Chương 13 (2)
Bước lên khỏi những bậc thang đá rêu phong, Nguyễn Duy như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng dưới cõi âm ty. Chàng vội vã dừng lại bên chậu nước đồng lớn đặt giữa sân, hai tay vục vội làn nước mát lạnh tạt mạnh lên mặt, chà xát đi những vệt mụi than và cả cái mùi tử khí tanh nồng đang bám riết lấy da thịt. Vuốt lại tà áo lụa cho phẳng phiu, chỉnh lại chiếc khăn xếp cho ngay ngắn, Duy cố giấu đi sự hoảng loạn đang cuộn trào trong lồng ngực để giữ vững thể diện của người đứng đầu nha môn.
Chàng quay ngoắt sang tên lính lệ đi theo sát phía sau, giọng dồn dập, hơi thở vẫn còn gấp gáp: "Vị quan từ Hình Bộ... ngài ấy hiện đang ở đâu?"
Tên lính vội vàng khúm núm, chắp tay bẩm báo: "Dạ bẩm quan, đoàn khâm sai vừa tới chưa lâu. Ngài ấy hiện đang đợi ở sảnh khách của huyện đường ạ."
Nguyễn Duy gật đầu, sải những bước dài tiến về phía đại sảnh. Sân huyện đường lúc này ngập trong cái nắng trưa gay gắt, chói chang đến lóa mắt. Dọc hai bên lối đi, những lá cờ lọng mang phù hiệu của Hình Bộ bay phần phật trong gió nóng. Phía trước thềm đại sảnh, một tiểu đội chừng mười binh lính hộ tống từ kinh thành đang đứng bảo vệ. Cái uy vũ, sát khí và kỷ luật tỏa ra từ những cấm vệ quân này vượt xa hoàn toàn đám lính lệ tạp nham của huyện Hoằng Hóa.
Thế nhưng, Nguyễn Duy lập tức nhận ra một điểm bất thường. Dù dáng đứng vẫn thẳng tắp như tạc tượng, tay lăm lăm trường thương, nhưng trên giáp trụ sáng loáng của vài người lại lốm đốm những vệt máu đã khô két. Thậm chí, có kẻ còn đang quấn băng vải thấm máu đỏ sẫm ở cánh tay hay trên trán. Rõ ràng, bọn họ vừa trải qua một trận kịch chiến đẫm máu trước khi đặt chân đến nha môn này. Bầu không khí chốn nha môn vốn dĩ đã bức bối nay càng trở nên ngột ngạt, uy nghiêm và đầy bí ẩn.
Nguyễn Duy hít một hơi thật sâu, vén tà áo bước qua bậu cửa gỗ lim dày cộp của đại sảnh. Chàng chắp tay trước ngực, chuẩn bị cúi rạp người hành lễ với vị khâm sai đại thần theo đúng phép tắc quan trường. Thế nhưng, ngay khi tầm mắt chàng vừa chạm đến bóng người đang ngồi trên chiếc ghế chủ tọa, mọi cử động của Nguyễn Duy bỗng chốc đông cứng lại.
Ngồi trên vị trí cao nhất không phải là một viên quan xa lạ, bệ vệ nào đó như chàng vẫn tưởng. Đó là một người đàn ông trạc ngũ tuần, dáng người gầy guộc, khắc khổ nhưng cốt cách lại cứng cỏi, vững chãi tựa như một cây tùng vạn năm vươn mình trên vách đá. Tà áo bào màu lục thêu hình chim trĩ, biểu tượng của quan văn phẩm trật cao mang những nếp gấp phẳng phiu, cẩn mật. Nổi bật nhất trên gương mặt sạm sương gió ấy là đôi mắt sáng quắc, nghiêm nghị, toát lên cái uy vũ tối cao của một người sinh ra để cầm cán cân nảy mực, đại diện cho pháp luật triều đình.
Đồng tử Nguyễn Duy mở to hết cỡ. Sự ngỡ ngàng tột độ khiến chàng quên cả việc hành lễ, khóe môi run rẩy bật ra một tiếng gọi thảng thốt: "Thị lang đại nhân... Lê thúc phụ?"
Trong tâm trí vị quan trẻ, những ký ước của nhiều năm về trước bất ngờ cuộn trào như thác lũ. Ngày đó, ở chốn kinh kỳ, Nguyễn Duy, Lê Khắc Cẩn và Phan Tiên Sinh cùng là những thư sinh chung trường chung lớp, ngày ngày dùi mài kinh sử. Người đàn ông đang ngồi trước mặt chàng đây chính là Lê Đình Chính, chú ruột của Cẩn, đương kim Thị lang của Hình Bộ.
Nguyễn Duy nhớ như in những buổi chiều thu năm ấy, Lê Đình Chính đôi lần ghé qua thư viện, chắp tay sau lưng giảng giải cho ba chàng thư sinh trẻ về đạo trị quốc, về sự nặng nhẹ của chữ "Liêm", chữ "Chính" ở đời. Đối với một Nguyễn Duy luôn mang hoài bão kinh bang tế thế, Lê Đình Chính chính là một ngọn núi cao, là hình mẫu của một vị thanh quan mẫu mực mà chàng luôn khao khát hướng tới. Thật trớ trêu thay, làm sao một người cháu như Lê Khắc Cẩn mập mạp, tham lam, hống hách và tàn nhẫn lại có thể chung dòng máu với một vị quan liêm khiết, chính trực đến mức khắc nghiệt như Lê Đình Chính?
Nghe tiếng gọi "thúc phụ", ánh mắt sắc lẹm của Lê Đình Chính khẽ dừng lại trên gương mặt hốc hác, tiều tụy của Nguyễn Duy.
Ông không đáp lại tiếng gọi thân tình ấy. Giọng nói của Lê Đình Chính cất lên trầm hùng, vang vọng khắp công đường, dùng danh xưng quan trường để rạch ròi giới hạn: "Huyện lệnh Hoằng Hóa. Chốn công đường chỉ có quân thần, không có tư tình."
Nguyễn Duy giật mình tỉnh mộng, vội vã thu lại ánh mắt, cúi rạp người hành lễ: "Hạ quan Nguyễn Duy, bái kiến Khâm sai đại nhân."
Lê Đình Chính khẽ gật đầu, ánh mắt vẫn uy nghiêm không đổi. Ông dõng dạc tuyên bố: "Hình Bộ lẫn triều đình trên dưới đều rúng động trước hung tin. Một mệnh quan triều đình như Tri phủ Lê Khắc Cẩn lại bị hạ sát tàn độc ngay giữa lòng nha môn Hoằng Hóa. Bản quan mang theo lệnh bài từ Hình Bộ, đích thân tới đây để tiếp quản và điều tra triệt để vụ ám sát tày trời này."
Nói đoạn, bàn tay gầy guộc của Lê Đình Chính nhấc lên một cuộn công văn màu vàng nhạt, bên trên ấn định một dấu triện son đỏ chót chói mắt. Ông vung tay, tung mạnh cuộn công văn xuống án thư. Tiếng trục cuốn bằng gỗ đập xuống mặt bàn phát ra một âm thanh "cạch" khô khốc, đanh gọn như tiếng chém của đao phủ.
