện ô nhục ấy xảy ra, thì e là gia môn bất hạnh, đạo lý suy đồi... Thảo dân thực tình nghe quan lớn nhắc lại, trong lòng vẫn đau xót khôn nguôi."

Nguyễn Duy lặng lẽ quan sát nét mặt của Hiếu trong giây lát, chàng khẽ gật đầu như đã nghe thấu câu trả lời. Nguyễn Duy thong thả chỉnh lại vạt áo nho sinh, vừa định đứng dậy cáo từ thì Thầy đề Ký, người nãy giờ vẫn ngồi im lặng như một cái bóng bên cạnh, bỗng hắng giọng, khẽ cúi đầu nhắc nhở:

"Bẩm quan lớn, trời cũng đã đứng bóng, tính theo giờ giấc thì vị quan từ trên Hình Bộ chắc cũng sắp tới trạm xá rồi. E là chúng ta phải về ngay để chuẩn bị nghênh tiếp cho chu đáo."

Thầy đồ Hiếu đang định rót thêm trà, nghe thấy hai chữ "Hình Bộ" thì bàn tay y khẽ khựng lại giữa không trung. Một thoáng ngạc nhiên lướt nhanh qua, y ngước lên hỏi với vẻ tò mò không giấu giếm: "Hình Bộ? Chẳng hay triều đình có việc gì trọng đại mà lại đặc phái người về tận chốn hẻo lánh này, thưa quan lớn?"

Nguyễn Duy đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi không có thật trên tay áo, ánh mắt chàng lướt qua Hiếu một cách thản nhiên nhưng đầy uy lực: "Vụ án quan Tri phủ bị sát hại là việc tày trời, kinh động đến tận kinh thành. Hình Bộ không thể ngồi yên nhìn một mệnh quan triều đình bị sát hại, nên đã sai người xuống đây để đốc thúc và trực tiếp thẩm tra lại toàn bộ án tiết. Có lẽ trưa mai tại pháp trường, vị quan ấy cũng sẽ có mặt để giám sát."

Nói đoạn, Nguyễn Duy thong thả bước ra đến ngưỡng cửa, chàng nhìn ánh nắng chói chang đang đổ xuống sân gạch bát tràng, khiến không khí hầm hập như lò lửa, rồi mới quay đầu lại nói tiếp: "Vậy làm phiền thầy rồi. Trưa mai giờ Ngọ, pháp trường chắc chắn sẽ náo nhiệt lắm. Chị dâu thầy phải đền tội, dù sao cũng là người một nhà, mong thầy nén đau thương đến tiễn biệt bà ấy đoạn đường cuối."

Hiếu bước theo sau, chắp tay cúi gập người, một nụ cười hiền hậu: "Đa tạ quan lớn đã cất công đến báo tin. Thảo dân dĩ nhiên phải trọn đạo hiếu nghĩa, không thể để chị ấy cô độc lúc lâm chung."

Nguyễn Duy dừng bước ngay trước hiên, bất thình lình ngoái đầu lại, ánh mắt sắc như kim châm xoáy thẳng vào mặt Hiếu: "Anh trai chết thảm ngoài đảo hoang, chị dâu sắp lên đoạn đầu đài. Vậy mà bản quan thấy thầy có vẻ... quá đỗi bình tĩnh thì phải?"

Hiếu không chút lúng túng. Y nhìn Nguyễn Duy, buông một câu triết lý với giọng trầm mặc, chậm rãi: "Bẩm quan lớn, cổ nhân có câu: 'Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu'. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Phàm ở đời, làm việc ác ắt có ngày đền tội, đó là nhân quả luân hồi khắt khe của tạo hóa. Bi kịch gia đạo này, thảo dân tuy xót xa đến đứt từng khúc ruột, nhưng ngẫm lại cũng là do số phận đã an bài, mệnh trời khó cưỡng. Kẻ sĩ học đạo thánh hiền, chỉ biết nén bi thương mà thuận theo lẽ trời thôi ạ."

