[Kinh dị] Mợ Cả

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Chào mọi người, mình là tác giả của 2 bộ từng đăng, là
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Trong lúc lên idea cho Quyển 3, mình xin up lại bộ truyện cũ mình thực hiện cùng 1 bạn tên Thanh Tuyền. Tên là Mợ Cả, với bối cảnh là miền quê Nam Bộ thời Pháp Thuộc.

Chương 1: Nhà Hội Đồng Quyền (có update đánh dấu vàng)​

Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng

Chương 3: Vòng Lặp

Chương 4: Âm mưu của mợ Cả

Chương 5: Hàm oan

Chương 6: Thầy Bảy (1)

Chương 6: Thầy Bảy (2)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (1)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (2)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (1)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (1)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (3)

Chương 10: Ả Phù Dung (1) (Đã có chỉnh sửa đoạn "uống sữa")

Chương 10: Ả Phù Dung (2)

Chương 10: Ả Phù Dung (3)

Chương 11: Nhân quả (1)

Chương 11: Nhân quả (2)

Chương 11: Nhân quả (3)

Chương 12: Đền tội (1)

Chương 12: Đền tội (2)

Chương 12: Đền tội (3)

Chương 12: Đền tội (4)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (1)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (2)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (3)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (4) - END

Phụ lục: Cô Hai Kim


Bia-01.webp
 
Sửa lần cuối:
Chương 6: Thầy Bảy (2)

Quá trưa một chút, chừng độ hai giờ chiều, nắng không còn đứng bóng mà đã xế nhẹ, rải xuống mặt sông một lớp sáng vàng nhạt. Thầy Bảy ngồi ở mũi ghe, tay mân mê cái túi vải đựng đồ nghề, hai chân thầy thả lỏng. Thằng Tám ngồi phía sau, tay chèo nhịp đều, mái chèo cắm xuống nước rồi nhấc lên, để lại những vòng sóng tròn loang ra chậm rãi.

Ghe xuôi theo dòng, gió từ sông thổi lên mang theo mùi bùn non và rơm mục. Dọc hai bên bờ, những vạt dừa nước rũ thấp, lá quệt sát mặt nước, kêu sột soạt mỗi khi ghe lướt qua.

Thằng Tám khẽ liếc lên trước. Thầy Bảy vẫn nhìn thẳng dòng nước, mắt không dừng ở một điểm nào cố định. Một lúc sau, Tám mới lên tiếng, giọng vừa đủ nghe: “Thầy ơi … cái bệnh của ông chồng bà Hoa, coi vậy chớ có nặng lắm hông thầy?”

Thầy Bảy không quay đầu lại. Ông đưa tay vốc một ít nước sông, để nước chảy qua kẽ ngón tay rồi buông xuống. “Do ổng nhậu nhiều quá thôi”. Thầy nói chậm. “Ăn uống thất thường, bữa có bữa không, trong người ổng bị suy nhược riết rồi sinh bệnh.”

Thầy nhích người một chút, ánh mắt vẫn dõi theo dòng nước đang trôi. “Với lại… có lần ổng nhậu về khuya, ngang qua cái miếu nhỏ bên đường, miệng mồm không giữ, nói năng bậy bạ. Chuyện đó không lớn lắm, nhưng mà người ta khi say rượu mà lại đụng chạm tới chỗ thờ cúng thì dễ bị quở lắm. Chỉ cần bà Hoa chịu khó tịnh dưỡng cho chồng, rồi làm cái lễ tạ tội cho phải phép là ổn thôi.”

Thầy dừng lại một chút rồi nói thêm, như nhớ ra điều gì: “Tám, con chèo nhanh hơn chút đi. Từ đây xuống Vĩnh Long còn xa đó.”

Tám bật cười khẽ, tay vẫn giữ nhịp chèo. “Trời ơi, mình có đi bộ đâu thầy. Con coi rồi, đi đường sông là nhanh nhứt. Với lại… con chèo ghe số một vùng này mà.”

Câu nói làm mái chèo vẽ một vòng nước rộng hơn. Ghe tiếp tục xuôi. Mặt trời ngả dần về phía tây, nắng đã bớt gắt, bóng hai thầy trò đổ dài trên mặt sông, chập chờn theo từng con sóng nhỏ.

---

Khi trời gần sập tối, ghe cập vào một bến đất thấp bên sông Cổ Chiên. Bờ sông ở đây rộng nhưng vắng, chỉ có vài cọc gỗ cắm nghiêng, dấu vết của những chiếc ghe từng buộc vào rồi bỏ đi. Thầy Bảy xách túi đeo lên trước, Tám kéo ghe sát thêm chút nữa rồi mới nhảy lên bờ.

Cả hai đứng lại dưới bóng một cây đa già, thân cây sần sùi, rễ trồi lên ngoằn ngoèo. Trước mặt là con đường đất dẫn vào làng chạy hun hút giữa những hàng tre thưa. Một điều lạ là họ không thấy một bóng người nào.

Tám đưa mắt nhìn quanh, rồi quay sang thầy, hạ giọng: “Thầy, sao lạ quá, không thấy ai cả... Hay là mình đi lộn chỗ rồi thầy?”

Thầy Bảy lắc đầu. Ông cúi xuống, nhặt một nắm đất, bóp nhẹ trong tay rồi thả ra. Đất rơi lả tả, khô ở mặt trên nhưng ẩm ở bên dưới. “Không lộn đâu. Đúng bờ này, chỉ có đất ở đây mới tơi ra như vậy”.

Tám bước thêm mấy bước, định gọi hỏi thăm một nhà gần đó. Nhưng chưa kịp đi thì từ phía con đường đất, có một bóng người chậm rãi đi tới.

Người đó quấn băng gần kín thân. Từ đầu, cổ, tới cánh tay đều phủ một lớp vải cũ, màu đã ngả xám. Chỉ chừa ra đôi mắt và một phần miệng. Dáng đi hơi lệch, mỗi bước đặt xuống đều nặng nề, như phải dồn sức mới nhấc được chân lên. Khi tới gần, người đó dừng lại cách hai thầy trò chừng vài bước.

Ánh mắt sau lớp băng nhìn thẳng vào thầy Bảy chằm chằm.

Một lúc lâu, người đó mới cất tiếng. Giọng khàn, đục không phân biệt nổi là nam hay nữ: “Thầy… thầy đi đâu?”

Thầy Bảy nhìn lại, ánh mắt bình thản. “Tôi qua nhà ông bà Hội đồng Quyền có chuyện, còn đây là...”

Người quấn băng khựng lại. Hai vai nhích lên một chút rồi hạ xuống rồi nói: “Thầy đừng qua đó”.

Tám nhìn người quấn băng, nó cứ nheo mắt lại vì không rõ người này là nam hay nữ mà xưng hô cho đúng: “Anh… hay chị bị thương vậy, để thầy Bảy coi thử đi. Thầy biết dùng thuốc chữa bệnh, biết băng bó.”

Người quấn băng quay phắt sang Tám. Đôi mắt trừng lên, tròng trắng lộ rõ. “Tôi không cần.”

Không khí giữa ba người chùng xuống. Gió từ dưới sông thổi mạnh hơn, làm mấy tàu lá bần rung lên, cọ vào nhau nghe khô khốc.

Thầy Bảy đưa tay ra, chặn Tám lại. Ông nhìn người quấn băng thêm một lúc nữa, rồi nói chậm rãi: “Tám, người này không chỉ bị thương ngoài da đâu."

Ông ngừng lại, ánh mắt không rời khỏi đôi mắt sau lớp băng. “Trong tâm người này còn có một vết thương khác. Đau đớn hơn rất nhiều”

Người quấn băng siết chặt hai bàn tay lại. Lớp vải ở cổ tay nhăn dúm. Giọng nói bật ra, thấp hơn lúc nãy: “Thầy cũng biết à, cái gia đình đó… oan nghiệp rất nặng. Mọi chuyện xảy ra... còn chưa xong đâu. Tôi chỉ có ý nhắc nhở thầy trước, vì thầy là người tốt”.

Thầy Bảy không đáp liền. Ông đứng yên, để gió từ sông thổi qua, làm vạt áo khẽ lay. Một lúc sau, thầy mới chậm rãi nói, giọng trầm và đều: “Không biết oán thù của ngươi ra sao.”

Ông nhìn thẳng vào người quấn băng rồi nói tiếp. “Nhưng hận thù không giải quyết được gì đâu. Mọi chuyện trên đời này, rốt cuộc cũng là tùy duyên số.”

Thầy ngừng lại một nhịp, rồi nói tiếp, chậm hơn: “Nếu ngươi cứ ôm lấy oán hận, thì người chịu đau khổ trước tiên và cuối cùng… chỉ có ngươi thôi.”

Người quấn băng đứng lặng một nhịp, rồi quay lưng. Dáng đi chậm rãi ban nãy bỗng nhanh hơn, bước thẳng về phía con đường đất dẫn sâu vào làng. Không ngoái đầu lại một lần nào.

Thầy Bảy đứng yên, nhìn theo cho tới khi bóng người khuất hẳn sau hàng tre. Gió thổi ngang bến sông, mang theo mùi nước lẫn bùn non. Tám nuốt khan, rồi quay sang thầy, rốt cuộc cũng lên tiếng, giọng thấp hẳn đi: “Thầy… người đó.... rốt cuộc là sao vậy?”

Thầy Bảy vẫn nhìn về phía con đường đất, một lúc lâu mới đáp: “Là một trong những nghiệp báo của nhà ông bà Hội đồng.”

Tám nhíu mày, bước chân vô thức đá nhẹ vào hòn sỏi dưới đất. “Nghiệp báo? Ý thầy là sao? Vậy mà… sao thầy vẫn nhận lời qua nhà họ?”

Thầy Bảy quay sang nhìn Tám. Ánh mắt ông nghiêm nghị hơn: “Vì cái nghiệp này không chỉ ảnh hưởng tới nhà Hội đồng mà nó còn ảnh hưởng tới rất nhiều thứ. Người dân trong vùng, kẻ ăn người làm, rồi tới cả những người chẳng dính dáng gì cũng bị cuốn theo.”

Thầy nói tiếp với giọng trầm hơn: “Thân làm đạo, nếu thấy chuyện mà quay lưng lại... thì không được.”

Tám gật gù, như chợt nhớ ra điều gì. Nó ngập ngừng nói: “Mà giờ con mới nhớ, sáng nay… trong đám người nhà Hội đồng tới gặp thầy, có một ông mặt bên phải bị sẹo bỏng lớn. Nhìn ghê lắm thầy. Con thấy lạ lạ sao đó.”

Khóe miệng thầy Bảy khẽ nhếch lên. “Sao? Con sợ rồi à?”

Tám lắc đầu ngay. “Không phải sợ… chỉ là trong người con có cảm giác kỳ kỳ.”