"Đồng thời, bản án do Tri phủ Lê Khắc Cẩn đệ trình hỏa tốc lên kinh thành trước khi chết đã được Bộ Hình xem xét và phê duyệt. Tội trạng của thị Mận mưu sát chồng và hầu gái để chiếm đoạt gia sản đã rành rành trên giấy. Sẵn chuyến đi này, bản quan sẽ đích thân giám sát việc y án xử trảm thị Mận vào giờ Ngọ ngày mai, nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước!"
Hai chữ "xử trảm" như một nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Nguyễn Duy. Chàng hoảng hốt bước lên một bước, quên cả phép tắc, lớn giọng biện bạch: "Bẩm đại nhân! Vụ án của thị Mận vừa xuất hiện rất nhiều tình tiết mới vô cùng phức tạp. Bản án do Lê huynh đệ trình trước đó chứa quá nhiều lỗ hổng chí mạng. Hung thủ thực sự vẫn đang ẩn nấp trong bóng tối. Hạ quan vốn đang soạn sớ định trình hỏa tốc lên Hình Bộ để xin hoãn việc thi hành án, cúi xin đại nhân minh xét..."
"Láo xược!"
Chát!
Lê Đình Chính đập mạnh bàn tay xuống án thư, tiếng quát của ông rền vang như sấm nổ, cắt phăng lời của Nguyễn Duy. Đôi mắt vị khâm sai rực lửa, trừng trừng nhìn vị quan huyện trẻ tuổi:
"Pháp bất vị thân! Án mạng của Tri phủ tuy còn ẩn khuất, bắt buộc phải điều tra làm rõ. Thế nhưng, văn thư đã được Bộ Hình phê duyệt xử trảm thị Mận cũng là mệnh lệnh sắt đá của triều đình, há có thể coi như trò đùa trẻ ranh? Trừ khi..."
Ông rướn người về phía trước, từng lời nói đè nặng áp lực ngàn cân: "...trừ khi ngươi bày ra ngay trước mắt ta những bằng chứng thuyết phục, và lôi cổ được tên hung thủ thật sự ra ánh sáng trước giờ Ngọ ngày mai. Bằng không, án đã định, tuyệt đối không thể tùy tiện thu hồi chỉ bằng dăm ba suy luận suông của ngươi!"
Nguyễn Duy vội vã chắp tay, cúi rạp người khẩn thiết: "Dạ bẩm đại nhân, những tình tiết mới mang tính bước ngoặt này cũng chỉ vừa mới xuất hiện ngay trong sáng sớm nay. Hạ quan vì bận đối phó với những biến cố liên tiếp nên chưa kịp thảo sớ trình lên. Kính mong đại nhân bớt chút lôi đình mà xem xét lại. Nội trong hôm nay, hạ quan xin lấy chiếc mũ ô sa này ra đảm bảo, nhất định sẽ trình báo đầy đủ mọi bằng chứng xác đáng nhất lên quan trên!"
Nghe những lời quả quyết của Nguyễn Duy, Lê Đình Chính hơi nheo mắt lại. Ông vuốt nhẹ chòm râu, ánh mắt sắc bén xoáy sâu vào người học trò cũ như muốn đo lường độ chân thực trong lời thề ấy. Một khoảng lặng kéo dài bao trùm cả đại sảnh, ngột ngạt đến khó thở.
Đột nhiên, Lê Đình Chính phẩy tay, giọng nói lạnh lùng nhưng dứt khoát: "Tất cả lui ra ngoài! Đóng chặt cửa lại! Không có lệnh của bản quan, cấm kẻ nào được bước nửa bước vào công đường!"
Đám lính lệ của huyện nha cùng toán cấm vệ quân Hình Bộ đồng loạt vâng dạ, nối đuôi nhau lui gót. Vừa lúc đó, Nguyễn Duy vội lên tiếng, gọi với theo một tên lính: "Khoan đã! Ngươi mau đi mời Thầy Đề Lĩnh và Phan Tiên Sinh đến đại sảnh ngay cho ta."
Tên lính vâng lệnh chạy đi. Nguyễn Duy bèn quay sang Lê Đình Chính, chắp tay cẩn cáo: "Bẩm đại nhân, Thầy Đề Lĩnh là người am tường mọi ngóc ngách sự việc ở nha môn, còn Phan Tiên Sinh là ngỗ tác kỳ tài. Họ đều là những trợ thủ đắc lực đã vào sinh ra tử, theo sát hạ quan trong suốt quá trình điều tra những vụ án phức tạp này. Chút nữa bàn luận uẩn khúc, thiết nghĩ không thể thiếu hai người họ."
Lê Đình Chính nghe vậy thì khẽ gật đầu ưng thuận. Lúc này, hai cánh cửa gỗ lim nặng trịch mới từ từ được khép lại, che khuất cái nắng chói chang bên ngoài, trả lại cho đại sảnh một không gian u tối, tĩnh mịch.
Tiếng bản lề gỗ rít lên khô khốc rồi im bặt, cắt đứt hoàn toàn những xao động, ồn ào bên ngoài. Bầu không khí quan trường nghẹt thở, căng như dây đàn bỗng chốc chùng xuống.
Lê Đình Chính ngồi trên ghế chủ tọa, khẽ thở hắt ra một hơi dài. Ông đưa bàn tay gầy guộc xoa nhẹ lên đôi mắt vằn tia đỏ, vuốt dọc xuống hai thái dương đã điểm sương dãi nắng. Khi mở mắt ra lần nữa, cái uy vũ sắt đá của một vị Khâm sai đại thần đã nhường chỗ cho ánh nhìn xót xa, mỏi mệt của một người trưởng bối.
Sự biến chuyển đột ngột này khiến Nguyễn Duy không khỏi ngỡ ngàng. Mới một khắc trước, vị quan này còn mang theo sát khí của triều đình, sẵn sàng chém đầu kẻ nào dám trái lệnh. Giờ đây, ông lại đối diện với chàng bằng một sự chân thành đến xót xa. Sự ngột ngạt trong lồng ngực Nguyễn Duy bỗng chốc tan biến, thay vào đó là một cảm giác ấm áp xen lẫn chút chua xót nghẹn ngào.
Như hiểu được tâm tư của người học trò cũ, Lê Đình Chính khẽ vẫy tay ra hiệu cho Nguyễn Duy tiến lại gần, giọng trầm ấm vang lên giữa gian phòng vắng lặng: "Con đừng trách ta. Ngoài kia tai vách mạch rừng, lính tráng hỗn tạp, chưa rõ kẻ ngay người gian. Ta mang trên vai thân phận Khâm sai đại thần, phụng mệnh triều đình, uy nghi và kỷ cương là thứ phải đặt lên hàng đầu. Nhưng khi cánh cửa này đã đóng lại, chốn đây chỉ còn lại tình thầy trò, tình chú cháu. Ta biết con là người thấu tình đạt lý, hiểu được cái khó của ta."
Ông ngừng một chút, ánh mắt tối sầm lại, mang theo một nỗi lo âu sâu sắc: "Duy à... cái tính cậy quyền cậy thế, tham lam vô độ của thằng Cẩn, ta làm chú ruột nó, ta còn lạ gì. Nó đi đến đâu, gieo rắc oán hận đến đó. Ta đã bao lần răn đe, mắng mỏ, nhưng nó cứ ỷ thế gia tộc che chở mà bỏ ngoài tai. Cái chết của nó hôm nay... âu cũng là luật nhân quả, gieo gió gặt bão."