Nguyễn Duy không nói gì thêm, chàng xoay người bước xuống sân gạch đang hầm hập nắng. Tiếng bước chân của vị quan trẻ xa dần, để lại sau lưng bóng dáng thầy đồ Hiếu vẫn đứng lặng yên như một pho tượng đá dưới mái hiên, trong khi tiếng ve ngoài vườn bỗng rộ lên từng đợt thê thiết, báo hiệu cho những biến động đẫm máu sắp diễn ra giữa trưa đứng bóng ngày mai.



Bước ra khỏi vòm cổng đồ sộ của dinh cơ họ Trần, cái nắng gần trưa hắt xuống mặt đường đất rát bỏng. Thầy đề Ký lấy tay áo lau mồ hôi tứa ra trên trán, khúm núm bước lên ngang tầm quan huyện: "Bẩm quan lớn, trời đã đứng bóng, chúng ta mau quay về nha môn thôi ạ. Nhỡ vị quan từ trên Hình Bộ tới nơi mà không thấy người nghênh đón, e là mang tội khi quân..."

Nguyễn Duy dừng bước. Chàng không đáp, ánh mắt sắc lẹm lướt qua hàng rào dâm bụt, dán chặt vào căn nhà gạch lụp xụp nằm sát vách dinh cơ vừa rồi. Những dải giấy niêm phong có dấu triện đỏ của nha môn dán chéo ngoe trên cánh cửa gỗ xỉn màu, im lìm và lạnh lẽo.

"Khoan đã," Nguyễn Duy khẽ nhíu mày, đưa chiếc quạt giấy gõ nhẹ vào lòng bàn tay. "Ta có linh cảm căn nhà này vẫn còn cất giấu thứ gì đó chưa tỏ. Vào xem lại một chút rồi về cũng chưa muộn."

Thầy đề Ký há hốc miệng định can ngăn, nhưng thấy dáng vẻ kiên quyết của vị quan trẻ đành lật đật vác sổ sách chạy theo sau. Lính nha dịch vội vã bóc lớp giấy niêm phong, đẩy mạnh cánh cửa gỗ. Tiếng bản lề rỉ sét rít lên ken kết.

Không gian bên trong gian bếp vô cùng oi bức, nặc mùi ẩm mốc hòa quyện cùng thứ mùi ngai ngái của khói bếp ám trên vách đất lâu ngày. Mạng nhện giăng mắc khắp các góc xà nhà, tro tàn từ bếp trấu vẫn còn vương vãi lấm lem trên nền gạch vỡ. Nguyễn Duy vén tà áo nho sinh, không màng đến bụi bặm dính vào tay áo, tự tay lật tìm từng góc nhỏ trong gian bếp tối tăm. Chàng cẩn thận xem xét từ mép chạn bát sứt mẻ cho đến đống củi khô vứt chỏng chơ góc tường. Và rồi, khi lướt qua khoảng tối nơi xó bếp rêu phong, ánh mắt tinh tường của vị quan trẻ đột ngột dừng lại ở một chiếc hũ gạo sành cũ kỹ đã cạn trơ đáy, mạng nhện phủ quanh miệng hũ dường như có vết rách mới.

Chàng cúi xuống, dùng cả hai tay nhấc bổng chiếc hũ nặng trịch ra chỗ khác. Ngay dưới đáy hũ, trên nền đất nện tối màu, lộ ra một hốc nhỏ được khoét vô cùng cẩn thận.

"Có đồ vật, thưa quan!" Thầy Đề Ký thốt lên, rướn cổ nhìn vào.

Nguyễn Duy thò tay vào hốc đất, lấy một tờ giấy bản được gấp làm tư. Chàng bước ra chỗ sáng, từ từ giở tờ giấy ra. Đó là một bức thư, nét mực hãy còn khá rõ.

