Chương 7: Lời cảnh báo (1)
Bữa cơm được dọn ở gian nhà sau, nơi ít ánh đèn nhất trong cả khu nhà. Một ngọn đèn dầu đặt sát vách, tim đèn thấp, lửa không bùng mà chỉ đủ soi ra mâm cơm và hai cái bóng ngồi đối diện nhau.
Thầy Bảy ăn một cách chậm rãi. Đũa chạm chén rất khẽ, gần như không phát ra tiếng. Mỗi lần đặt đũa xuống, thầy lại dừng một nhịp, như đang lắng nghe thứ gì đó ở bên ngoài. Thằng Tám thì ngồi hơi nghiêng người về phía cửa, vừa ăn vừa liếc ra ngoài sân.
Ăn được nửa chén, Tám đặt đũa xuống trước. Cậu lấy tay lau miệng, rồi kéo ghế lùi ra một chút, lưng không dựa hẳn vào thành ghế.
“Thầy ơi, con thấy nhà Hội đồng này lạ lắm....” Tám nói, giọng hạ thấp, như sợ có ai nghe thấy.
Thầy Bảy không ngẩng lên, chỉ khẽ gật đầu với Tám.
“Con thấy ông Hội đồng cứ đứng ngồi không yên...” Tám tiếp, mắt nhìn về phía gian trước. “Con còn thấy gân xanh trên mu bàn tay ổng cứ giật liên hồi mỗi lần nắm cây Baton"...
Tám dừng lại, nuốt nước bọt rồi cậu nói tiếp “Còn ông con của nhà này, lúc… con thấy mắt cậu ấy lâu lâu ánh màu đỏ, giống hệt ánh mắt của ông mặt có vết sẹo hồi sáng đi chung với bà Hội đồng qua nhà mình.”
Thầy Bảy lúc này mới đặt đũa xuống, đưa tay chậm rãi xoa mép bát. Thầy liếc nhìn Tám, rồi nói: “Giỏi lắm, con nhìn vậy là rất kỹ”. Rồi thầy nghiêng đầu một chút rồi hỏi thêm: “Còn mợ… con thấy sao hả Tám?”
Tám nghiêng đầu, nhíu mày. “Riêng mợ… con thấy khác lắm. Không giống ông bà Hội đồng với Cậu... Lạ lạ sao đó thầy” cậu nói chậm, như đang lục lại từng hình ảnh trong đầu.
Thầy Bảy mới hỏi thêm như gợi ý cho Tám: “Con có để ý cái vòng đeo của mợ không?”
Tám ngồi ráng nhớ lại. Cậu chống tay lên bàn, mắt nhìn chòng chành vào ngọn đèn dầu đang rung, tim đèn khẽ lép bép như sắp tắt. Một lúc sau, cậu gật đầu, nhưng lần này không còn mạnh như trước.
“Dạ… đúng rồi” Tám nói chậm, như sợ mình nhớ sai. “Thầy nhắc con mới thấy rõ. Viên đá đó… không giống mấy thứ trang sức con từng thấy. Khách tới nhà thầy cũng nhiều người giàu có, mà chỉ có viên đá đó... mỗi lần nhìn là con lại thấy rùng mình.”
Thầy Bảy khẽ khịt mũi, khóe môi nhúc nhích như muốn cười mà không thành. Thầy nói chậm, từng chữ rơi xuống rất nhẹ: “Thứ đó… không phải ai cũng nhìn ra được. Nhưng thầy có cảm giác, viên đá ấy có liên quan tới mảnh đất này. Từ nó toát ra uế khí rất giống với thứ mà thầy cảm nhận được khi tới đây.”
Tám im lặng một lúc, rồi ngẩng lên, giọng hạ thấp hơn cả lúc nãy. “Vậy… là cả nhà họ đều bị ảnh hưởng bởi mảnh đất này hả thầy?”
Thầy Bảy không trả lời liền. Thầy đưa chén canh lên, húp một ngụm nhỏ. Đặt chén xuống, thầy mới chậm rãi nói: “Đúng. Từ người nhà ông Hội đồng cho tới người làm trong nhà này… không ít thì nhiều, họ đều đã bị ảnh hưởng bởi uế khí”
Tám nuốt nước bọt. Cậu nhìn xuống mâm cơm, rồi lại ngẩng lên. “Vậy giờ… mình phải làm gì đây thầy?”
Thầy Bảy nói tiếp, giọng trầm xuống: “Có hai việc phải làm. Một là tìm hiểu cho rõ bí mật của mảnh đất này.” Thầy dừng một nhịp, rồi nói tiếp “Hai là chuyện hồn ma mà mấy người làm trong nhà từng thấy...”
Lời còn chưa dứt thì có tiếng bước chân ngoài cửa khiến hai thầy trò khựng lại. Cánh cửa gian nhà ăn mở ra, ánh đèn từ nhà chính hắt vào, trải một vệt sáng lên nền đất.
Bà Hội đồng bước vào trước. Theo sau là cậu Ba Nghĩa và mợ Nhàng. Bà đứng lại gần mâm cơm, nhìn mấy mâm cơm đã vơi gần hết, rồi mới ngẩng lên.
“Dạ... Thầy với cậu ăn xong chưa?” bà hỏi. Giọng bà không gấp gáp, nhưng câu hỏi vừa dứt đã nối liền ngay sau đó, “Vậy giờ chuyện nhà con… phải làm gì đây thầy?”
Thầy Bảy không đáp liền. Thầy đặt đũa xuống, đứng lên và nói lại những điều vừa nói với Tám: phải tìm hiểu cho rõ về mảnh đất này, và tìm hiểu chuyện hồn ma mà người làm trong nhà từng thấy, vì thứ đó vẫn còn quanh quẩn ở đây.