"Thế nhưng, cha của nó hiện đang vô cùng thịnh nộ nơi kinh thành. Nếu vụ án của thằng Cẩn không được giải thích triệt để, e rằng cơn lôi đình của gia tộc họ Lê sẽ giáng thẳng xuống đầu con. Khi ấy, nhẹ thì mất cái mũ ô sa, nặng thì... e là cái mạng của con cũng khó giữ toàn thây."
Nguyễn Duy nghe vậy, sống lưng hơi lạnh nhưng tư thế vẫn đứng thẳng tắp, không hề nao núng. Chưa kịp đáp lời, Lê Đình Chính đã nhíu mày, giọng đanh lại, mang theo một luồng sát khí:
"Sở dĩ sáng nay đoàn xe của ta đến trễ hơn dự kiến, không phải vì nề hà đường sá. Khi vừa qua eo núi hiểm trở giáp ranh huyện Hoằng Hóa, đoàn khâm sai đã bị một toán sát thủ tinh nhuệ, bịt mặt đen kín mít phục kích. Bọn chúng ra tay tàn độc, thà chết không lùi, cốt để lấy mạng ta."
Ông vỗ mạnh tay xuống tay vịn ghế: "May thay, đám vệ sĩ Hình Bộ theo ta đều là những kẻ vào sinh ra tử, đã tiêu diệt được vài tên và đẩy lui đám còn lại. Nhưng điều đáng nói là... khi lột mặt nạ và y phục những cái xác để kiểm tra, ta phát hiện trên bả vai trái của chúng đều có chung một hình xăm. Một con rồng uốn lượn. Bọn chúng chính là băng đảng Thanh Long!"
"Thanh Long?" Nguyễn Duy không giấu nổi sự ngạc nhiên, thốt lên. Chàng vội vã tiến lên một bước, ân cần hỏi: "Thúc phụ, ngài có sao không? Bọn chúng ra tay tàn độc, ngài có bị thương chỗ nào không?"
Lê Đình Chính khẽ xua tay, mỉm cười nhàn nhạt trấn an: "Không sao, ta tuy tuổi đã cao, nhưng gân cốt còn khỏe lắm, dăm ba tên đạo tặc chưa lấy được mạng ta đâu. Thế nhưng, việc băng đảng này xuất hiện tại vùng cửa biển hẻo lánh này quả thực là một điều lạ. Ta vốn đã theo dõi tung tích của chúng từ lâu, có thể vì thế mà ta trở thành mục tiêu của chúng... Hoặc giả, chính khu vực này đang có thứ gì đó thu hút bọn chúng tụ tập về đây..."
Lê Đình Chính bước chậm rãi xuống bậc thềm, đặt tay lên vai cậu học trò cũ, giọng nói trầm tĩnh nhưng uy lực vô song: "Ta nhận được tin hỏa tốc về cái chết của thằng Cẩn, nhưng những chi tiết bên trong hãy còn quá sơ sài. Một tên sát thủ to gan lớn mật dám đột nhập nha môn, hạ kịch độc, rồi tự sát? Ta không tin chuyện này chỉ đơn giản như vậy. Cháu ta có tội, luật pháp và gia quy sẽ tự tay phán xét nó. Nhưng ta tuyệt đối không để kẻ nào đứng ngoài vòng pháp luật dám dùng tư hình, mượn oán hận để giết người!"
Ánh mắt ông quắc lên: "Mang toàn bộ hồ sơ vụ án và khẩu cung của tên sát thủ đó ra đây! Ta muốn đích thân xem xét lại từng chữ một!"
Nguyễn Duy đứng lặng người trước sự thấu tình đạt lý và sự tín nhiệm tuyệt đối của vị ân sư. Chàng lùi lại một bước, tiến về phía chiếc tủ gỗ kê sát tường, lấy ra một bộ giấy tờ đã được chuẩn bị sẵn từ trước. Đó là toàn bộ bút tích khám nghiệm tử thi do Phan Tiên Sinh chắp bút, cùng bản ghi chép lại lời khai của tên sát thủ trước khi hắn tự vẫn, cung kính dâng lên bằng hai tay.
Lê Đình Chính đón lấy, cẩn thận lật giở từng trang giấy trắng mực đen. Dù trước đó đã xem qua bản cáo trạng mà nha môn gửi lên Hình Bộ, nhưng khi tận mắt đọc chi tiết những ghi chép rành rọt này, đôi mày ông không khỏi nhíu chặt. Đặc biệt, khi đọc đến đoạn tên sát thủ khai nhận thù hận từ vụ án oan ở Hà Trung hai năm trước, rồi điên cuồng cắn lưỡi tự vẫn ngay trong ngục thất, vị Khâm sai đại thần bỗng sững người.
Nhưng chưa để ông kịp cất lời, Nguyễn Duy đã chắp tay, ánh mắt kiên định mà thưa: "Thưa thúc phụ.... Cẩn huynh chết không chỉ vì loại kịch độc Đoạn Trường Thảo do tên sát thủ kia hạ vào bát nước vối."
Chàng hạ giọng, từng chữ rành rọt, lạnh buốt: "Đáng sợ hơn, huynh ấy còn bị kẻ khác âm thầm ghim một cây kim Ngưu Mao Châm tẩm kỳ độc vào tận gáy mà không hề hay biết! Tên sát thủ tự vẫn kia... chỉ là bề nổi, có thể chỉ là một con rối bị lợi dụng. Còn kẻ cắm chiếc kim oan nghiệt này... hiện chưa rõ hắn là ai!"
Đôi mắt của Lê Đình Chính mở to sững sờ. Gió trưa lùa qua khe cửa sổ, thổi tung tờ cáo trạng có dấu son đỏ trên án thư rớt lả tả xuống nền gạch bát tràng.
Lúc này, đứng ở khoảng cách gần dưới ánh sáng tự nhiên hắt qua khe cửa, ông mới nhìn kỹ lại Nguyễn Duy. Vị quan già nhận ra đôi mắt phượng của cậu học trò cưng xưa kia nay đã vằn đỏ tia máu, hai gò má hóp lại hốc hác. Tà áo lụa tuy đã được cố tình vuốt phẳng, nhưng tư thế đứng của chàng không giấu nổi sự mệt mỏi rã rời sau những đêm thức trắng đối diện với tử thần.
Cơn giận và cái uy của vị khâm sai tan biến, giọng ông chùng xuống, mang theo sự xót xa của một người cha, người chú: "Con tiều tụy quá, Duy à. Cái chết của Cẩn... chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm khổng lồ phải không? Ta vừa mới đặt chân đến đây, đã cảm nhận được luồng tà khí bức người. Đã có chuyện gì xảy ra ở cái huyện Hoằng Hóa này khiến một vị Thám Hoa kiên cường như con phải lao tâm khổ tứ đến mức độ này?"
Đúng lúc Nguyễn Duy đang định mở lời đáp lại sự quan tâm của vị ân sư, thì hai cánh cửa gỗ lim nặng trịch của công đường khẽ mở ra một khe nhỏ rồi được đẩy vào trong.