Chàng lướt nhanh qua những dòng chữ, khóe môi hơi mím lại.

Nội dung bức thư là những lời tình tự vụng trộm, sướt mướt của ông Tham gửi cho con Thắm. Trong thư, ông ta thừa nhận cái thai trong bụng Thắm chính là giọt máu của ông ta. Đặc biệt, cuối thư còn có một lời hứa hẹn chắc nịch: "Đợi ta lấy được thứ kho báu kia, bề thế vững vàng, ta sẽ lập tức đuổi mụ Mận ra khỏi cửa, đường hoàng rước em lên làm phu nhân, cho mẹ con em một danh phận..."

Thầy đề Ký đọc ké bên cạnh, hai mắt sáng rực lên, đập tay đôm đốp: "Bẩm quan lớn, bằng chứng thép đây rồi! Bức thư này chứng tỏ hai kẻ đó gian díu với nhau. Thị Mận chắc hẳn đã phát hiện ra thứ này, uất hận vì sắp bị đuổi khỏi nhà nên mới sinh ác tâm hạ độc tàn sát cả chồng lẫn ả hầu gái. Nguyên cớ hạ sát đã quá rõ ràng, án này chốt lại được rồi thưa quan!"

Trái với sự mừng rỡ của vị thư lại già, nét mặt Nguyễn Duy lại phẳng lặng như tờ. Chàng gấp bức thư lại, nhịp nhịp lên mặt bàn, ánh mắt lóe lên một tia sắc sảo:

"Thầy Đề, thầy làm việc ở nha môn bao năm, sao suy nghĩ lại đơn giản thế? Thầy nói đây là bằng chứng thép, nhưng trong mắt ta, thứ này lại khiên cưỡng và rập khuôn đến mức nực cười."

"Nực... nực cười sao ạ?" Thầy Đề ngơ ngác.

"Thứ nhất," Nguyễn Duy bước lại gần cái hốc đất, chỉ đầu quạt xuống. "Thầy nhìn cho kỹ đi. Hốc đất này tối tăm, bụi bặm tích tụ rất nhiều. Nếu bức thư này được giấu ở đây từ lâu, thì khi ta vừa nhấc nó lên, bề mặt đất ngay dưới tờ giấy phải để lại một vệt sạch sẽ, hoặc chí ít là ít bụi hơn xung quanh. Đằng này, thầy xem... lớp bụi bên dưới tờ giấy lại y nguyên, đều tăm tắp với lớp bụi bên ngoài."

Thầy Đề cúi rạp người xuống soi xét, mồ hôi lạnh toát ra: "Dạ... quả đúng như vậy."

"Điều đó chứng tỏ bức thư này mới được kẻ nào đó vội vàng xếp lại rồi nhét vào đây chưa được bao lâu." Nguyễn Duy lãnh đạm nói tiếp. "Thứ hai, hãy xét về lẽ thường. Ông Tham là chủ, Thắm là tớ. Hai kẻ sống chung dưới một mái nhà, sớm tối chạm mặt nhau. Ông Tham muốn sai bảo chuyện gì, hay muốn tình tự, chỉ việc vẫy tay gọi con Thắm vào buồng kín là xong. Cớ sao phải cất công viết một bức thư tình sướt mướt dài dòng rồi nhét dưới hũ gạo? Những kẻ làm chuyện vụng trộm mờ ám, giấu nhẹm đi còn không kịp, ai lại dại dột để lại bút tích rành rành, ghi rõ cả chuyện đuổi vợ chính thất để làm bằng chứng cho người ta bắt thóp?"

Nguyễn Duy nhếch mép, gõ nhẹ chiếc quạt vào vai vị thư lại già: "Và thứ ba, giả sử như thị Mận tình cờ phát hiện ra bức thư này và biết được mưu đồ phụ bạc của chồng, theo lẽ thường, một người đàn bà chua ngoa, hay ghen như thị sẽ làm gì?"