Nụ cười trên môi thầy Bảy tắt hẳn. Ông gật đầu rất nhẹ. “Cảm nhận vậy là đúng.” Thầy nói chậm. “Người đó… cũng là một người bị ảnh hưởng bởi nghiệp báo này.”

Thầy đặt tay lên vai Tám, rồi dặn dò: “Tám, thầy dặn con. Ma quỷ đôi khi không đáng sợ bằng con người đâu.”

Nói rồi, thầy Bảy xách túi đồ lên trước. “Đi thôi, chúng ta sẽ đi theo con đường này để vào trong làng, rồi sẽ hỏi thăm tiếp”.

Hai thầy trò bước theo con đường đất dẫn vào trong làng. Phía sau lưng họ, bến sông Cổ Chiên dần chìm vào bống tối, không để lại dấu vết nào của cuộc gặp với người quấn băng vừa rồi.



Trời vừa sập tối, cả hai thầy trò dừng chân ở một nhánh khác của sông Cổ Chiên. Cả hai đã đi bộ một quãng dài, lớp bụi mịn bám lên ống quần, bàn chân nặng dần theo từng bước.

Trên đường vào đến đây, hai thầy trò có hỏi thăm mấy nhà ven đường. Có người vừa nghe nhắc tới tên ông bà Hội đồng Quyền thì khựng tay, chỉ vội một hướng rồi quay mặt đi. Có người đang quét sân thì cúi đầu, giả như không nghe rõ câu hỏi. Cũng có kẻ đáp rất nhanh, tay chỉ xong là bước thẳng vô nhà, để lại cánh cửa khép hờ phía sau.

Thật ra họ cũng không cần hỏi nhiều. Trong làng, hiếm có căn nhà nào rộng và nổi bật như nhà ông bà Hội đồng. Một tòa nhà ngói ba gian bề thế, mái ngói dày, cột kèo to. Phía ngoài là hàng rào sắt và cái cổng sắt nặng trịch luôn khép hờ.

Đối diện, sát bờ sông Cổ Chiên, là một lò gạch cũ đã sập nửa căn, vách nghiêng, mái xệ, gạch vỡ ngổn ngang ven bờ. Cách đó không xa, một lò gạch mới đang được dựng dang dở, tường còn trơ gạch sống, cột kèo dựng tạm, đứng trơ trọi bên mép nước.

Thầy Bảy không bước tới cổng ngay. Ông dừng lại ngoài cổng, tay vẫn giữ hờ cái túi vải bên hông, thân người hơi nghiêng về phía trước như đang tìm kiếm gì đó. Mắt thầy không dán vào căn nhà ngói bề thế trước mặt, mà dừng ở khoảng sân tối, nơi hàng cau đứng im, lá không lay động dù gió sông vẫn còn thổi nhẹ.

Một lúc sau, thầy mới khẽ nói: “Đất này… có thứ gì đó rất kì lạ”

Một người làm đang cầm cây chổi bước về phía gần cổng, thấy bóng ông lão lạ mặt cùng một thanh niên trẻ tầm 12-13 tuổi đứng lấp ló thì khựng lại. Hắn nheo mắt nhìn từ đầu tới chân ông lão, bàn tay siết chặt cán chổi. Rồi hắn bước xấn tới nửa bước, chân dậm mạnh xuống nền đất, giọng gắt gỏng: “Ông già, đi chỗ khác! Đứng đây làm gì!”

Thầy Bảy đứng yên, nhìn thẳng người đối diện rồi thầy cất tiếng: “Tôi chỉ đứng ngoài đây, thấy có chuyện lạ nên mới nhìn vào, thầy trò tôi có làm vướng việc chú không?”

Gã hừ nhẹ một tiếng, tay chổi khẽ dịch đi, như để che bớt khoảng trống trước ngực. “Vướng hay không thì cũng đừng đứng đó. Nhà này không có ai rảnh tiếp chuyện.”

Thầy Bảy nghiêng đầu, đưa mắt nhìn sâu vào trong sân, nơi ánh đèn đã bắt đầu hắt ra thành từng mảng vàng nhạt trên nền gạch. Ông chờ một nhịp, rồi mới cất tiếng, giọng đều và thấp: “Tôi được mời. Phiền chú vào thưa lại với ông bà một tiếng.”

Gã người làm khịt mũi. Hắn xoay cổ tay, cây chổi trong tay quét mạnh một đường dài, bụi cát bắn lạo xạo sát mũi giày hai thầy trò. Hắn vừa quét vừa nói, không nhìn thẳng: “Ông bà đang sửa soạn ăn cơm. Ai tới đây mà cũng nói mình được mời hết thì biết đường đâu mà tiếp.”

Chưa dứt lời, từ phía cuối sân vang lên tiếng bánh xe gỗ nghiến trên nền đất. Thằng Sửu vừa kéo chiếc xe đẩy từ trong xóm trở về. Vừa ngẩng lên thấy thầy Bảy, nó khựng lại, hai tay buông lỏng càng xe.

Nó bỏ xe lại đó, bước nhanh tới, hai bàn tay lúng túng nắm chặt vành nón, lưng hơi khom xuống: “Dạ thầy Bảy… mời thầy vô. Con chờ thầy từ hồi trưa. Cái xe đẩy bị hư, con đem đi sửa giờ mới về tới. Thầy với cậu… tới lâu chưa?”

Thằng Sửu quay sang người làm kia, lưng vẫn khom, nhưng giọng không còn rụt rè như lúc nãy. Nó nói nhanh: “Khách của bà Hội đồng mời đó chú. Lúc chiều bà dặn con đứng chờ thầy. Chú không biết thì đừng có nói bậy.”

Gã người làm khịt mũi, cây chổi trong tay khẽ quét mạnh thêm một đường trên nền gạch. “Cũng phải coi giờ coi giấc. Tối tới nơi rồi, ai biết đâu thật giả.”

Thằng Sửu còn định nói thêm, nhưng thầy Bảy đã giơ nhẹ một bàn tay lên. Ông nhìn sang Sửu: “Không sao đâu.” Thầy nói, giọng thấp và đều. “Thầy vừa mới tới thôi.”

Nói rồi, thầy gật nhẹ một cái, rồi bước qua ngạch cửa với dáng đi chậm rãi, không vội vàng.

Ngay khi bàn chân vừa chạm nền gạch, thân người thầy khựng lại vì trong cái túi đeo sát hông, chiếc hộp gỗ nhỏ bỗng nóng lên, hơi nóng lan qua lớp vải thấm vào da.

Một tiếng nói văng vẳng bật lên trong đầu thầy: “Lão thầy pháp… đừng bước vô căn nhà này. Lão già mà có chuyện gì… thì chuyện của tao tính sao đây…”

Thầy Bảy khẽ nhíu mày. Thầy mới nhớ ra đó chính là hồn ma khi sáng nhập vào người con gái, đã bị thầy thu phục, nhốt tạm trong chiếc hộp gỗ này. Thầy không dừng lại, chỉ hít vào một hơi chậm, ý nghĩ thoáng qua trong đầu: Ta sẽ không sao. Chuyện ở mảnh đất này, ta đã có dự tính trước.

Thầy đứng yên thêm một chút, đủ để hơi nóng trong túi dịu xuống, rồi mới bước tiếp vào trong cùng với Tám theo sau Sửu, men theo lối vào gian nhà chính, để lại sau lưng khoảng sân đã tối hẳn.

---

Nhà chính đã lên đèn. Ánh đèn điện treo cao hắt xuống gian nhà rộng, soi rõ từng cột gỗ bóng loáng, từng bức hoành phi sơn son thếp vàng treo ngay ngắn trên vách. Ngay lúc bước qua thềm, Tám chững lại nửa bước. Nó ngẩng lên nhìn, mắt lướt nhanh từ bộ trường kỷ lớn tới cái bàn ăn đã dọn sẵn mâm, chén bát sứ men trắng xếp đều tăm tắp. Ánh sáng không chập chờn như đèn dầu nó quen thấy ở nhà thầy Bảy, mà sáng rành rành, làm nó có cảm giác mình đang đứng lạc sang một thế giới khác.

Ông Hội đồng ngồi sẵn trên ghế lớn, lưng thẳng, hai tay đặt lên tay vịn, các ngón tay khép chặt như đang giữ cho dáng ngồi không xô lệch. Bên mé trong bộ bàn ăn, cậu Ba Nghĩa vừa đặt đũa xuống, khẽ nghiêng đầu về phía cửa, ánh mắt thoáng dừng lại rồi lướt đi như thể không muốn tỏ ra chú ý. Mợ Nhàng ngồi đối diện, tay vẫn xới cơm cho con, động tác chậm hơn một nhịp khi nghe tiếng bước chân ngoài hiên; chiếc muỗng khẽ chạm thành bát kêu một tiếng rất nhẹ. Bà Hội đứng cạnh bàn, còn chưa kịp quay hẳn ra phía cửa thì đã nghe rõ tiếng chân người ngoài hiên.

Thằng Sửu bước nhanh vào trước, đứng nép một bên cột nhà, cúi đầu thưa gấp: “Dạ thưa ông bà, thầy Bảy tới.”

Bà Hội quay phắt lại. Vừa nhìn thấy thầy Bảy đứng ngoài thềm, mặt bà sáng hẳn lên. Bà bước vội ra mấy bước, hai tay khẽ chắp lại trước ngực. “Trời đất ơi, con đợi thầy từ xế tới giờ”, bà nói nhanh, giọng mừng rỡ.

Thầy Bảy khẽ gật đầu. Hai thầy trò chắp tay, cúi đầu chào cả nhà, động tác gọn và đúng mực: “Dạ, thưa ông bà.”

Ông Hội đồng không đứng dậy. Ông nghiêng đầu nhìn hai thầy trò từ trên xuống dưới, ánh mắt dừng lại lâu hơn ở cái túi vải bên hông thầy Bảy, rồi mới nhìn sang Tám. Cái nhìn không hẳn xua đuổi, nhưng cũng không niềm nở.

Bà Hội thấy vậy liền lên tiếng: “Ông ơi, đây là thầy Bảy, người mà tôi có nói với ông hồi sáng đó. Thầy nổi tiếng lắm, coi đâu trúng đó”

Bà nói liền một hơi, tay vô thức vân vê vạt áo. Ông Hội đồng nhíu mày. Hàm dưới ông siết lại, giọng trầm xuống khi cắt ngang: “Bà đúng là... chuyện trong nhà, tôi không muốn để người ngoài biết.”

Nghe vậy, thầy Bảy thì vẫn đứng yên. Ông nghiêng đầu rất nhẹ, giọng đều và thấp: “Ông Hội đồng yên tâm. Tính tôi quen coi đâu thì để đó. Không nói ra nói vô với ai.”

Ông Hội đồng nhìn thầy thêm một nhịp nữa, rồi quay mặt đi. Bà Hội lúc này mới thở ra được một hơi, quay lại phía thầy, giọng hạ xuống: “Dạ, chuyện nhà thì sáng nay con cũng có thưa với thầy rồi. Nay thầy tới tận nơi, thầy thấy sao?”