Từ ngoài khoảng sáng, Phan Tiên Sinh với bộ đồ trắng toát, nhợt nhạt quen thuộc như một bóng ma lững thững bước vào. Theo ngay sát phía sau là Thầy Đề Lĩnh, gương mặt ông lão vẫn còn tái mét, tay ôm khư khư chiếc tráp gỗ, trán đẫm mồ hôi hột sau khi vừa hoàn tất việc dọn dẹp hiện trường kinh hoàng dưới hầm ngục.
Vừa bước qua ngưỡng cửa, đôi mắt lờ đờ của Phan Tiên Sinh khẽ chớp khi nhìn thấy người đàn ông ngồi trên ghế chủ tọa. Y khẽ dừng bước, đặt chiếc hòm gỗ mun xuống, chắp hai tay lại vái chào theo một tư thế tuy có phần cứng nhắc nhưng đầy vẻ tôn trọng: "Th-Thị lang đại nhân... đ-đã nhiều năm... kh-không gặp chú."
Lê Đình Chính đứng dậy, bước tới đỡ lấy tay Phan Tiên Sinh. Khóe môi vị quan già nheo lại thành một nụ cười hiếm hoi, ấm áp: "Phan ngỗ tác. Đã bao nhiêu năm từ ngày rời Quốc Tử Giám, con vẫn giữ cái bộ dạng bất cần, lạnh lẽo này. Ta nghe danh con lừng lẫy ở Hình Bộ đã lâu, chẳng màng công danh chỉ say mê khám nghiệm, không ngờ hôm nay chú con ta lại có duyên hội ngộ ở đây."
Phan Tiên Sinh khẽ nhếch mép thay cho một nụ cười, giọng khàn đặc: "Ng-Người chết... th-thì ở đâu cũng... c-cần người n-nói thay họ... thưa chú."
Ngay sau đó, Nguyễn Duy bước lên một bước, hướng tay về phía vị lão lại già đang đứng khép nép phía sau: "Bẩm thúc phụ, còn đây là Thầy Đề Lĩnh. Ông ấy đã gắn bó với nha môn Hoằng Hóa nhiều năm, vô cùng am tường mọi ngóc ngách sự việc nơi đây và là cánh tay phải đắc lực của con trong suốt quá trình điều tra phá án."
Thầy Đề nghe gọi đến tên mình, vội vàng đặt chiếc tráp gỗ xuống nền gạch, khúm núm quỳ rạp người xuống vái lạy, giọng run run: "Tiểu nhân Đề Lĩnh, bái kiến Khâm sai đại nhân."
Lê Đình Chính gật đầu, vươn tay ra hiệu ân cần: "Đã là người có công tương trợ phá án, chốn riêng tư này không cần đa lễ."
Khi tất cả đã an tọa quanh chiếc án thư lớn, bầu không khí lại trở nên tĩnh lặng. Nguyễn Duy hít một hơi thật sâu. Chàng biết đã đến lúc phải trình bày rõ mọi ngọn ngành, vị quan trẻ liền bắt đầu trình bày lại toàn bộ chuỗi sự kiện một cách tường tận, không bỏ sót bất kỳ một tình tiết nhỏ nào.
Từ câu chuyện đổi nhà vô lý giữa anh em ông Tham và thầy đồ Hiếu vì một cây khế già; sự xuất hiện đầy ma mị của con "chim thần" khổng lồ trong đêm giông bão; cái chết oan khuất của cô hầu gái tên Thắm với cái thai bốn tháng; xác chết trương phình của ông Tham dạt vào đảo Hòn Mê cùng chiếc túi mười gang đầy vàng ròng bốc hơi xuống đáy biển. Chàng kể tiếp đến bãi thảm sát bí ẩn tại căn nhà gỗ cháy dở cheo leo trên vách đá Vọng Nguyệt, và đỉnh điểm là cuộc tự sát tập thể trong cơn điên loạn vì hít phải Huyễn Ảnh Trầm vừa xảy ra dưới ngục thất.
Lê Đình Chính ngồi nghe, đôi mắt nhắm nghiền, những ngón tay gõ nhịp chậm rãi lên mặt bàn. Khi Nguyễn Duy vừa dứt lời, ông từ từ mở mắt ra, vuốt chòm râu bạc, thở ra một luồng hơi dài.
"Chà... thật là kì lạ..." Ông lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên một tia sáng của sự tò mò xen lẫn hứng thú cao độ của một người chuyên lật lại các kỳ án. "Án lồng trong án, giả giả thật thật đan xen. Đã lâu lắm rồi ta mới thấy một thế cục hiểm hóc đến vậy. Vậy bây giờ, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét lại, lật mở từng vụ án một!"
Bầu không khí trong công đường lập tức trở nên nghiêm túc và sắc lạnh. Lê Đình Chính rút từ trong xấp án quyển ra tờ cáo trạng liên quan đến cái chết của con Thắm.
"Đầu tiên là vụ án mạng của cô hầu gái. Nếu theo trát của thằng Cẩn, đây là mụ Mận ghen tuông mà thắt cổ nạn nhân rồi giả làm án tự sát. Hai con thấy sao?"
Nguyễn Duy lập tức đáp: "Bẩm thúc phụ, hoàn toàn vô lý. Tại hiện trường, chiếc ghế đẩu bằng gỗ mun nằm lăn lóc dưới chân nạn nhân sạch bong không tì vết, trong khi đôi bàn chân trần của cô ta lại lấm lem bùn đất. Nạn nhân không hề bước lên ghế để tự vận! Hơn nữa, nút thắt thòng lọng trên xà nhà là nút thắt ngược của người thuận tay trái, nhưng thị Mận vốn thuận tay phải, lại là người chân yếu tay mềm, móng tay để dài thượt, không thể dùng dây tời kéo xác người lên cao như vậy."
Nguyễn Duy tiếp lời, khẽ ra hiệu cho Thầy Đề Lĩnh. Lão lại vội vàng lấy từ trong người ra bức thư tình giả mạo vừa tìm thấy ban trưa, hai tay nâng niu cung kính dâng lên cho Lê Đình Chính. Duy trầm giọng giải thích: "Bẩm, để hợp lý hóa cái động cơ ghen tuông đó, kẻ thủ ác còn cố tình ngụy tạo ra bức thư tình này giấu dưới hũ gạo nhằm buộc tội thị Mận vì ghen tuông mà giết chồng và hầu gái."
Lê Đình Chính nhận lấy bức thư, lướt nhanh qua rồi gật gù khen ngợi sự nhạy bén của Duy. Nhưng rồi, ông suy nghĩ một lúc, đôi mày nhíu lại đăm chiêu, chậm rãi nói: "Thật thật - giả giả... Hung thủ làm giả cái đó, bề ngoài là nhằm buộc tội thị Mận, nhưng sự vụng về của nó cũng có thể là cố ý! Rất có thể hắn 'muốn' chúng ta nhìn thấy nó là đồ giả, từ đó đinh ninh suy nghĩ rằng thị Mận bị oan và hoàn toàn không phải là thủ phạm."
Thầy Đề ngồi nghe đến đây thì nhịn không được, rụt rè chắp tay hỏi: "Ý quan lớn... là sao ạ? Tiểu nhân ngu muội, thực không hiểu..."