Thầy đề Ký giật mình, như bừng tỉnh ngộ: "Dạ... ắt hẳn thị sẽ nổi cơn tam bành, gào thét ầm ĩ, hoặc bét nhất cũng vò nát, xé vụn bức thư ra thành trăm mảnh để xả giận... chứ đời nào lại cẩn thận gấp nếp vuông vức, rồi giấu lại vào đúng cái hốc tối tăm này như chưa từng có chuyện gì xảy ra?"

"Chính xác." Nguyễn Duy gật đầu.

Sống lưng Thầy Đề Ký lạnh toát. Mọi lập luận của quan huyện sắc bén như dao cạo, chém đứt mọi sự hoan hỉ vừa nhen nhóm.

"Và còn một điểm chí mạng nữa," Nguyễn Duy gõ nhẹ quạt vào lòng bàn tay, ánh mắt đăm chiêu. "Thầy Đề có nhớ tại buổi xét xử đầu tiên trên công đường, thị Mận từng khai rành rành rằng ông Tham bị chứng vô sinh, chạy chữa bao năm không khỏi không? Một người vô sinh sao có thể làm con Thắm có mang rồi viết thư nhận con như thế này được? Lát nữa về nha môn, ta phải hỏi lại Phan huynh xem y thuật có cách nào chứng minh được việc này không."

"Vậy… ý quan lớn là... bức thư này là đồ giả? Có kẻ cố tình ngụy tạo để đổ vấy tội lỗi cho thị Mận?"

"Không chỉ đổ vấy tội lỗi, mà kẻ đó còn muốn hợp lý hóa động cơ giết người của thị Mận để triều đình nhanh chóng khép lại vụ án này, hòng che giấu một bí mật lớn hơn thế nữa." Nguyễn Duy cẩn thận gấp tờ giấy lại, đưa cho Thầy Đề. "Thầy mau niêm phong kỹ lá thư này lại làm vật chứng."

Đoạn, chàng nhíu mày nhìn quanh căn bếp tăm tối, ánh mắt đầy đăm chiêu: "Nhưng điều đáng bàn là... căn nhà này đã bị nha môn niêm phong kín cổng cao tường ngay từ hôm xảy ra án mạng. Cửa nẻo cài then chặt chẽ, bên ngoài lại có lính canh gác. Vậy rốt cuộc, kẻ nào đã có thể che mắt được quan quân, lẻn vào đây ung dung bỏ lá thư giả mạo này vào hốc?"

Nguyễn Duy im lặng một lát, trong đầu bỗng văng vẳng lại câu nói bỡn cợt của thầy lang Cuội hôm nọ: "Này quan lớn, ngài lo xa mường tượng đẩu đâu làm gì cho mệt óc. Thế ngài không nghĩ tới chuyện... kẻ cắm cái gai này vào cổ lão quan béo kia chẳng cần tìm đâu xa, mà hắn chính là người đang ở ngay trong cái nha môn này sao?"

Ánh mắt chàng lóe lên một tia sáng lạnh lẽo. Thầy Đề Ký đứng bên cạnh nhìn nét mặt quan huyện, sống lưng lại thêm một phen ớn lạnh, lắp bắp hỏi: "Dạ bẩm... vậy theo ý quan lớn, trong đám lính ngoài kia... có kẻ đã..."

Nguyễn Duy không đáp, chàng quay phắt người sải bước ra khỏi gian bếp, tiến thẳng ra khoảng sân trước. Đám lính nha dịch đang gác vòng ngoài thấy quan huyện bước ra với sát khí đằng đằng liền vội vàng đứng nghiêm trang.

"Tất cả đến đây!" Nguyễn Duy quát lớn, âm vang đanh thép dội lại từ những bức tường gạch.