Thầy Bảy không trả lời liền. Ông đưa mắt nhìn quanh gian nhà một vòng, từ bộ bàn ăn đang được dọn ra, sang cánh cửa thông ra vườn sau khép kín. Rồi ông mới chậm rãi nói: “Khi tôi vừa bước chân tới đây, đã thấy mảnh đất này có nhiều điều lạ. Không phải chỉ ở trong nhà....”

Bà Hội khựng lại. Ông Hội đồng quay đầu nhìn thẳng thầy Bảy: “Ý thầy là sao?”

Thầy Bảy đáp, giọng vẫn đều: “Có vẻ như đây là một mảnh đất âm hồn.”

Tám thấy tay bà Hội bấu chặt vào mép bàn khi nghe thầy Bảy nói. Ông Hội đồng nhếch môi, hỏi lại, giọng khàn đi một chút: “Mảnh đất…âm hồn?”

Thầy Bảy không gật cũng không lắc. Ông đứng yên thêm một nhịp, rồi mới ngước mắt nhìn thẳng sang ông Hội đồng.

Ông cất tiếng, chậm rãi: “Xin phép hỏi ông Hội đồng.... mảnh đất này có từ đời nào?”

Ông Hội đồng dựa lưng sâu hơn vào ghế. Một lúc sau, ông mới nói: “Đất này là đất ông nội tôi mua lại từ chục năm trước.”

Cậu Ba Nghĩa lúc này mới lên tiếng. Cậu nghiêng người về phía trước, ánh mắt không nhìn thẳng thầy Bảy mà dừng ở khoảng không giữa hai người, giọng cất lên vừa đủ nghe: “Thầy nói đất nhà tôi là đất âm hồn… là ý gì?”

Cậu ngừng lại một nhịp, khóe môi nhếch rất nhẹ. “Đất này là đất tổ tiên nhà tôi để lại, đâu phải để thầy muốn nói sao thì nói.”

Thầy Bảy không đáp liền. Ông đứng yên, hai tay buông thõng trước bụng, một lúc sau, ông mới ngẩng lên, ánh nhìn đặt thẳng về phía cậu Ba và nói: “Thưa cậu, từ lúc bước chân vô tới cổng, tôi đã thấy mạch khí trong đất này không yên.”

Thầy ngước mắt nhìn quanh gian nhà, ánh nhìn dừng lại rất nhanh ở góc bàn ăn, rồi lướt qua cửa sổ trông ra phía bờ sông. “Mấy bữa nay trong nhà, trâu bò gia súc có con nào lăn ra chết mà không rõ nguyên nhân không?”

Bà Hội đồng hơi giật mình, tay đang đặt trên lưng ghế khẽ run một nhịp. Ông Hội đồng không đáp ngay, chỉ đổi tư thế ngồi, lưng dựa sâu hơn vào ghế.

Thầy nói tiếp, giọng vẫn đều: “Và… trong mấy ngày vừa rồi, trong nhà này có người chết, mà lại là chết oan, phải không?”

Không khí trong gian nhà đặc hẳn lại. Cậu Ba Nghĩa bỗng siết chặt hai tay dưới mặt bàn. Mợ Nhàng ngồi im, lưng thẳng nhưng mắt không rời hai thầy trò. Bà Hội đồng hít vào một hơi ngắn, rồi mới khẽ gật đầu, giọng thấp xuống: “Dạ… đúng là có chuyện đó, mà.... mà sao thầy biết”

Thầy Bảy nhìn sang bà Hội đồng, rồi nhìn cả gian nhà thêm một lượt nữa. Ông không vội nói liền, chỉ đặt hai bàn tay trước bụng, chậm rãi cất tiếng: “Thưa ông bà, đất có mạch cũng như người có huyết quản. Một mảnh đất tốt thì khí, mạch phải thông. Nhưng ở đây, tôi thấy luồng khí bị nghẽn lại, xuất hiện uế khí.”

Ông chỉ tay ra phía cửa sổ, giọng vẫn bình thản: “Về phong thủy, đất này đang bị 'tù khí'. Những luồng khí xấu không thoát đi được mà cứ luẩn quẩn dưới chân tường, ngấm vào lòng đất. Khi âm khí quá nặng, nó sẽ lấn át dương khí của người sống. Những loài vật nhạy cảm như trâu bò, gia súc sẽ cảm nhận được đầu tiên; mạch máu chúng bị nghẽn, tâm thần hoảng loạn nên mới lăn ra chết bất đắc kỳ tử.”

Thầy dừng lại, nhìn về phía cậu Ba Nghĩa rồi tiếp: “Khi uế khí đã tích tụ đủ lâu, nó không chỉ dừng lại ở gia súc. Người sống ở đây lâu ngày, nhẹ thì tinh thần sa sút, nặng thì gặp họa sát thân do âm dương mất cân bằng. Chuyện người mất trong nhà mấy ngày qua, chính là dấu hiệu cho thấy đất này đã 'vượng âm cực điểm', không còn là nơi cho con người sinh sống nữa.”

Bà Hội đồng như chợt nhớ ra điều gì kinh khủng lắm, gương mặt bà tái đi, giọng run rẩy: “Thầy nói con mới nhớ... Mấy con trâu nhà con chết lạ lùng lắm thầy ơi. Rõ ràng tụi nó đang đứng trên chuồng khô ráo, vậy mà lúc chết, mồm mép cứ sủi bọt trắng, da dẻ trông y hệt như bị chết đuối dưới sông vậy. Chuyện này... chuyện này là sao hả thầy?”

Thầy Bảy nghe xong, đôi lông mày khẽ chau lại. Ông đứng dậy, bước chậm rãi ra phía cửa sổ nhìn về hướng bờ sông, rồi quay lại nhìn sâu vào nền đất gian nhà. Ông trầm ngâm một lát rồi mới thong thả giải thích: “Thưa bà, đó chính là hiện tượng 'Thủy ngấm vào mạch khí'. Trong phong thủy, không phải cứ có nước tràn vào nhà mới gọi là ngập. Đất này vốn nằm cạnh sông, nhưng mạch đất bên dưới đã bị gãy hoặc bị một luồng sát khí từ dưới lòng sông đâm xuyên qua.”

Thầy chỉ tay xuống mặt đất, giọng trầm xuống: “Khi mạch khí bị tổn thương, nó sẽ kéo theo 'âm thủy' từ dưới lòng đất bốc lên. Loại nước này mắt thường không thấy được, nhưng nó tồn tại dưới dạng hơi khí cực lạnh và nặng. Con trâu, con bò vốn thuộc hành Thổ, chân nó chạm đất cả ngày nên nó hấp thụ toàn bộ cái 'âm thủy' đó vào phổi. Chúng không chết vì nước sông, mà chết vì phổi bị nghẹt bởi uế khí của nước từ dưới lòng đất bốc lên.”

Ông nhìn sang ông Hội đồng, ánh mắt sắc sảo: “Đây là điềm báo của 'Thủy sát đại kỵ'. Đất này không còn giữ được tính 'thổ' để nâng đỡ con người nữa, mà nó đang biến thành một cái đầm lầy tâm linh, nhấn chìm mọi sinh khí. Nếu không tìm ra nguyên nhân vì sao mạch đất bị gãy, thì không chỉ gia súc, mà ếu khí ấy sẽ sớm làm hại người trong nhà.”

Bà Hội đồng nghe tới đó thì bủn rủn tay chân, lắp bắp: "Dạ... đúng là có chuyện đó, mà... mà sao thầy biết trong nhà tôi mới có người chết? Lại còn... còn nói là chết oan?"

Thầy Bảy khẽ thở dài, ông bước tới giữa gian phòng, ông nói: “Phong thủy không chỉ xem đất đá, mà còn xem Khí và Sắc. Người chết bình thường thì khí trong nhà trầm lặng nhưng bình an. Còn người chết oan, khí sẽ hóa thành 'Oán sát'.”

Thầy Bảy dừng lại, ánh mắt lướt qua từng góc trong gian nhà mà nói: “Từ lúc bước vào, tôi đã thấy trên xà nhà và các góc khuất bao phủ một lớp tử khí màu xám tro. Loại khí này chỉ xuất hiện khi có một sinh mạng bị cắt đứt đột ngột, khi họ còn quá nhiều điều chưa kịp nói, quá nhiều uất ức chưa kịp buông. Nó giống như một đám mây đen không tan, cứ lởn vởn trên đầu những người sống trong nhà.”

Thầy nhìn thẳng vào ông Hội đồng, giọng đanh lại một chút: “Hơn nữa, nhìn vào sắc mặt của mọi người ở đây, tôi thấy cung phụ mẫu và cung nô bộc đều tối đen. Cái chết đó không phải do số tận, mà là do sự xung khắc dữ dội giữa mạng người và cái sát khí từ lòng đất này bốc lên. Một cái chết 'đứt đoạn' ngay trong lúc sức sống còn đang vượng... nếu không gọi là oan, thì gọi là gì?”

Bà Hội đồng nghe thầy nói về cái chết oan, mặt mày không còn giọt máu. Bà run rẩy thốt lên: “Thầy ơi... hồi đó tôi có đi coi bói, người ta con dâu con chỉ hợp để con gái. Nếu đẻ con trai thì sẽ mang họa sát thân, không chết trẻ thì cũng tai ương liên miên. Có thiệt vậy không thầy?”

Thầy Bảy khẽ vuốt chòm râu, ánh mắt ông dừng lại nơi bức hoành phi giữa nhà, rồi chậm rãi đáp: “Lời thầy bói kia nói không phải là không có căn cứ, nhưng đứng về góc độ phong thủy địa lý, tôi sẽ giải thích cho bà hiểu rõ cái 'gốc' của nó. Mảnh đất này vốn là đất 'Cực Âm'. Nó nằm ở thế 'Hổ phục, Long lẩn' – tức là khí âm của đất quá vượng, lấn át hoàn toàn khí dương.”

Thầy chỉ tay về phía bờ sông, nơi gió đang lùa vào lạnh lẽo: “Người nam thuộc tính Dương, người nữ thuộc tính Âm. Khi một đứa bé trai sinh ra trên mảnh đất này, nó mang trong mình dương khí thuần khiết. Nhưng đất này lại đang chứa đầy uế khí và âm thủy như tôi đã nói lúc nãy. Hai luồng khí ấy xung khắc dữ dội như nước với lửa. Đất 'âm' quá nặng sẽ coi dương khí của người con trai như một vật thể lạ và tìm cách 'thôn tính' hoặc 'triệt hạ' để giữ lấy sự cân bằng của nó.”