Lê Đình Chính kiên nhận giải thích: "Ngươi thử nghĩ xem, theo luồng suy luận tại hiện trường, thị Mận vốn dĩ đang là nghi can lớn nhất. Việc ném thêm một vật chứng giả vào lúc này dường như không có tác dụng gì nhiều để ảnh hưởng đến vụ án, trừ khi nó được dùng để... làm rối loạn quá trình điều tra của chúng ta. Hơn nữa, hiện trường vụ án đã bị nha môn niêm phong nghiêm ngặt, làm sao có kẻ nào lại tùy tiện vào mà thay đổi, giấu bức thư này được?"
Nghe đến đây, Nguyễn Duy mới vội vàng trình bày lại sự việc xảy ra đêm trước: "Bẩm thúc phụ, việc này chúng con đã tra ra. Chính cô vợ câm của thầy đồ Hiếu, người mới đổi nhà với ông Tham đã mang bát trà gừng có pha thuốc mê đến chuốc say đám lính canh, tạo kẽ hở cho kẻ gian lẻn vào trong nhà giấu thư."
Lê Đình Chính nghe xong, ánh mắt lóe lên sự kinh ngạc xen lẫn nghi ngờ tột độ: "Cô vợ câm chuốc thuốc mê vào trà gừng à?... Chà... Đúng là hai vợ chồng nhà đó, cực kỳ khả nghi!"
Nguyễn Duy gật đầu, rồi ra hiệu cho Thầy Đề Lĩnh trình ra thêm vài tờ bút tích cũ của ông Tham để đối chiếu lần đầu ngay tại chỗ. Chàng đặt bức thư tình và những tờ thủ bút cạnh nhau dưới ánh nến công đường, rồi cùng Thầy Đề và Phan Tiên Sinh ghé mắt vào quan sát kỹ lưỡng. Sau một hồi im lặng đối soát, Thầy Đề chép miệng thốt lên: "Lạ thật, bẩm quan lớn, nếu chỉ nhìn qua thế này thì đúng là giống nhau như hai giọt nước, từ độ thanh đậm đến cách đưa bút đều không thấy có gì khác biệt cả."
Lê Đình Chính đón lấy hai xấp giấy, đặt chúng song song dưới ánh sáng hắt qua khe cửa. Ông nheo mắt nhìn thật kỹ, rồi khẽ lắc đầu, điềm tĩnh nói: "Làm giả thư phong thì có thể giống đến chín phần, nhưng thói quen chấp bút thì tuyệt đối không thể làm giả được. Mỗi khi kết thúc một nét ngang hoặc nét phẩy, ông Tham luôn có một thói quen vô thức là uốn cong nhẹ nét cuối lên phía trên một chút. Chi tiết này vô cùng nhỏ, nếu không phải người chuyên xem xét án từ lâu năm sẽ rất khó lòng để ý. Còn ở bức thư này, dù nét chữ và văn phong bắt chước khá tài tình, nhưng những nét uốn cong đó hoàn toàn biến mất."
Tất cả không nén nổi sự ngưỡng mộ, Thầy Đề run giọng thốt lên: "Quan lớn quả là có đôi mắt tinh tường như thần, tiểu nhân thật sự bái phục!"
Nói rồi, Lê Đình Chính thu lại vẻ mặt ôn hòa, nhưng đôi mắt vẫn không rời khỏi bức thư tình giả mạo. Ông trầm ngâm: "Để ngụy tạo được một bức thư tình tinh vi như thế này, kẻ đó phải là một người được dùi mài kinh sử từ lâu, viết chữ phải có nội lực thâm hậu. Các con nói kẻ khả nghi nhất trong việc lén đưa bức thư này vào nhà ông Tham chính là cô vợ câm của người em hoặc chính là người em đó. Vậy lai lịch cô vợ này ra sao?"
Nguyễn Duy bèn cung kính thưa lại: "Bẩm thúc phụ, về cô Sen, vợ của thầy đồ Hiếu, con thấy có nhiều điểm vô cùng kỳ lạ. Cô ta không chỉ có liên quan đến vụ giấu thư, mà hình như còn có mối liên hệ mờ ám với cái chết của Cẩn huynh. Con nghi ngờ cô Sen chính là tiểu thư nhà họ Dương, gia tộc đã bị giết trong một vụ án mà Cẩn huynh từng thụ lý. Có lẽ ngay trong ngày hôm nay, tin tức xác minh sẽ được báo về."
Lê Đình Chính khẽ gật đầu, ánh mắt lóe lên tia tán thưởng: "Tốt lắm, con làm việc rất cẩn trọng. Ta nhớ trong xấp án quyển có ghi, tên sát thủ hạ độc thằng Cẩn vốn khai mình từng là kẻ giúp việc cho gia đình họ Dương, vì uất hận chuyện xử oan mà liều mình báo thù. Nay lại thêm cô Sen này, nếu đúng thực là tiểu thư nhà họ Dương năm xưa... thì sự trùng hợp này quả là thâm sâu, không đơn giản là tình cờ."
Ông gác lại xấp án quyển thứ nhất, bàn tay đặt lên xấp thứ hai: "Chuyện nhà thầy đồ ta sẽ chờ tin báo của con. Vậy còn vụ án ở đảo Hòn Mê và căn nhà gỗ trên vách đá thì sao?"
Nguyễn Duy đứng dậy, tiến tới chiếc khay gỗ, cầm lên chiếc lông chim khổng lồ màu đen nhánh, cứng và sắc như thép nguội: "Thưa thúc phụ, tại đảo Hòn Mê, thi thể ông Tham được tìm thấy khi tay trái vẫn còn nắm chặt vật này. Bên cạnh là chiếc túi mười gang đầy vàng ròng đã bốc hơi không dấu vết."
Lê Đình Chính đón lấy chiếc lông chim, đôi mắt nheo lại nhìn chăm chú. Ông hình dung ra một con đại điểu đen tuyền, sải cánh khổng lồ che khuất cả ánh trăng, bay phấp phới giữa cơn giông bão kinh hoàng trên biển cả. Một cảm giác rợn người lướt qua sống lưng vị đại quan.
"Chà... lông chim cứng như thép, sắc lẹm như dao." Ông trầm giọng hỏi, ánh mắt vẫn không rời vật chứng. "Vậy còn túi vàng mười gang kia... chuyện đó có thật à? Số vàng lớn như vậy, rốt cuộc hiện giờ đang nằm ở đâu?"
Nguyễn Duy khẽ thở dài, vẻ mặt đầy tiếc nuối: "Bẩm thúc phụ, kẻ duy nhất chứng kiến số vàng đó... chính là tên ngư dân vừa mới tự sát dưới hầm ngục. Chàng ngừng một chút rồi nói thêm, giọng đầy vẻ nghiêm trọng: "Hơn nữa, thưa thúc phụ, vật này... thực chất là đồ giả."