Đám lính vội vã xếp thành một hàng ngang, mặt mũi hoang mang. Nguyễn Duy chắp tay sau lưng, ánh mắt như dao cau lướt qua từng gương mặt: "Bản quan hỏi các ngươi, mấy ngày nay canh giữ ở đây, việc phòng vệ được thực hiện thế nào? Có kẻ nào chểnh mảng, tắc trách, hay đã lén lút ăn hối lộ mà mở niêm phong cho người lạ đột nhập vào căn nhà này không? Kẻ nào biết mà che giấu, tội đồng lõa chém đầu không tha!"

Đám lính nghe đến chữ "chém đầu" thì đồng loạt tái xanh mặt mày, run rẩy quỳ rạp xuống đất thề thốt kêu oan. Một tên lính đánh bạo dập đầu bẩm báo: "Dạ bẩm quan lớn, oan cho chúng con quá! Buổi sáng chúng con canh gác nghiêm ngặt, tuyệt đối không để lọt một con ruồi nào qua cửa. Còn mấy hôm nay... dạ, ca trực đêm là do nhóm của đội Nguyễn Bình phụ trách. Hiện giờ nhóm trực đêm ấy đã mãn ca, đang nghỉ ngơi ở nha môn, chúng con quả thực không rõ sự tình ban đêm ra sao ạ!"

Nguyễn Duy đảo mắt nhìn quanh một lượt, biết có tra hỏi ngay lúc này cũng chẳng kẻ nào dám nhận. Chàng lạnh lùng ra lệnh cho lính tráng dán lại giấy niêm phong mới. Cửa nhà gạch một lần nữa bị niêm phong kín mít. Sau đó, Nguyễn Duy và Thầy Đề sải bước thật nhanh trên con đường làng mấp mô, hướng về phía nha môn.



"Thầy Đề này," Nguyễn Duy vừa đi vừa nói, giọng trầm xuống hòa vào tiếng ve kêu râm ran. "Tạm bỏ qua chuyện niêm phong căn bếp, lúc nãy ở thư phòng của thầy Hiếu, ta vô tình làm rơi cục chặn giấy, nhưng khi xem đôi bàn tay của phu nhân thầy Hiếu. Có một chi tiết rất đáng suy ngẫm, vết chai sần trên tay trái của nàng ta dày cộp và thô ráp hơn hẳn tay phải... nàng ta là người thuận tay trái."

Thầy Đề gật gù ghi nhớ, bước chân lúp xúp đuổi theo bóng vị quan trẻ.

"Còn nữa," Duy chắp tay sau lưng, ánh mắt đăm đăm nhìn về phía trước. "Thầy Hiếu khoác lên mình tấm áo đạo mạo, miệng lúc nào cũng xót xa tình huynh đệ, gia đạo. Ấy vậy mà từ lúc bản quan bước vào cho tới lúc cáo từ, y tuyệt nhiên không hé môi hỏi thăm một câu rằng... người chị dâu sắp bị chém đầu của y, ở trong ngục thất sống chết ra sao, ăn ngủ thế nào. Một kẻ tự nhận là trọng đạo nghĩa, sao lại vô tình đến mức ấy?"

Nghe đến đây, bước chân của Thầy đề Ký bỗng khựng lại. Sắc mặt ông lão thoắt cái tái mét dưới cái nắng trưa. Ông ta nuốt nước bọt, ấp úng tiến lên bẩm báo: "Bẩm quan lớn... chuyện này... quả thực có một uẩn khúc mà lão chưa kịp bẩm báo với ngài. Thực ra... thầy Hiếu không hề vô tình với chị dâu đâu ạ. Tối hôm qua, y đã đích thân vào tận ngục tối để thăm thị Mận rồi."

Nguyễn Duy đứng sững lại giữa đường. Chàng quay phắt người lại, đôi mắt phượng mở to đầy sửng sốt: "Cái gì? Tối qua? Giờ cấm môn, ngục thất nội bất xuất ngoại bất nhập, sao y có thể vào được? Phép nước để đâu?"