Thầy hạ thấp giọng, đầy vẻ nghiêm trọng: “Con gái thuộc hành Âm, nên khi ở trên đất này, họ dễ dàng 'hòa nhập' với khí của đất hơn, ít bị đất phản lại. Còn người nam, đặc biệt là những đứa trẻ trai mới sinh, sức đề kháng tâm linh còn yếu, rất dễ bị cái luồng sát khí này xâm nhập vào kinh mạch, dẫn đến đau ốm, yểu mệnh hoặc gặp chuyện chẳng lành.”

Thầy nhìn sang cậu Ba Nghĩa, rồi tiếp lời: “Nói cách khác, mảnh đất này đang bị 'Khuyết Dương'. Nó không muốn cho bất kỳ mầm mống dương khí nào phát triển mạnh mẽ trên lưng nó. Đó không hẳn là cái số, mà là cái họa từ địa thế mà ra. Nếu không tìm cách bổ khuyết dương khí hoặc hóa giải mạch âm, thì người nam trong dòng họ này khó lòng mà đứng vững được.”

Thầy nhìn thẳng vào ông Hội đồng, giọng nói giờ đây đanh thép, lạnh lùng: “Nhưng bấy nhiêu đó vẫn chưa phải là tất cả. Như tôi đã nói ban đầu, đây là một mảnh đất oan hồn. Nói cho đúng hơn, gia đình ông bà không biết vô tình hay hữu ý, đã để lại một mối oán hận cực lớn từ các đời trước, kéo dài dai dẳng cho đến tận bây giờ.”

Thầy dừng lại một nhịp, quan sát sắc mặt đang biến đổi của những người ngồi đó, rồi mới tiếp: “Hiện giờ, gia đình ông bà đang rơi vào thế 'Tam họa hội tụ'. Thứ nhất là cái oán hận của linh hồn bị khuất lấp trong đất này chưa được giải thoát, nói đâu xa xôi, những bộ xương người mới trồi lên ở mé bờ sông sau trận lở đất vừa rồi. Thứ hai là cái Thủy sát đại kỵ từ lòng sông đang gặm nhấm dần sinh khí. Và thứ ba là thế đất Khuyết Dương, không cho phép mầm mống đàn ông được nảy nở. Sự kết hợp này không còn là chuyện xui rủi bình thường nữa. Nó là một sự trừng phạt. Nếu không đối diện với cái oán hận năm xưa, thì dù có dời nhà đi nơi khác, cái họa 'sát nam' này vẫn sẽ đeo bám như hình với bóng, đời đời không dứt.”

Vừa nghe tới hai chữ “trừng phạt” và “oán hận đời trước”, ông Hội đồng đập mạnh tay xuống mặt bàn khiến chén dĩa trên bàn nảy lên, kêu loảng xoảng. Ông đứng phắt dậy, gương mặt đỏ gay vì giận dữ: “Láo! Thật là láo! Nãy giờ tôi để thầy nói về phong thuỷ, nhưng thầy lại nói đất này tổ tiên tôi để lại là đất oan hồn, rồi còn nói nhà tôi bị trừng phạt? Thầy dựa vào cái quyền gì mà dám nguyền rủa dòng họ này như vậy?”

Cậu Ba Nghĩa cũng bật dậy cùng lúc, ánh mắt cậu không còn vẻ trầm tư lúc nãy mà hừng hực sát khí. Cậu bước tới một bước, chỉ thẳng tay vào mặt thầy Bảy, giọng quát lên: “Ông thầy kia! Tôi nể thầy má tôi mời thầy về đây. Ai dè thầy chỉ là hạng thầy bói nói dựa, vô nhà người ta rồi đặt điều bôi nhọ tổ tiên người khác! Nhà này bao đời nay ruộng vườn thẳng cánh cò bay, làm gì có chuyện oán hận hay trừng phạt nào ở đây?”

Cậu Ba cười gằn, giọng cay nghiệt: “Hay là thầy thấy nhà tôi đang lúc có chuyện, rồi thầy bày đặt vẽ ra 'Tam họa', 'Tứ họa' để lừa gạt tiền bạc?”

Tiếng la mắng vang tận ra ngoài sân, khiến đám gia nhân bắt đầu xúm lại nhìn vào. Bà Hội đồng cuống cuồng đứng dậy, vừa run rẩy vừa cố can ngăn: “Ông à, thằng Ba.. bớt nóng, thầy Bảy chỉ nói những gì thầy thấy mà...”

“Bà im đi!” Ông Hội đồng quát ngang lời bà “Chính vì những lời nhảm nhí này mà nhà này mới loạn! Mời thầy đi cho! Nhà này không chứa hạng người vô lễ, dám bôi tro trát trấu vào mặt ông cha tôi như vậy!”

Giữa cơn bão giận dữ đó, thầy Bảy vẫn đứng bất động. Hai tay ông vẫn đặt trước bụng, đôi mắt khép hờ như chẳng hề nghe thấy những lời lăng mạ. Cái sự bình tĩnh đến lạnh lùng của ông dường như lại càng làm cho không khí trong gian nhà trở nên đáng sợ hơn bao giờ hết.

Đợi cho tiếng quát tháo của ông Hội và cậu Ba vừa dứt, thầy Bảy mới khẽ mở mắt. Ông không nhìn ông Hội đồng, mà xoay sang nhìn thẳng vào cậu Ba Nghĩa, giọng đều đều nhưng đanh lại: “Thưa ông bà, tôi đi thì không khó. Nhưng chỉ thương cho cậu đây…”

Cậu Ba Nghĩa đang định vung tay đuổi người thì bỗng khựng lại. Thầy Bảy hạ giọng: “Nhiều đêm trước, cứ đúng giờ Tý, có phải cậu thấy mình nằm trên giường mà như bị dìm dưới lòng sông sâu? Cậu thấy nước tràn vào tai, vào mắt, lạnh buốt thấu xương. Cậu muốn vùng dậy nhưng cả người nặng như đeo đá, chỉ thấy những bàn tay xanh xao gầy guộc từ gầm giường vươn lên, bóp chặt lấy cổ họng cậu…đúng không?”

Cậu Ba Nghĩa mặt cắt không còn giọt máu, lảo đảo lùi lại va sầm vào cạnh bàn. Cậu lắp bắp: "Sao... sao thầy biết?".

Bà Hội đồng thấy con mình như vậy thì hoảng loạn, quỳ sụp xuống ôm lấy chân ông Hội đồng: “Ông ơi! Thầy nói đúng rồi! Thằng Ba mấy đêm nay ngủ dậy cứ ho sặc sụa, người lạnh ngắt như người chết trôi. Tôi lạy ông, cho thầy ở lại cứu con mình!”

Cậu Ba cũng lắp bắp, giọng run rẩy: “Ba… thầy nói đúng về những giấc mơ của con…”

Đứng ngay cạnh đó, Mợ Cả Nhàng khẽ nhíu mày, ánh mắt lộ vẻ sắc lạnh. Mợ bước tới, đặt tay lên vai chồng, giọng ngọt xớt nhưng đầy ẩn ý: “Kìa cậu, đừng để mấy lời này làm ám ảnh. Có khi ông thầy đó đã cho người dò la tin tức nhà mình từ trước rồi vào đây diễn kịch thôi. Sao cậu lại tin mấy chuyện quỷ thần nước nôi nhảm nhí này?”

Cậu Ba Nghĩa gạt phắt tay vợ ra, gầm lên: “Cô thì biết cái gì! Cái cảm giác chết ngạt đó chỉ có cậu mới hiểu!”

Ông Hội đồng nhìn con trai, lại nhìn trời đã tối. Gió từ bờ sông thổi vào căn nhà làm những cánh cửa sổ gỗ đập vào nhau thình thình. Ông trầm ngâm một hồi, rồi hít một hơi thật sâu, giọng lạnh lùng:

“Được rồi! Đã vậy, tôi cho thầy ở lại đêm nay. Muốn bấm quẻ hay tìm mạch gì thì làm ngay tối nay đi. Nhưng ngày mai, thầy phải rời khỏi đây. Nhà tôi không có chỗ cho người lạ ở lâu.”

Thầy Bảy khẽ gật đầu: “Đa tạ ông Hội đồng.”

Bà Hội đồng sau khi bình tĩnh lại, khẽ vuốt lồng ngực cho xuôi cơn hoảng, giọng bà lúc này đã đổi khác, vừa dè chừng vừa thấp thỏm: “Vậy… chuyện này, theo ý thầy, tính sao cho phải? Chẳng lẽ cứ để vậy hoài?”

Thầy Bảy không trả lời liền. Ánh mắt ông lướt qua mâm cơm thịnh soạn đã dọn sẵn trên bàn, khói từ nồi canh chua cá lóc vẫn còn bốc lên nghi ngút, thơm nồng nhưng trong bầu không khí này, cái mùi vị ấy bỗng trở nên ngột ngạt. Ông khẽ buông một hơi thở dài, giọng trầm xuống: “Chuyện hệ trọng không thể nói trong một sớm một chiều. Trước hết, gia đình cứ dùng cơm đi đã. Thầy trò tôi xin phép đi vòng một lượt quanh đất này.”

Bà Hội đồng quay sang nhìn ông Hội đồng. Thấy ông vẫn ngồi im lìm như một pho tượng gỗ, bà mới quay lại khẽ khàng: “Thầy nói phải... Nhưng thầy với cậu Tám đây đi đường xa tới, cũng phải ăn miếng cơm cho ấm bụng cái đã.”

Bà quay ra phía cửa, cất giọng gọi: “Thằng Sửu đâu! Dẫn thầy với cậu đây xuống nhà sau dùng cơm. Rồi nhớ dọn dẹp chỗ ngủ cho tươm tất!”
 
Sửa lần cuối:

Chương 7: Lời cảnh báo (1)

Bữa cơm được dọn ở gian nhà sau, nơi ít ánh đèn nhất trong cả khu nhà. Một ngọn đèn dầu đặt sát vách, tim đèn thấp, lửa không bùng mà chỉ đủ soi ra mâm cơm và hai cái bóng ngồi đối diện nhau.

Thầy Bảy ăn một cách chậm rãi. Đũa chạm chén rất khẽ, gần như không phát ra tiếng. Mỗi lần đặt đũa xuống, thầy lại dừng một nhịp, như đang lắng nghe thứ gì đó ở bên ngoài. Thằng Tám thì ngồi hơi nghiêng người về phía cửa, vừa ăn vừa liếc ra ngoài sân.

Ăn được nửa chén, Tám đặt đũa xuống trước. Cậu lấy tay lau miệng, rồi kéo ghế lùi ra một chút, lưng không dựa hẳn vào thành ghế.

“Thầy ơi, con thấy nhà Hội đồng này lạ lắm....” Tám nói, giọng hạ thấp, như sợ có ai nghe thấy.

Thầy Bảy không ngẩng lên, chỉ khẽ gật đầu với Tám.