Nguyễn Duy bắt đầu kể lại tường tận: "Chúng con đã tìm thấy một căn nhà gỗ bí mật bị đốt dở, cheo leo bên vách đá Vọng Nguyệt. Hiện trường lúc ấy vô cùng thê lương, mùi gỗ cháy hòa lẫn với mùi tử khí nồng nặc. Bên trong là xác hai gã thợ mộc ngụ cư, thi thể bị băm vằn vện, máu bắn lên tận xà nhà. Điều đáng nói nhất là, trên bả vai trái của cả hai tên này đều có chung một hình xăm... là hình một con rồng uốn lượn. Chúng chính là thành viên băng đảng Thanh Long!"
Chàng kể sâu thêm về những uẩn khúc: "Phan huynh đã nghiệm thi và phát hiện chúng bị hạ độc bằng Đoạn Trường Thảo ngay trong lúc đang uống rượu. Tại bàn rượu lúc đó có ba chiếc chén, nhưng hiện trường chỉ có hai cái xác. Rõ ràng có một kẻ thứ ba ẩn mặt đã ngồi cùng chúng, hạ độc rồi ra tay tàn độc để ngụy tạo một vụ huynh đệ tương tàn vì tranh giành của cải, sau đó châm lửa đốt nhà hòng phi tang mọi dấu vết. Tại đó, con cũng tìm thấy rất nhiều mảnh vụn và chất liệu kỳ lạ, y hệt như thứ lông vũ này. Kẻ thủ ác không chỉ giết người, mà còn dày công chế tạo ra những vật phẩm mang màu sắc thần thoại để gieo rắc nỗi sợ hãi."
Lê Đình Chính im lặng lắng nghe, rồi gật gù khen ngợi. Tuy nhiên, ông chợt nheo mắt, trầm giọng hỏi: "Duy à, con đang dựa quá nhiều vào vật chứng rồi. Ở hiện trường căn nhà gỗ đó, con nói chỉ có một kẻ thứ ba ẩn mặt ngồi cùng chúng, đúng không?"
Nguyễn Duy hơi khựng lại, cung kính đáp: "Bẩm thúc phụ, dựa vào việc chỉ có ba chiếc chén rượu và những dấu vết tìm được, con tin là chỉ có một kẻ thứ ba ra tay."
Lê Đình Chính khẽ lắc đầu, ánh mắt trở nên thâm trầm: "Hoặc đó chỉ là thứ mà hung thủ 'muốn' con nhìn thấy. Trong một vở kịch tinh vi, những gì phơi bày ra trước mắt đôi khi lại là một cái bẫy."
Nguyễn Duy sững người: "Ý thúc phụ là...?"
"Vật chứng có thể bị sắp đặt, số chén rượu có thể bị thêm bớt." Lê Đình Chính vỗ nhẹ lên vai Nguyễn Duy, giọng nói đầy sức nặng. "Trong căn nhà gỗ ấy lúc xảy ra vụ án, có thể không chỉ là một kẻ ẩn mặt, mà là hai, thậm chí ba người cũng nên. Bọn chúng đã tính toán để con chỉ nhìn thấy những gì chúng cho phép."
Lê Đình Chính nheo mắt, ánh nhìn sắc như dao lướt qua những bức phác họa hiện trường. Ông trầm ngâm một lát rồi đột ngột hỏi: "Ngoài xác hai tên Thanh Long và những vật chứng giả mạo kia, ở căn nhà gỗ đó, các con còn phát hiện ra thứ gì bất thường nữa không?"
Nguyễn Duy gật đầu, vùi vàng đáp: "Bẩm thúc phụ, có ạ. Hai gã chết cháy đó vốn đội lốt thợ mộc ngụ cư. Tại hiện trường, con tìm thấy rất nhiều dụng cụ làm mộc vương vãi, một cây thước Lỗ Ban bằng đồng đã ngả màu, và đặc biệt là một bàn thờ tổ nghề Lỗ Ban được lập ở góc khuất nhất của căn nhà."
Chàng khựng lại một nhịp, đôi mắt phượng ánh lên vẻ sắc lạnh: "Lúc đó con đã suy nghĩ rất nhiều. Nếu kẻ thủ ác đã cất công dàn dựng một hiện trường huynh đệ tương tàn vì chia chác không đều, tàn sát lẫn nhau đến nông nỗi ấy, thì cớ sao lại phải phóng hỏa đốt nhà làm gì? Chẳng phải cứ để nguyên hiện trường như vậy sẽ càng dễ bề đánh lừa quan phủ hơn sao?"
Lê Đình Chính vuốt chòm râu, khẽ mỉm cười tán thưởng: "Hỏa hoạn là cách tốt nhất để phi tang mọi dấu vết. Kẻ đó phóng hỏa không phải để che đậy cái chết của hai tên thợ mộc, mà là để hủy diệt chính căn nhà đó, cùng với những thứ bí mật được cất giấu bên trong."
"Thúc phụ quả nhiên anh minh!" Nguyễn Duy chắp tay, rồi rút từ trong tay áo ra một vật được bọc cẩn thận bằng khăn lụa trắng. Chàng mở lớp khăn, để lộ một cuốn sổ bìa da đã sờn một góc, mép giấy quăn queo ám đầy bồ hóng.
"May thay, hỏa hoạn chưa kịp thiêu rụi toàn bộ. Con đã tìm thấy cuốn sổ tay này được nhét trong một hốc tường bí mật. Bên trong có nhiều trang đã bị xé rách một cách thô bạo, rõ ràng là có kẻ muốn xóa sạch nội dung."
Lê Đình Chính đón lấy cuốn sổ, lật giở những trang giấy ố vàng còn sót lại. Ông nheo mắt nhìn sát vào mặt giấy, nơi những trang bị xé để lại phần cuống nham nhở. Đột nhiên, ông nhận ra trên bề mặt trang giấy trống kế tiếp có những vết hằn rất mờ, tựa như vết ấn của ngòi bút lông cứng từ trang trước đè xuống.
Thấy vị ân sư chăm chú quan sát, Phan Tiên Sinh từ nãy đến giờ vẫn im lặng bỗng cất giọng khàn khàn: "Th-Thưa chú... nh-những vết hằn đó... con đã dùng b-bột than mịn rắc lên... r-rồi gạt nhẹ... đ-để làm rõ nét."
Nói đoạn, Phan Tiên Sinh trải lên án thư một tờ giấy dó lớn, bên trên là những nét vẽ mờ ảo màu đen chì được y phục dựng lại từ các vết hằn trong cuốn sổ.
Lê Đình Chính cúi xuống nhìn. Đó không phải là chữ viết, mà là những bản vẽ kỹ thuật vô cùng phức tạp. Có các khớp nối bằng gỗ, bánh răng cưa, hệ thống ròng rọc, màng da căng gió, và đặc biệt... tổng thể của những chi tiết rời rạc ấy ghép lại thành hình hài của một con đại điểu đang dang rộng sải cánh.
Đôi mắt của Lê Đình Khâm sai mở to sững sờ. Bàn tay ông vô thức siết chặt lấy chiếc lông chim cứng như thép nguội mà Nguyễn Duy vừa đưa ban nãy. Ông ngước lên nhìn hai người học trò, lẩm bẩm: "Lỗ Ban... Ta nhớ trong dã sử có ghi chép một giai thoại. Tổ sư nghề mộc Lỗ Ban từng dùng gỗ và tre chế tạo ra một con chim cơ quan, thả lên trời bay lượn suốt ba ngày ba đêm không nghỉ. Vậy bản vẽ này... có nghĩa là..."