Thầy Đề run rẩy chắp tay, cúi rạp đầu sầm sập: "Dạ bẩm... tên cai ngục gác đêm qua vốn là chỗ thâm giao bạn bè từ thuở hàn vi với thầy Hiếu. Nó nể tình xưa nghĩa cũ, lại thấy thầy Hiếu đứng ngoài sương đêm khóc lóc thảm thiết, nỉ non xin được gặp mặt chị dâu... Tên cai ngục mềm lòng, bèn làm liều mở khóa cho y vào buồng giam một canh giờ. Sáng sớm nay, khi lão đến nha môn mới nghe bọn lính canh rỉ tai nhau chuyện này..."

Một luồng khí lạnh buốt dọc sống lưng Nguyễn Duy, xua tan cái oi bức của buổi trưa hè. Những mảnh ghép rời rạc bỗng chốc đập mạnh vào nhau, tạo thành một viễn cảnh kinh hoàng.

Tại sao Hiếu lại phải dùng mối quan hệ để lén lút vào thăm tử tù?

Nghĩ đến đây, Nguyễn Duy quay sang vị thư lại già, giọng đanh thép ra lệnh: "Thầy Đề, mau quay trở lại căn nhà gạch nhỏ, sai ngay một tên lính gác ở đó chạy gấp lên xưởng vải. Cứ dùng lệnh của nha môn, yêu cầu tìm cho bằng được sổ sách hay chứng từ có lưu bút tích thật của ông Tham mang về để ta đối chiếu nét chữ!"

Thầy Đề Ký vội vã vâng dạ, ôm tay nải lật đật chạy ngược lại đoạn đường đất hầm hập nắng.

Nhìn theo bóng vị thư lại già khuất dần, Nguyễn Duy siết chặt chiếc quạt giấy trong tay, tiếp tục sải những bước dài vội vã hướng về phía công đường. Hôm nay chắc chắn sẽ là một ngày bận rộn và căng thẳng tột độ của chàng. Trước mắt, vị quan lớn từ Hình Bộ sắp sửa giá lâm để trực tiếp điều tra rõ ngọn ngành cái chết của quan Tri phủ Lê Khắc Cẩn, nhưng ngay lúc này, có một chuyện cấp bách mang tính sống còn khác mà chàng buộc phải làm rõ.

Chàng phải về nha môn mau, phải gặp thị Mận ngay lập tức! Phải tra hỏi xem đêm qua, người em rể đáng kính kia đã lén lút vào ngục để nói những gì!

Dưới cái nắng chang chang đổ lửa của buổi trưa đứng bóng, chiếc bóng cô độc của vị quan trẻ đổ dài trên mặt đất, lao nhanh về phía nha môn. Với những manh mối mới vừa xâu chuỗi được, chàng có một niềm tin mãnh liệt rằng thị Mận đang bị hàm oan. Chàng không chỉ phải chạy đua với giờ hành hình vào trưa mai, mà còn đang chạy đua với cỗ xe ngựa của vị khâm sai Hình Bộ sắp sửa tiến vào phủ án. Một khi quan trên tiếp quản toàn bộ công đường, sinh mạng của một người đàn bà vô tội và chân tướng thực sự của vụ án này rất có thể sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong bóng tối...
 
Ahuhu. Đang hay lại hết thuốc.
Đến tầm này chắc chắn Hiếu là trùm cuối rồi. Chủ yếu giải thích động cơ gây án là như nào thôi
 
Ahuhu. Đang hay lại hết thuốc.
Đến tầm này chắc chắn Hiếu là trùm cuối rồi. Chủ yếu giải thích động cơ gây án là như nào thôi
99% là tài sản rồi bác, ngay cả xưởng vải cũng thuê người quản lý để tiếp tục vận hành rồi. Có cái em thắc mắc nhất là tại sao nàng Sen lại tham gia cùng thôi
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
whatever_we_are_loser,
Trả lời
235
Lượt xem
13.459
Quay lại
Lên đầu trang