“Con thấy ông Hội đồng cứ đứng ngồi không yên...” Tám tiếp, mắt nhìn về phía gian trước. “Con còn thấy gân xanh trên mu bàn tay ổng cứ giật liên hồi mỗi lần nắm cây Baton"...

Tám dừng lại, nuốt nước bọt rồi cậu nói tiếp “Còn ông con của nhà này, lúc… con thấy mắt cậu ấy lâu lâu ánh màu đỏ, giống hệt ánh mắt của ông mặt có vết sẹo hồi sáng đi chung với bà Hội đồng qua nhà mình.”

Thầy Bảy lúc này mới đặt đũa xuống, đưa tay chậm rãi xoa mép bát. Thầy liếc nhìn Tám, rồi nói: “Giỏi lắm, con nhìn vậy là rất kỹ”. Rồi thầy nghiêng đầu một chút rồi hỏi thêm: “Còn mợ… con thấy sao hả Tám?”

Tám nghiêng đầu, nhíu mày. “Riêng mợ… con thấy khác lắm. Không giống ông bà Hội đồng với Cậu... Lạ lạ sao đó thầy” cậu nói chậm, như đang lục lại từng hình ảnh trong đầu.

Thầy Bảy mới hỏi thêm như gợi ý cho Tám: “Con có để ý cái vòng đeo của mợ không?”

Tám ngồi ráng nhớ lại. Cậu chống tay lên bàn, mắt nhìn chòng chành vào ngọn đèn dầu đang rung, tim đèn khẽ lép bép như sắp tắt. Một lúc sau, cậu gật đầu, nhưng lần này không còn mạnh như trước.

“Dạ… đúng rồi” Tám nói chậm, như sợ mình nhớ sai. “Thầy nhắc con mới thấy rõ. Viên đá đó… không giống mấy thứ trang sức con từng thấy. Khách tới nhà thầy cũng nhiều người giàu có, mà chỉ có viên đá đó... mỗi lần nhìn là con lại thấy rùng mình.”

Thầy Bảy khẽ khịt mũi, khóe môi nhúc nhích như muốn cười mà không thành. Thầy nói chậm, từng chữ rơi xuống rất nhẹ: “Thứ đó… không phải ai cũng nhìn ra được. Nhưng thầy có cảm giác, viên đá ấy có liên quan tới mảnh đất này. Từ nó toát ra uế khí rất giống với thứ mà thầy cảm nhận được khi tới đây.”

Tám im lặng một lúc, rồi ngẩng lên, giọng hạ thấp hơn cả lúc nãy. “Vậy… là cả nhà họ đều bị ảnh hưởng bởi mảnh đất này hả thầy?”

Thầy Bảy không trả lời liền. Thầy đưa chén canh lên, húp một ngụm nhỏ. Đặt chén xuống, thầy mới chậm rãi nói: “Đúng. Từ người nhà ông Hội đồng cho tới người làm trong nhà này… không ít thì nhiều, họ đều đã bị ảnh hưởng bởi uế khí”

Tám nuốt nước bọt. Cậu nhìn xuống mâm cơm, rồi lại ngẩng lên. “Vậy giờ… mình phải làm gì đây thầy?”

Thầy Bảy nói tiếp, giọng trầm xuống: “Có hai việc phải làm. Một là tìm hiểu cho rõ bí mật của mảnh đất này.” Thầy dừng một nhịp, rồi nói tiếp “Hai là chuyện hồn ma mà mấy người làm trong nhà từng thấy...”

Lời còn chưa dứt thì có tiếng bước chân ngoài cửa khiến hai thầy trò khựng lại. Cánh cửa gian nhà ăn mở ra, ánh đèn từ nhà chính hắt vào, trải một vệt sáng lên nền đất.

Bà Hội đồng bước vào trước. Theo sau là cậu Ba Nghĩa và mợ Nhàng. Bà đứng lại gần mâm cơm, nhìn mấy mâm cơm đã vơi gần hết, rồi mới ngẩng lên.

“Dạ... Thầy với cậu ăn xong chưa?” bà hỏi. Giọng bà không gấp gáp, nhưng câu hỏi vừa dứt đã nối liền ngay sau đó, “Vậy giờ chuyện nhà con… phải làm gì đây thầy?”

Thầy Bảy không đáp liền. Thầy đặt đũa xuống, đứng lên và nói lại những điều vừa nói với Tám: phải tìm hiểu cho rõ về mảnh đất này, và tìm hiểu chuyện hồn ma mà người làm trong nhà từng thấy, vì thứ đó vẫn còn quanh quẩn ở đây.

Bà Hội đồng nghe xong thì khẽ gật đầu, hai bàn tay siết chặt vào nhau. “Dạ… thầy muốn làm gì cũng được” bà nói.

Cậu Ba Nghĩa đứng phía sau, bỗng bước lên nửa bước. Cậu không nhìn thầy ngay, mắt lướt xuống nền đất rồi mới ngẩng lên. “Thầy…” giọng cậu khàn đi một chút, “…vậy sau khi làm xong, những giấc mơ của con… sẽ không còn nữa, phải không? Vì mỗi lần thức dậy, con cảm giác người không còn một chút sức lực nào...”

Thầy Bảy nhìn Ba Nghĩa. Thầy chỉ khẽ gật đầu như xác nhận lại với cậu Ba.

Mợ Nhàng đứng yên từ nãy giờ, nhưng rồi lại không nói gì. Mợ chỉ lặng lẽ bước theo chồng và mẹ chồng, ánh mắt kín đáo quan sát từng cử động của hai thầy trò, như muốn ghi nhớ cho thật kỹ.

Bà Hội đồng nhìn sang mợ Nhàng một thoáng, rồi quay lại phía thầy Bảy. “Dạ” bà nói tiếp, giọng chậm hơn, “ông nhà con nói là tối nay mệt, nên xin về phòng nghỉ trước. Phần con… con muốn giải quyết chuyện này cho xong, chứ để vậy trong nhà con thấy không yên tâm một tí nào.”

Thầy Bảy khẽ gật đầu. Thầy kéo ghế ngồi xuống lại, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên mặt bàn. “Nhưng trước khi tôi đi coi đất”, thầy nói, “tôi có chuyện muốn hỏi bà trước. Bà biết những gì về mảnh đất này?”

Bà Hội đồng nghe hỏi thì ngồi xuống, lưng thẳng nhưng hai vai hơi rũ. Ba Nghĩa cũng kéo ghế ngồi theo, mợ Nhàng ngồi sát bên, hai tay đặt gọn trong lòng, mắt nhìn chằm chằm về phía hai thầy trò.

Một lát sau, bà Hội đồng mới cất tiếng kể. “Dạ thưa thầy, mảnh đất này… là do ông nội của chồng con mua lại”. Khi nhắc tới người đã khuất, bàn tay bà vô thức siết nhẹ vào mép ghế. “Con nghe kể là hồi đó, đất còn hoang sơ, chung quanh chỉ có lau sậy với mấy gốc cây dại. Ông cụ chỉ cất một gian nhà chính để ở, trước sau cũng chỉ có bấy nhiêu đó.”

Bà ngừng lại một chút, mắt nhìn về phía gian nhà trước, nơi ánh đèn hắt qua khe cửa lay lay trên vách. “Tới đời ba của chồng con… lúc nhà cửa khá hơn, mới rào thêm vườn xung quanh, trồng trọt, nuôi trâu bò. Rồi cũng thời gian đó, bên kia đường mới dựng cái lò gạch. Ban đầu làm nhỏ, sau thấy ăn nên làm ra thì mở rộng dần.”

Bà Hội đồng cúi đầu, như đang lật lại từng lớp đất trong ký ức. “Hồi con mới về làm dâu, con chỉ nghe người lớn trong nhà nói là đất này vía nặng lắm, ở lâu thì hay mộng mị. Nhưng rồi ai cũng nghĩ là tại làm ăn cực khổ, ban ngày lo toan nhiều, ban đêm mới vậy… chứ... chứ không ai tìm hiểu.”

Thầy Bảy ngồi nghe bà Hội đồng từ đầu tới cuối không cắt lời. Đến khi bà dứt câu, thầy mới hỏi. “Còn chuyện cái lò gạch bị sạt lở xảy ra hồi nào? Lúc đó ra sao?”

Thầy quay đầu nhìn về phía con đường trước nhà rồi nói tiếp: “Hồi nãy khi thầy trò tôi mới tới, thấy bên đối diện đang xây một cái lò gạch mới, gần đó là một lò gạch bị sập nửa căn nhà. Có phải chỗ đó không?”

Cậu Ba Nghĩa chưa để bà Hội đồng kịp mở lời đã nhích lên nửa bước. Chiếc ghế phía sau cậu khẽ xê dịch. Cậu nói, giọng không lớn, nhưng liền mạch.

“Dạ thầy, bữa đó mấy thằng thợ bên lò gạch chạy vô báo” cậu nói, mắt nhìn xuống nền gạch trước mặt. “Tụi nó nói lò gạch bị sập do sạt lở đất, nước sông ăn sát vô bờ. Lúc lại gần thì thấy dưới đó có xương người.”

Cậu dừng lại một nhịp, rồi nói tiếp: “Nghe xong, cả nhà con chạy ra coi. Đúng là vậy, đất sụp xuống, lò gạch bị sập hết một nửa, nhiều bộ xương nằm lộ ra dưới chỗ bị sạc đó.”

Thầy Bảy ngước lên nhìn cậu Ba rồi hỏi tiếp: “Có tổng cộng bao nhiêu bộ xương, mà có ai đụng tay vô những bộ xương đó chưa?”.

Cậu Ba khựng lại, môi mím vào nhau, như đang đếm lại trong đầu. Bà Hội đồng lúc này mới lên tiếng.

“Dạ… là bảy bộ xương” bà nói. Nói xong, bàn tay bà nắm chặt lấy thành ghế. “Sau khi quan trên xuống, họ điều tra thì nói rằng đất này năm xưa từng là bãi chôn xác, nên có xương người là bình thường, lúc đó con kêu người đem mấy bộ xương đó ra chôn ngoài nghĩa địa làng. Ông nhà con lúc đầu không chịu, nói là chỉ cần lấp đất lại cho xong.”

Bà ngừng một nhịp, giọng hạ xuống. “Nhưng con nghĩ… trong đất nhà mình có xương người, để vậy sao đặng.”

Thầy Bảy gật nhẹ đầu, rồi hỏi tiếp: “Sau chuyện đó, trong nhà có gì khác thường nữa không?”

Bà Hội đồng ngồi yên một lúc. Hai bàn tay bà đặt chồng lên nhau trong lòng, các ngón tay khẽ co lại rồi buông ra. “Từ lúc đó, mấy đứa con nít trong nhà hay bệnh lặt vặt, hết đứa này tới đứa kia. Có khi mới ban ngày còn chạy chơi bình thường, tối về là người tụi nó nóng ran. Uống thuốc thì đỡ, nhưng qua bữa sau thì nó lại bệnh nữa”.