"Đúng vậy, thưa thúc phụ!" Nguyễn Duy quả quyết lên tiếng, phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. "Câu chuyện hoang đường về con chim thần khổng lồ ăn khế trả vàng, chở người em bay ra đảo giấu vàng... tất cả vốn dĩ không phải là yêu quái hay thần linh giáng thế. Đó là một cỗ máy khổng lồ, một con chim giả bằng gỗ được chế tạo bằng thuật cơ quan Lỗ Ban tinh vi của hai gã thợ mộc Thanh Long kia!"
Cả công đường chìm vào tĩnh lặng. Tiếng gió rít qua khe cửa nghe như tiếng vỗ cánh của một loài ma điểu đang lượn lờ đâu đây.
Lê Đình Chính từ từ ngồi xuống ghế, nhắm nghiền mắt lại. Bàn tay gầy guộc của ông day day hai bên thái dương. Vô số những mảnh ghép tưởng chừng rời rạc, vô lý, đầy màu sắc dị đoan bỗng chốc va đập vào nhau, lắp ráp thành một bức tranh tàn khốc và hợp lý đến rợn người dưới bộ óc siêu việt của vị đại quan Hình Bộ.
Ông mở mắt ra, ánh nhìn giờ đây sắc bén và lạnh lẽo tựa mũi gươm trần. Giọng ông vang lên rành rọt, như búa nện xuống mặt đe, liên kết từng mắt xích của vụ án:
"Khởi điểm là câu chuyện hoang đường người em được chim thần chở đi lấy vàng. Nay ta đã biết con chim thần đó là đồ giả bằng gỗ, do hai tên thợ mộc băng Thanh Long chế tạo tại căn nhà trên vách đá. Tức là, người em, thầy đồ Hiếu chắc chắn có liên đới mật thiết đến hai gã thợ mộc này."
Ông gõ tay lên tờ cáo trạng về cái chết của con Thắm: "Kế đến, cô hầu gái bị giết, ông Tham bị ném xác ra đảo Hòn Mê, để lại chiếc lông chim giả. Rồi chính người em dưới danh nghĩa một 'người thầy' đã cho tiền hai anh em ngư dân, thuê họ ra ngoài đảo để họ 'tình cờ' thấy xác, từ đó mới có cớ để thêu dệt nên truyền thuyết về sự trừng phạt của chim thần. Hung thủ lại cố tình giấu bức thư tình giả mạo dưới hũ gạo để đổ tội cho thị Mận. Mà kẻ chuốc thuốc mê lính canh để có người tuồn bức thư vào, chính là vợ của người em, cô vợ câm tên Sen."
Lê Đình Chính phân tích tiếp: "Lại nói về cái chết của cháu ta. Tên sát thủ tự vẫn khai rằng hắn báo thù cho gia tộc họ Dương vì bị thằng Cẩn xử oan. Nhưng điều đáng nói nhất nằm ở đây..."
Nguyễn Duy gật đầu, giọng chàng trầm xuống đầy ám ảnh: "Bẩm thúc phụ, chính tai con đã nghe Cẩn huynh thú nhận trong hơi thở cuối cùng trước khi nhắm mắt. Huynh ấy thừa nhận rằng năm xưa, khi thụ lý vụ án nhà họ Dương, đám gia nhân bị bắt đã gào khóc kêu oan thấu trời, đồng thanh khai rằng hung thủ thực sự tàn sát chủ nhân chính là băng đảng Thanh Long. Nhưng vì áp lực phải phá án hỏa tốc, cũng như muốn lập công với gia tộc, huynh ấy đã nhắm mắt làm ngơ, lờ đi lời khai đó để khép những kẻ tôi tớ tội nghiệp vào tội chết."
Ánh mắt Lê Đình Chính chĩa thẳng vào Nguyễn Duy, giọng gằn từng chữ: "Vậy là đã rõ. Băng Thanh Long tàn sát nhà họ Dương. Thằng Cẩn bao che cho Thanh Long, khép tội oan cho gia nhân để lấy cái danh phá án thần tốc. Nay, tiểu thư nhà họ Dương, người mà con đang nghi ngờ chính là cô vợ câm tên Sen lại xuất hiện ở Hoằng Hóa, đúng lúc băng Thanh Long cũng có mặt chế tạo chim gỗ, và đúng lúc thằng Cẩn bị ám hại."
Ông đập mạnh bàn rồi nói về vụ tự sát tập thể dưới hầm ngục: "Và cuối cùng, dưới hầm ngục, một đám tù nhân phát điên rồi tự sát vì hít phải Huyễn Ảnh Trầm. Con nói tối qua ai là người vào ngục? Lại chính là người em, thầy đồ Hiếu!"
Lê Đình Chính đứng thẳng người dậy, hai tay chắp sau lưng, hít một hơi thật sâu như để kìm nén sự chấn động trước một màn kịch vĩ đại đang phơi bày.
"Từ con chim gỗ, cái chết của con Thắm, ông Tham, việc Cẩn bị ám sát để trả thù cho nhà họ Dương, sự nhúng tay của băng Thanh Long, cho đến vụ tự sát dưới ngục thất... Tất cả, tất cả mọi thứ rốt cuộc đều xoay quanh hai người duy nhất, thầy đồ Hiếu và cô vợ câm!"
Nói đoạn, Lê Đình Chính khẽ dừng lại, ánh mắt ông lộ rõ vẻ suy tư: "Tuy vậy, ta vẫn chưa thực hiểu lắm về lý do cái chết của con Thắm. Nếu thị Mận không phải kẻ ra tay, thì tại sao hung thủ lại phải giết hại một đứa hầu gái nhỏ nhoi như nó làm gì?"
Phan Tiên Sinh lúc này mới chậm rãi lên tiếng, giọng y vẫn trầm đục và đứt quãng: "Th-Thưa chú... Con đã đ-đọc theo sách của T-Tống Từ, có nói về ph-phương pháp nhỏ huyết nh-nhận huyết thống. Đ-Đây cũng là lần đầu con th-thử nghiệm... Kết quả ch-cho thấy, m-máu của đứa bé trong bụng con Thắm... đ-đã thấm vào xương cốt của ông Tham. Đ-Đứa bé đó... th-thực sự mang huyết thống của ông ấy."
Nguyễn Duy nghe vậy bèn trầm ngâm suy đoán: "Con đồ rằng, có lẽ trong lúc hầu hạ, con Thắm đã vô tình tai nghe mắt thấy được bí mật động trời nào đó về con chim gỗ hoặc âm mưu của vợ chồng người em, nên mới bị giết để bịt đầu mối. Đứa con trong bụng nó... có lẽ là một biến số nằm ngoài dự tính của kẻ thủ ác."
Lê Đình Chính đột nhiên xoay người lại, ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào Nguyễn Duy: "Nhưng mọi thứ đã đến mức này, vậy tại sao cho đến giờ phút này, con vẫn chưa ra lệnh bắt ngay hai vợ chồng nhà đó?"
Nguyễn Duy chắp tay, trầm ngâm đáp: "Bẩm thúc phụ, con cũng đã nhiều lần định hạ lệnh. Nhưng bằng chứng chúng ta có hiện nay phần lớn là suy luận, những vật chứng trực tiếp đều đã bị tiêu hủy hoặc bị hung thủ dàn dựng vô cùng lắt léo. Hơn nữa, vẫn còn một điều khiến con trăn trở bấy lâu mà chưa tìm ra lời giải, người em khi mới trở về huyện, mang theo một lượng lớn tiền vàng của cải đem phát cho dân nghèo để lấy tiếng vang. Nếu chuyện con chim thần là giả, thì số vàng đó từ đâu mà có?"
Ngay lúc đó, Phan Tiên Sinh bỗng chậm rãi tiến lại gần án thư, giọng nói khàn đục như tiếng lá khô cọ vào nhau: "Th-Thưa chú... c-có một chi tiết... thỏi vàng m-mà Cẩn huynh đã lén t-trộm từ nhà hai anh em Sứa và Hến... tr-trên đó c-có khắc một ký hiệu... chữ Dương."
Cả Nguyễn Duy và Lê Đình Chính đều sững người, công đường bỗng chốc rơi vào một sự im lặng đáng sợ.
Nguyễn Duy bất thình lình quay phắt sang nhìn Phan Tiên Sinh, đôi mắt mở to đầy vẻ trách móc: "Phan huynh! Một đầu mối chí mạng nhường này, cớ sao đến tận bây giờ huynh mới tiết lộ?"
Phan Tiên Sinh vẫn giữ vẻ mặt bình thản đến lạnh lùng, y khẽ nhếch mép, đáp bằng giọng khàn đục đứt quãng quen thuộc: "Đ-Đệ... c-có hỏi t-ta đâu."
"Chữ Dương?" Còn Lê Đình Chính thì gằn giọng, đôi mắt vốn đã sáng nay càng thêm quắc thước. "Nếu thỏi vàng đó mang ký hiệu của nhà họ Dương... vậy thì số vàng trong chiếc túi mười gang mà ông Tham đã mang ra đảo Hòn Mê... cũng chính là vàng của gia tộc họ Dương?"
Nguyễn Duy cảm thấy một luồng điện chạy dọc sống lưng. Chàng nhìn chiếc lông chim giả trên bàn, rồi nhìn sang bản vẽ con chim gỗ khổng lồ. Một giả thuyết kinh hoàng nảy ra trong đầu chàng: "Vậy là sao?... Chẳng lẽ... vàng trong truyền thuyết, thực chất chính là của cải mà băng Thanh Long cướp từ nhà họ Dương??"
Nguyễn Duy nói thêm, giọng đầy vẻ ưu tư: "Con đã bí mật sai người tìm hiểu, điều tra lại nguồn gốc số của cải mà thầy đồ Hiếu đã phát chẩn cho bà con lối xóm khi mới hồi hương. Tuy nhiên, do sự việc đã trôi qua hơn một năm trời, dân chúng cũng đã tiêu tán hoặc cất giữ hết, nên việc truy tìm căn cơ vẫn còn gặp nhiều trở ngại... Chính vì vậy, con muốn đợi đến tối nay..."
"Tối nay??" Lê Đình Chính nhướn mày, ánh mắt xoáy sâu vào Nguyễn Duy đầy vẻ dò xét. "Tại sao lại là tối nay?"
"Bẩm thúc phụ, chúng ta hiện đang xem xét mọi thứ dựa trên những thứ sẵn có, dù mọi mắt xích dường như đã liên kết chặt chẽ với nhau..."
"Nhưng vẫn chưa có bằng chứng cụ thể rằng chính hai vợ chồng đó là thủ phạm trực tiếp, đúng không?" Lê Đình Chính cắt lời, giọng ông vang lên đanh thép nhưng không giấu nổi sự hào hứng. "Thứ lỗi cho ta, vụ liên hoàn án này... thực sự khiến lão già này thấy có chút phấn khích. Vậy ý con là sao, tối nay có chuyện gì đặc biệt?"
Nguyễn Duy siết chặt nắm tay, ánh mắt kiên định: "Con muốn bắt tận tay, làm sao cho hung thủ không thể chối cãi được. Con đã bố trí một cái bẫy, chỉ chờ chúng tự mình bước vào. Nếu thực sự hai vợ chồng thầy đồ Hiếu và cô Sen đứng sau toàn bộ tấn bi kịch này, con nhất định sẽ buộc chúng phải khai ra nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết oan khuất của con Thắm, cách thức chúng sát hại ông Tham rồi dàn dựng hiện trường trên đảo, cùng mọi tội ác thâm độc khác mà chúng đã dày công che đậy bấy lâu nay."
Lê Đình Chính mỉm cười, cái gật đầu của ông chứa đựng sự hài lòng tuyệt đối. Ông vỗ vai Nguyễn Duy, giọng trầm xuống: "Duy, con thực sự đã trưởng thành rất nhiều... không hổ danh là Thám hoa lang danh bất hư truyền. Sau khi vụ án này kết thúc, ta sẽ thưa lại tường tận với triều đình về công trạng của con, nhất định phục chức cho con để con mang tài năng giúp dân giúp nước."
Nguyễn Duy khẽ cười nhạt, ánh mắt nhìn ra sân huyện đường đã bắt đầu loang lổ bóng chiều: "Thú thực với thúc phụ, trải qua những chuyện này, con bắt đầu thấy cảm mến mảnh đất Hoằng Hóa này rồi. Có lẽ cái mũ ô sa không quan trọng bằng sự bình yên của người dân nơi đây."
Lê Đình Chính mỉm cười, nhưng ánh mắt ông đột ngột trở nên thâm trầm, ông khuyên nhủ: "Ta chỉ mong rằng... khi sự thật phơi bày vào tối nay, con sẽ có đủ điềm tĩnh để chấp nhận những thứ mà mình không ngờ tới, hoặc những thứ con vốn không thể thay đổi được."
Nguyễn Duy ngẩn người, hỏi lại với vẻ hoang mang: "Thúc phụ... ý người là sao?"
Vị Khâm sai chỉ mỉm cười bí ẩn mà không trả lời. Trời lúc này đã ngả hẳn về chiều, gió rít qua những tán cây cổ thụ trong huyện đường nghe như tiếng thở dài của thời gian. Khi mọi người chuẩn bị ra khỏi phòng để triển khai kế hoạch cho buổi tối, Lê Đình Chính bỗng đứng lại bên cửa, quay đầu nhìn Nguyễn Duy bằng ánh mắt đầy ẩn ý:
"Duy, ta còn một lời khuyên cho con. Hôm nay, con mang hết ruột gan ra phơi bày trước mặt ta, đó là cái 'tâm' của kẻ sĩ, nhưng lại là 'điểm yếu' của kẻ làm quan. Đừng bao giờ lật hết quân cờ của mình trước bất kỳ ai, kể cả là ta. Hãy nhớ rằng kẻ thù đáng sợ nhất không phải là kẻ cầm đao trước mặt, mà thường là kẻ mỉm cười sau lưng mình đấy."
Nguyễn Duy rùng mình một cái, một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Câu nói của Lê Đình Chính đột ngột làm chàng nhớ lại lời cảnh báo đầy ma mị của thầy lang Cuội trước đó. Kẻ thân cận nhất... rốt cuộc lời cảnh báo này nhắm vào ai?