Bà nghiêng đầu, đưa tay chỉ về phía cậu Ba Nghĩa. “Còn thằng Ba… nó cứ nói là đêm nào cũng nằm mơ thấy bị chết đuối.”

Thầy Bảy gật đầu nhẹ, rồi quay lại hỏi bà Hội đồng. “Nhà ông bà, có mấy đứa nhỏ tất cả? Vì khi nãy, bà có nói là đi xem bói, thầy bói phán chỉ được sinh con gái?”

“Dạ, con có hai đứa cháu trai” bà đáp. “Đứa thì cứ cảm sốt, mỗi lần bệnh là ban ngày hay bên đêm đều ngủ mê man. Có đứa nửa đêm ngồi bật dậy, ú ớ kêu ‘mẹ về, mẹ về’ hoài.”

Thầy Bảy ngước lên nhìn mợ Nhàng. “Mẹ về? Không phải hai đứa đều là con của mợ sao?”

Mợ Nhàng lắc đầu, hai bàn tay đan vào nhau chặt hơn một chút. “Dạ không thầy” mợ nói, mắt vẫn nhìn xuống mặt bàn. “Chỉ có một đứa là con của con.”

Thầy Bảy không hỏi liền. Thầy nhìn mợ thêm một nhịp, rồi mới nói: “Còn đứa kia?”

Mợ Nhàng hít vào một hơi ngắn. “Dạ… là con của mợ Sinh.”

Thầy Bảy ngẩng đầu hỏi “Mợ Sinh?”

Cậu Ba Nghĩa lên tiếng thay, giọng bật ra nhanh hơn.“Con nhỏ khốn nạn đó…”

Nghe cậu Ba nghĩa nói với thái độ nổi giận, Tám khẽ giật mình, cậu quay sang nhìn thầy Bảy theo phản xạ, rồi lại liếc về phía cậu Ba, mắt mở lớn hơn một chút. Thầy Bảy cũng nhìn chằm chằm vào cậu Ba lâu hơn thường lệ, như không ngờ cơn bộc phát ấy lại bật ra vào lúc này.

Hàm cậu Ba siết chặt. Bàn tay đặt trên mặt bàn vô thức co lại rồi buông ra, đầu ngón tay cọ xuống mặt gỗ nghe khô và gắt. Ánh mắt cậu thoáng đỏ lên, nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt, cậu nói tiếp, giọng đã khàn và cứng hơn: “Nó đã bỏ nhà đi sau khi bị phát hiện ngoại tình, ngay trong chính căn nhà này.”

Thầy Bảy hỏi tiếp: “Bỏ đi à? Vậy mợ Sinh đó đã bỏ đi vào lúc nào?”

“Dạ thưa thầy… là ngay đúng ngày lò gạch bị sập đó.” Mợ Nhàng chen vào như nói thay chồng của mình.

Cậu Ba thì dựa hẳn lưng vào ghế. Mắt cậu dán xuống nền gạch, hàm vẫn nghiến chặt, như không muốn nhắc thêm một chữ nào nữa.

Một lát sau, thầy Bảy mới khoát tay “Thôi, chuyện đó để sau, xin lỗi Cậu vì đã nhắc lại chuyện không vui, dù sao tôi đã nắm được một phần chuyện trong gia đình rồi. Như tôi đã nói, gia đình ông bà Hội đồng hiện đang ở thế Tam họa hội tụ, nên cần phải tìm cách giải quyết sớm trước khi mọi chuyện quá muộn.”

Thầy nhìn lần lượt từng người một, rồi nói tiếp: “Bây giờ, chúng ta sẽ tìm cho ra hồn ma kia, nó xuất hiện từ đâu. Sau đó, sẽ tìm hiểu chuyện bí mật của mảnh đất này, có thể tôi sẽ gặp ông Hội đồng để thưa chuyện.”

Thầy nói xong thì đưa tay vào trong túi áo, chậm rãi lấy ra một vật được bọc bằng mảnh vải nâu đã sờn mép. Thầy mở lớp vải ra, để lộ một cái la bàn bát quái nhỏ, mặt đồng đã ngả màu, viền khắc những nét chạm cũ kỹ, ở giữa là kim nam châm mảnh, đầu kim hơi sậm hơn phần còn lại.

Tám nghiêng người nhìn, mắt không rời khỏi cái la bàn. “Thầy… cái này con chưa thấy thầy dùng bao giờ” cậu nói, giọng tò mò nhưng vẫn giữ thấp. “Nó… hoạt động sao vậy thầy?”

Thầy Bảy đặt la bàn lên lòng bàn tay, đầu ngón tay khẽ giữ cho kim đứng yên. Thầy nhìn lướt qua mặt đồng đã ngả màu, rồi mới nói, giọng thấp hẳn xuống: “Cái này gọi là Truy Hồn Bàn. Không phải lúc nào cũng dùng được. Chỉ khi nào cần tìm một linh hồn mà chưa rõ danh tính”.

Thầy khẽ xoay người, đưa mặt la bàn về phía gian trước. Hai ngón tay giữ nhẹ mép la bàn, thầy hạ giọng, đọc chậm rãi: “Âm dương vị định, linh khí hồi quy. Huyết cốt hữu chủ, oan hồn hiển hình. Truy nguyên phản hướng, chỉ lộ chân phương.”

Tiếng đọc vừa dứt, kim la bàn bỗng rung nhẹ, xoay chậm một vòng rồi khựng lại, mũi kim chệch hẳn sang bên trái.

“Đi theo hướng này” thầy nói, rồi bắt đầu di chuyển.

Thầy men theo lối sân, bước chậm rãi quanh khoảng đất phía sau nhà. Truy Hồn Bàn nằm gọn trong lòng bàn tay thầy, mỗi lần thầy đổi hướng, kim lại khẽ rung lên rồi ngập ngừng, như đang dò dẫm đường đi.

Việc một ông lão cùng một thiếu niên lạ mặt đi vòng vòng trong sân, lại có bà Hội đồng cùng cậu Ba, mợ Nhàng đi theo sát phía sau, mấy người làm bắt đầu ngó nghiêng vì tò mò. Từ hiên bếp, từ góc sân, vài cái đầu ló ra nhìn. Có người đang cầm chổi thì quên quét sân, có người đặt dở thùng nước xuống đất, đứng khựng lại, mắt dán theo từng bước chân của nhóm thầy Bảy.

Thằng Mạnh cũng len ra sau đám người. Hắn đi chậm hơn, giữ một khoảng cách vừa đủ, nhưng ánh mắt thì không rời khỏi cái la bàn trong tay thầy. Mỗi lần kim rung mạnh, vai nó lại khẽ nhích lên, rồi đứng im, như sợ phát ra tiếng động.

Cả nhà lẫn người làm dần dần tụ lại phía sau thầy. Khi tới gần nhà kho phía sau, kim la bàn bỗng rung mạnh hơn, đầu kim lắc qua lắc lại rồi đứng sững.

Thầy Bảy dừng lại. “Theo Truy Hồn Bàn, thì linh hồn đó… xuất phát từ chỗ này.”

Bà Hội đồng khẽ hít vào một hơi. “Nhà kho này… là chỗ trước kia…”

Cậu Ba Nghĩa lên tiếng: “Là chỗ thằng câm chết.”

Thầy Bảy quay sang nhìn cậu. “Tên câm?”

Cậu Ba đưa tay lau nhanh mồ hôi trên trán. “Dạ… hồi đó con bắt gặp con Sinh gian díu với nó. Hai đứa còn trộm tiền vàng trong nhà. Con tức quá nên bắt nhốt nó vô đây.”

Thằng Tám khẽ nghiêng đầu hỏi. “Rồi… sao nữa cậu?”.

Cậu Ba nhìn Tám rồi đáp: “Nó chống cự. Nên cậu đã giết nó”.

Thầy Bảy quay sang bà Hội đồng. “Bà Hội đồng, còn mợ Sinh lúc đó ra sao?”

Bà Hội đồng đáp, giọng nhỏ đi. “Dạ… lúc đó nhà con cũng nhốt nó trong nhà kho này, định sáng hôm sau sẽ báo quan. Nhưng nửa đêm nó đã trốn mất.”

Thầy Bảy gật đầu rồi nói: “Và sáng hôm sau…”

Bà Hội đồng nói tiếp, không cần thầy hỏi thêm. “Dạ, là lúc đám thợ gạch phát hiện xương người ở dưới đất”.

Thầy Bảy đứng yên một lúc, mắt vẫn nhìn vào cánh cửa nhà kho tối om trước mặt. Thầy đưa tay khẽ vuốt dọc theo viền Truy Hồn Bàn, như đang cân nhắc điều gì đó.

“Vậy thì…cái hồn ma mà mọi người từng thấy, rất có thể là của người đàn ông câm đó, vì oan khuất mà lảng vảng ở đây”.

Cậu Ba Nghĩa lập tức quay phắt lại. “Oan khuất gì nữa thầy?” cậu Ba nói nhanh, giọng bật ra gắt gỏng. “Chính nó là kẻ đã gian díu với vợ con. Tiền vàng trong nhà cũng do tụi nó lấy!”

Thầy Bảy nghiêng đầu nhìn cậu Ba. “Cậu từ từ đã, có những chuyện, người sống thấy vậy, nhưng người chết thì lại không.”

Cậu Ba hít mạnh một hơi, bàn tay nắm chặt rồi lại buông ra. “Nó chết là đáng” cậu nói, nhưng mắt không nhìn thầy Bảy nữa.

Thầy Bảy không đáp cậu Ba ngay. Ông quay sang bà Hội đồng. “Xin hỏi bà Hội đồng, xác của người đó… hiện giờ ở đâu?”

Bà Hội đồng khẽ giật mình. Bà đưa tay sửa lại vạt áo trước ngực, rồi đáp chậm rãi. “Dạ… sau khi quan trên xuống điều tra, con đã cho người đem chôn ngoài nghĩa địa của làng.”

Thầy hỏi tiếp: “Vậy lúc đó, nhà bà có làm lễ gì không?”

Bà Hội đồng ngẩn người ra. Bà mở miệng như định nói, rồi lại lắc đầu. “Dạ… không. Khi ấy ai cũng rối, chỉ lo làm lẹ cho xong chuyện.”

Thầy Bảy khẽ gật đầu rồi giải thích cho bà Hội đồng: “Một người lạ chết trong nhà mình nếu không làm lễ tiễn, thì dù xác có chôn ở đâu, hồn của người đó vẫn quanh quẩn ở chỗ mà người đó chết."

Từng ánh mắt, từ người trong nhà tới mấy kẻ đứng nép ở rìa sân, đều chậm rãi dồn về phía cánh cửa nhà kho tối om. Có người nuốt khan, có người vô thức kéo sát áo vào người, như thể gió đêm bỗng lạnh hơn lúc nãy. Từ trong kho, cánh cửa gỗ cũ khẽ rung lên một cái, không mạnh, chỉ đủ để bản lề kêu cọt kẹt. Gió đêm lùa qua khoảng sân trống, cuốn theo mùi ẩm mốc ngai ngái, khiến mấy người làm đứng gần đó bất giác khựng lại, chân không ai bảo ai đều lùi nửa bước.

Thầy Bảy tiếp: "Được rồi, để tôi thử gọi hồn của người đó. Phải nghe trực tiếp, mới biết anh ta còn vướng bận điều gì, mà còn lảng vảng ở đây.”

Nghe tới đó, thằng Mạnh đứng phía sau khẽ lùi lại một bước. Bàn tay nó vô thức bám vào vách, mặt tái đi thấy rõ.

Mợ Nhàng quay sang nhìn thầy, giọng dè dặt. “Dạ… gọi hồn được hả thầy? Từ trước tới giờ con chưa từng nghe ai gọi hồn người chết cả.”

Thầy Bảy nhìn mợ, ánh mắt bình thản. “Không phải lần đầu tôi làm chuyện này” thầy nói. “Mợ cứ yên tâm.”

Rồi thầy quay sang bà Hội đồng. “Bà Hội đồng cho người chuẩn bị giúp tôi một tô cơm trắng, một con gà luộc, năm quả trứng gà, và một bó nhang."

Bà Hội đồng nghe vậy liền gật đầu lia lịa, vội vàng gọi đám người làm chuẩn bị.

Một lúc sau, lễ vật được mang ra đầy đủ, bày lên một chiếc bàn nhỏ đặt ngay trước cửa nhà kho. Ánh đèn dầu hắt xuống, soi rõ mâm lễ nằm im lìm giữa khoảng sân tối.

Thầy Bảy đứng lặng một nhịp trước mâm lễ, rồi quay đầu nhìn quanh. Ánh mắt thầy lướt qua từng gương mặt đang đứng rải rác trong sân, dừng lại ở mấy người làm đang nấp nửa người sau cột hiên.

“Mọi người lui hết ra phía sau tôi”. Thầy nói, giọng không lớn nhưng dứt khoát. “Và nhớ là đứng xa ra, đừng có chen lại gần và đừng lớn tiếng khi tôi làm lễ”.

Có tiếng dép kéo lẹt xẹt. Mấy người làm nhìn nhau, rồi vội lùi lại, người núp sau gốc cây, kẻ ép sát vào vách. Thằng Mạnh đứng chần chừ một chút, định nói gì đó, nhưng thấy ánh mắt thầy Bảy liếc qua, nó liền im bặt, bước lùi về phía sau đám người.

Thầy Bảy quay sang, ánh mắt sắc lạnh nhìn Tám. “Tám, con mau lại đây.”

Tám nuốt khan, cổ họng khô khốc. Cậu rụt rè bước tới trước mâm lễ, đôi chân như đeo chì. Vừa quỳ xuống, cái lạnh từ nền đất thấm qua lớp quần mỏng, truyền thẳng vào xương tủy khiến cậu rùng mình. Theo lời thầy dặn, cậu đặt hai tay lên đùi, cố giữ cho nhịp thở bớt run rẩy.

“Nhắm mắt lại! Con nhớ ngồi cho vững, tâm phải tịnh.”

Tám vội làm theo, lưng gượng gạo thẳng lên nhưng đôi vai vẫn cứng đờ vì căng thẳng. Hơi thở cậu lúc đầu dồn dập, sau rồi cũng chậm dần, chìm vào khoảng không tĩnh mịch.

Thầy Bảy rút ba nén nhang, châm lửa rồi cắm phập vào bát hương. Khói nhang không bay lên cao mà cuộn lại, bò lan là đà trên mặt đất như những con rắn trắng mờ ảo. Thầy bước ra sau lưng Tám, đặt bàn tay khô gầy lên đỉnh đầu cậu.

Đôi mắt thầy khép hờ, môi mấp máy, giọng tụng chú trầm đục vang lên, đều đều: “Thanh tâm định ý… Linh thần nhập thể…”

Vừa đọc, bàn tay thầy vừa vuốt dọc từ đỉnh đầu Tám xuống sống lưng, rồi dừng lại, ấn mạnh một cái vào huyệt giữa hai bả vai. Tám giật nảy người, sống lưng lạnh toát như có luồng khí băng giá vừa chui tọt vào cơ thể. Cậu rùng mình dữ dội, lưng căng cứng rồi lịm dần đi, buông thõng.

Đám người làm đứng co cụm phía sau bắt đầu xì xào, mặt ai nấy tái mét. “Ê… mày thấy không? Khói nhang… sao nó bay ngược vào trong người cậu Tám vậy?” “Suỵt! Im coi!” người bên cạnh cấu mạnh vào tay áo gã, giọng run rẩy. “Để thầy làm phép.”

Bà Hội đồng đứng cách đó không xa, hai bàn tay chắp trước ngực siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón. Bà đứng chôn chân một chỗ, ánh mắt trân trân dán chặt vào thằng Tám, vừa sợ hãi vừa mong ngóng. Mỗi nhịp thầy Bảy ấn tay xuống, bà lại nín thở, lồng ngực phập phồng đứt quãng.

Sát bên bà, mợ Nhàng không chắp tay khấn vái. Mợ đứng đó, hai tay bấu chặt lấy vạt áo lụa trước bụng, vò nát một góc vải. Đôi mắt mợ dán chặt vào gương mặt thằng Tám, nhưng cứ hễ tiếng chú của thầy Bảy ngân lên cao vút, mợ lại giật thột, lén lút liếc nhìn về phía cánh cửa nhà kho đen ngòm sau lưng, rồi lại vội vã quay đi như sợ ai bắt gặp.

Thầy Bảy dứt câu chú, thu tay về. Ông đặt hai ngón tay lên mạch cổ tay Tám, cảm nhận nhịp đập loạn xạ bên dưới lớp da, rồi khẽ ra lệnh: “Được rồi. Tám, con đừng nhúc nhích.”

Tám không đáp, chỉ khẽ gật đầu một cái cứng nhắc, đôi mắt vẫn nhắm nghiền.

Cả khoảng sân chìm vào im lặng chết chóc. Không ai dám thở mạnh. Chỉ còn tiếng gió đêm rít qua khe mái tôn, và làn khói nhang ngày một dày đặc, lẩn khuất, trườn dần về phía cánh cửa nhà kho đang khép hờ.

Bất thình lình, gió trong sân nổi lên, thốc ngược một luồng lạnh buốt sống lưng. Những tàn nhang đỏ rực bị gió bốc đi, vẽ thành những vệt sáng ma quái. Khói nhang bị xé toạc, quấn quýt lấy chân bàn lễ như muốn níu giữ thứ gì đó.

Thầy Bảy nín thở, ánh mắt sắc như dao nhìn trừng trừng vào cánh cửa nhà kho. Trong mắt thầy, từ khoảng tối đặc quánh phía sau cánh cửa ấy, một bóng người đàn ông chập choạng bước ra. Thân hình hắn gầy quắt queo, cái đầu ngoẹo sang một bên đầy đau đớn. Trên trán, ngay chính giữa ấn đường, một lỗ thủng đen ngòm, sâu hoắm hằn rõ. Mép vết thương khô khốc, xám ngoét.

Cái bóng ấy lết từng bước nặng nề về phía mâm lễ, bàn chân không chạm đất mà lướt đi, kéo theo một vệt khí lạnh rợn người. Khi tới gần, hắn cúi rạp xuống, hít lấy hít để làn khói hương đang cuộn lên.

Cùng lúc đó, trên bàn lễ xảy ra chuyện lạ. Đám người làm bỗng ồ lên kinh hãi. “Trời đất ơi… nhìn tô cơm kìa!” Bà Hội đồng sững sờ, định bước tới nhưng đôi chân bủn rủn khụyu xuống một nửa. “Mô Phật… chuyện gì đây…”

Tô cơm trắng đầy đặn trên bàn bỗng chốc xỉn màu, từ trắng tinh chuyển sang xám tro, khô khốc như đã nấu từ mấy ngày trước. Con gà luộc da vàng óng kế bên cũng tức thì tái nhợt, teo tóp lại.

Thầy Bảy chưa kịp lên tiếng thì hồn ma người đàn ông kia đã quay phắt sang Tám. Hắn nghiêng cái đầu gãy, nhìn chằm chằm vào thân xác đang quỳ bất động, rồi đột ngột lao tới, nhập thẳng vào người cậu.

Tám giật bắn người như bị điện giật. Lưng cậu cong gập lại, hai tay co quắp giật mạnh về phía trước. Từ cổ họng cậu bật ra một tiếng “hự” nghẹn ứ, rồi đôi mắt vụt mở trừng trừng.

“Hồn ma kia! Ngươi còn vướng bận chuyện gì mà chưa chịu siêu thoát?” Thầy Bảy quát lớn, tay ấn chặt vai Tám để giữ cậu lại. “Có oan khuất gì, mau mượn xác này mà nói ra!”

Tám không trả lời. Miệng cậu há hốc, ú ớ trong cổ họng những âm thanh vô nghĩa, hai tay vung lên loạn xạ, cào cấu vào không trung.

Thầy Bảy khựng lại một nhịp, vỗ mạnh vào trán: “Phải rồi… vong hồn này khi sống vốn là kẻ câm! Mình thật già rồi nên lẩm cẩm.”

Tám thở dốc ồ ồ, lồng ngực phập phồng dữ dội. Ánh mắt cậu dại đi, đảo loạn khắp sân tìm kiếm. Bất chợt, ánh mắt ấy dừng lại, xoáy thẳng vào mặt thằng Mạnh. “Ú… ú… ớ…” Tám rít lên qua kẽ răng, cánh tay run lẩy bẩy chỉ thẳng mặt gã.

Mạnh tái mặt, cắt không còn giọt máu. “Không… không phải tao…” Hắn lắp bắp, lùi lại liên tiếp, lưng va mạnh vào vách gỗ, tay quờ quạng bấu chặt lấy cột hiên để không ngã quỵ.

Nhưng Tám không dừng lại. Cậu quay phắt sang mợ Nhàng. Ánh mắt vằn đỏ, đầy oán khí chạm thẳng vào mắt mợ.

Mợ Nhàng trừng mắt, đồng tử co rút lại vì kinh hoàng, nhưng rồi rất nhanh mợ quay mặt đi, hai tay siết vạt áo đến mức móng tay bấm vào da thịt đau điếng. “Trời ơi…” mợ thở hắt ra, giọng lạc đi, nghẹn lại ở cổ họng.

Như bị ai dội một gáo nước lạnh buốt, Tám co rúm người lại, hai tay ôm chặt lấy ngực trái, vẻ mặt đau đớn tột cùng. Rồi cậu lại vùng vẫy ngẩng lên, ngón tay khẳng khiu chỉ thẳng về phía cái giếng cũ nằm lọt thỏm trong góc tối của sân vườn, miệng ú ớ gào lên dữ dội hơn, nghe như tiếng thú bị thương.

“Cái… giếng? Cậu Tám sao lại chỉ về cái giếng?” Bà Hội đồng run rẩy hỏi.

Thầy Bảy vừa quay đầu nhìn theo hướng tay Tám chỉ thì thân người cậu bỗng mềm nhũn, đổ sụp xuống đất. Thầy nhanh tay đỡ lấy, đặt cậu nằm nghiêng để khỏi nuốt lưỡi.

Trên mâm lễ, ba nén nhang đã cháy rụi xuống tận chân, chỉ còn lại tàn tro lạnh ngắt. “Hết giờ rồi” thầy nói khẽ, giọng đầy tiếc nuối. “Phép nhập hồn này chỉ giữ được trong một tuần nhang thôi.”

“Vậy… vậy giờ sao hả thầy?” Bà Hội đồng quỳ sụp xuống mà than vãn “Nó chết rồi mà sao vẫn còn quanh quẩn ám ảnh nhà con vậy…”

Thầy Bảy nheo mắt nhìn về phía cái giếng đen ngòm. “Không sao. Tôi sẽ còn quay lại giải quyết chuyện của vong hồn này.” Ông quay sang bà, ánh mắt nghiêm nghị: “Mà bà Hội đồng, cái giếng đó rốt cuộc là sao?”

“Dạ… giếng đó có từ đời ba của chồng con” bà lắp bắp, giọng run như cầy sấy. “Giếng này lạ lắm thầy, nước múc lên không bao giờ trong, lâu lâu còn bốc mùi hôi thối nồng nặc. Con hỏi ông nhà thì ổng gạt đi, bảo chắc trúng mạch nước ngầm bị ô uế…”

“Nếu không dùng thì sao không lấp lại, mà chỉ đậy bằng tảng đá sơ sài thế kia?”

“Dạ… tại mấy đứa nhỏ hay chạy nhảy” bà phân bua. “Thằng Ba nhà con sợ tụi nó té nên mới sai người lấy đá chèn lên…”

Bất chợt, ba chân nhang đã tàn lạnh trên bát hương bỗng bùng cháy phừng phực. Ngọn lửa xanh lét liếm trọn phần chân gỗ khô.

“Chuyện gì nữa đây…” Thầy Bảy lùi lại, sắc mặt biến đổi.

Từ mặt đất ẩm thấp quanh mâm lễ, những bóng đen mờ ảo, nhớp nhúa lần lượt trồi lên như nấm mọc sau mưa. Những hình người méo mó, chân tay dài ngoằng, da dẻ xám xịt lở loét, miệng há to đen ngòm lẩm bẩm những tiếng rên rỉ rợn người: “Đói… đói quá…” “Lạnh quá… bao nhiêu năm rồi…”

Thầy Bảy chộp vội lấy tô cơm trên bàn, hất mạnh ra bốn phía sân. “Lũ ngạ quỷ phương nào?”

Cơm văng tung tóe xuống đất. Những hạt cơm vừa chạm nền gạch đã lập tức chuyển màu đen kịt, mốc meo, rồi từ bên trong lúc nhúc bò ra những con dòi trắng hếu. Con gà luộc trên mâm cũng rã thịt ra từng mảng, xám ngoét, bốc mùi hôi thối nồng nặc.

Đám bóng ma gầy guộc chồm tới, cúi rạp xuống đất, tranh nhau vơ vét những nắm cơm mốc thếch, tiếng nhai nuốt nhồm nhoàm vang lên lạo xạo giữa sân vắng.

Một lát sau, những âm thanh là lạ quanh mâm lễ bỗng dứt hẳn, như thể chưa từng vang lên. Khoảng sân chìm vào yên lặng, chỉ còn lại mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ chỗ cơm và thịt đã rã nát trên nền gạch.

Một người làm đứng gần đó nhìn xuống đất, thấy dòi bọ lúc nhúc bò ra từ những nắm cơm đen kịt, chân bủn rủn không đứng vững nữa. Hắn ú ớ một tiếng, rồi quay đầu bỏ chạy thục mạng về phía nhà sau, dép văng lại giữa sân.

Bà Hội đồng rụng rời tay chân, quỳ mọp xuống đất, hai tay chắp lại vái lấy vái để, miệng lẩm nhẩm không thành tiếng: “Nam mô… nam mô cứu khổ cứu nạn…”

Cậu Ba Nghĩa đứng chôn chân giữa sân, tròng mắt mở to hết cỡ nhìn vào mâm lễ. Phải mất một lúc lâu, cậu mới rứt được cái nhìn kinh hoàng ấy ra để quay sang thầy Bảy. Giọng cậu khàn đặc “Thầy… chuyện… chuyện hồi nãy là sao? Con thấy rõ ràng cơm với gà đang tươi, tự nhiên thối rữa, dòi bọ ở đâu bò ra lúc nhúc…” Cậu đưa tay bụm miệng, cổ họng ợ lên một tiếng khan vì mùi hôi thối nồng nặc đang xộc thẳng vào mũi.

Thầy Bảy chưa vội trả lời. Ông đứng thẳng dậy, phủi tay, giọng trầm hơn: “Những gì cậu thấy… chỉ là kết quả thôi.”

Cậu Ba cau mày, mồ hôi rịn trên trán: “Kết quả? Của cái gì?”

Thầy Bảy liếc mắt nhìn quanh sân một lượt. Đám gia nhân đã dạt hết về phía vách tường, rúc vào nhau như bầy gà con gặp diều hâu, không ai dám bén mảng tới gần vùng đất quanh mâm lễ. “Là oán khí” thầy đáp gọn lỏn. “Của hàng vạn vong hồn đói khát đang vất vưởng trên mảnh đất này.”

Thầy quay phắt sang bà Hội đồng, ánh mắt sắc lẹm mà hỏi “Xin hỏi bà Hội đồng, đã bao nhiêu năm rồi, cái nhà này chưa cúng thí thực? Chưa cúng cô hồn tháng bảy?”

Bà Hội đồng cúi gằm mặt. Bà không dám nhìn thẳng vào mắt thầy, bàn tay chắp trước ngực run lên bần bật, các ngón tay xoắn chặt vào nhau đến trắng bệch. Một lúc lâu sau, bà mới khẽ lắc đầu, tiếng thở dài nặng trĩu nỗi sợ hãi.

Thầy Bảy chép miệng, lắc đầu ngán ngẩm. “Như tôi đã nói, đây là vùng đất âm hồn. Dưới lớp đất này… không biết đang chôn vùi bao nhiêu oan hận…”

Bà Hội đồng ngước lên, đôi mắt ầng ậng nước, giọng bà vỡ vụn: “Vậy giờ… giờ phải làm sao hả thầy? Thầy làm ơn cứu nhà con với. Tốn bao nhiêu tiền con cũng lo được, miễn là yên chuyện…”

Thầy Bảy xua tay, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhẹ. “Thưa bà, gia đình cứ lo cho thầy trò tôi chỗ ăn chỗ ngủ đàng hoàng là được.”

Thầy dừng lại một nhịp, ánh mắt trở nên xa xăm, nghiêm nghị: “Tôi ra tay không phải chỉ vì cái mạng của nhà ông bà. Mà vì cả vùng này. Nếu đám oan hồn dưới kia mà thoát ra, thì không chỉ nhà Hội đồng, mà cả cái làng này cũng đừng hòng sống yên ổn.”

Nói đoạn, thầy bước nhanh lại chỗ Tám. Ông quỳ một chân xuống, đặt bàn tay chai sạn lên trán cậu học trò. Trán Tám lạnh toát như tảng đá ngâm nước, mồ hôi nhớt nhát rịn ra đầy mặt.

Thầy nghiêng đầu, ghé sát tai Tám, miệng lẩm nhẩm những câu chú ngắn, dứt khoát. Bàn tay trên trán ấn mạnh một cái vào ấn đường rồi buông ra.

Tám rùng mình một cái thật mạnh, toàn thân giật nảy lên như tôm tươi mắc cạn. Cổ họng cậu phát ra tiếng “khò” đục ngầu. Lồng ngực phập phồng kịch liệt, cố hớp lấy không khí. Hai mí mắt cậu rung rung, nặng trĩu, mãi mới hé mở được.

Ánh nhìn của Tám dại đi, lạc lõng đảo một vòng quanh sân, dừng lại ở đống mâm lễ đang bốc mùi, rồi mới định thần nhìn thấy thầy Bảy. “Ủa…” Tám thều thào, giọng khàn đặc, tay sờ soạng lên mặt, lên cổ như để chắc chắn mình còn sống, “…con… con vừa làm gì vậy thầy? Sao người con đau nhức dữ vậy?”

Thầy Bảy vỗ nhẹ vào vai cậu, ánh mắt ánh lên vẻ xót xa. “Giỏi lắm Tám, lát thầy sẽ kể cho con nghe.”

Ông đứng dậy, phủi nhẹ bụi bám ở gấu quần. Ánh mắt ông chậm rãi nhấc lên, dừng lại ở khoảng sân tối mịt phía trước, nơi cái giếng nằm im lìm. Không nói thêm lời nào, thầy Bảy bước về phía cái giếng.

Bà Hội đồng, cậu Ba và mợ Nhàng lục đục bước theo sau lưng thầy, dáng đi rụt rè, e ngại. Đám gia nhân thì dứt khoát đứng chôn chân tại chỗ, có cho vàng cũng không dám bước thêm nửa bước.

Riêng Mạnh, khi thấy cả nhóm rẽ hướng về phía cái giếng, mặt hắn cắt không còn giọt máu. Hắn nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc. Hắn lén lút quay sang nhìn mợ Nhàng, ánh mắt van xin, cầu cứu đầy thảm hại.

Mợ Nhàng bắt gặp ánh mắt ấy. Mợ không nói gì, chỉ khẽ nhếch mép cười, rồi gật đầu một cái rất nhẹ, kín đáo đến mức chỉ có hai người biết. Cái gật đầu như muốn nói: “Cứ bình tĩnh.”

Nhưng sự trấn an ấy chẳng làm Mạnh bớt run. Trong đầu hắn, những ý nghĩ đen tối cứ xoắn chặt lấy nhau như dây thừng thắt cổ. Chính hắn… chính hắn là kẻ đã tung tin mợ Sinh bỏ trốn. Chính hắn là người đã lấp liếm những gì diễn ra đêm hôm đó. Nếu tảng đá kia bị dời đi… nếu bí mật dưới đáy giếng bị phơi bày ra ánh sáng… Mạnh rùng mình, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Hắn biết, nếu chuyện vỡ lở, hắn sẽ là kẻ đầu tiên phải đền mạng.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
Harukukenly,
Trả lời
345
Lượt xem
35.238
Quay lại
Lên đầu trang