Bà Hội đồng nghe xong thì khẽ gật đầu, hai bàn tay siết chặt vào nhau. “Dạ… thầy muốn làm gì cũng được” bà nói.
Cậu Ba Nghĩa đứng phía sau, bỗng bước lên nửa bước. Cậu không nhìn thầy ngay, mắt lướt xuống nền đất rồi mới ngẩng lên. “Thầy…” giọng cậu khàn đi một chút, “…vậy sau khi làm xong, những giấc mơ của con… sẽ không còn nữa, phải không? Vì mỗi lần thức dậy, con cảm giác người không còn một chút sức lực nào...”
Thầy Bảy nhìn Ba Nghĩa. Thầy chỉ khẽ gật đầu như xác nhận lại với cậu Ba.
Mợ Nhàng đứng yên từ nãy giờ, nhưng rồi lại không nói gì. Mợ chỉ lặng lẽ bước theo chồng và mẹ chồng, ánh mắt kín đáo quan sát từng cử động của hai thầy trò, như muốn ghi nhớ cho thật kỹ.
Bà Hội đồng nhìn sang mợ Nhàng một thoáng, rồi quay lại phía thầy Bảy. “Dạ” bà nói tiếp, giọng chậm hơn, “ông nhà con nói là tối nay mệt, nên xin về phòng nghỉ trước. Phần con… con muốn giải quyết chuyện này cho xong, chứ để vậy trong nhà con thấy không yên tâm một tí nào.”
Thầy Bảy khẽ gật đầu. Thầy kéo ghế ngồi xuống lại, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên mặt bàn. “Nhưng trước khi tôi đi coi đất”, thầy nói, “tôi có chuyện muốn hỏi bà trước. Bà biết những gì về mảnh đất này?”
Bà Hội đồng nghe hỏi thì ngồi xuống, lưng thẳng nhưng hai vai hơi rũ. Ba Nghĩa cũng kéo ghế ngồi theo, mợ Nhàng ngồi sát bên, hai tay đặt gọn trong lòng, mắt nhìn chằm chằm về phía hai thầy trò.
Một lát sau, bà Hội đồng mới cất tiếng kể. “Dạ thưa thầy, mảnh đất này… là do ông nội của chồng con mua lại”. Khi nhắc tới người đã khuất, bàn tay bà vô thức siết nhẹ vào mép ghế. “Con nghe kể là hồi đó, đất còn hoang sơ, chung quanh chỉ có lau sậy với mấy gốc cây dại. Ông cụ chỉ cất một gian nhà chính để ở, trước sau cũng chỉ có bấy nhiêu đó.”
Bà ngừng lại một chút, mắt nhìn về phía gian nhà trước, nơi ánh đèn hắt qua khe cửa lay lay trên vách. “Tới đời ba của chồng con… lúc nhà cửa khá hơn, mới rào thêm vườn xung quanh, trồng trọt, nuôi trâu bò. Rồi cũng thời gian đó, bên kia đường mới dựng cái lò gạch. Ban đầu làm nhỏ, sau thấy ăn nên làm ra thì mở rộng dần.”
Bà Hội đồng cúi đầu, như đang lật lại từng lớp đất trong ký ức. “Hồi con mới về làm dâu, con chỉ nghe người lớn trong nhà nói là đất này vía nặng lắm, ở lâu thì hay mộng mị. Nhưng rồi ai cũng nghĩ là tại làm ăn cực khổ, ban ngày lo toan nhiều, ban đêm mới vậy… chứ... chứ không ai tìm hiểu.”
Thầy Bảy ngồi nghe bà Hội đồng từ đầu tới cuối không cắt lời. Đến khi bà dứt câu, thầy mới hỏi. “Còn chuyện cái lò gạch bị sạt lở xảy ra hồi nào? Lúc đó ra sao?”
Thầy quay đầu nhìn về phía con đường trước nhà rồi nói tiếp: “Hồi nãy khi thầy trò tôi mới tới, thấy bên đối diện đang xây một cái lò gạch mới, gần đó là một lò gạch bị sập nửa căn nhà. Có phải chỗ đó không?”
Cậu Ba Nghĩa chưa để bà Hội đồng kịp mở lời đã nhích lên nửa bước. Chiếc ghế phía sau cậu khẽ xê dịch. Cậu nói, giọng không lớn, nhưng liền mạch.
“Dạ thầy, bữa đó mấy thằng thợ bên lò gạch chạy vô báo” cậu nói, mắt nhìn xuống nền gạch trước mặt. “Tụi nó nói lò gạch bị sập do sạt lở đất, nước sông ăn sát vô bờ. Lúc lại gần thì thấy dưới đó có xương người.”
Cậu dừng lại một nhịp, rồi nói tiếp: “Nghe xong, cả nhà con chạy ra coi. Đúng là vậy, đất sụp xuống, lò gạch bị sập hết một nửa, nhiều bộ xương nằm lộ ra dưới chỗ bị sạc đó.”
Thầy Bảy ngước lên nhìn cậu Ba rồi hỏi tiếp: “Có tổng cộng bao nhiêu bộ xương, mà có ai đụng tay vô những bộ xương đó chưa?”.
Cậu Ba khựng lại, môi mím vào nhau, như đang đếm lại trong đầu. Bà Hội đồng lúc này mới lên tiếng.
“Dạ… là bảy bộ xương” bà nói. Nói xong, bàn tay bà nắm chặt lấy thành ghế. “Sau khi quan trên xuống, họ điều tra thì nói rằng đất này năm xưa từng là bãi chôn xác, nên có xương người là bình thường, lúc đó con kêu người đem mấy bộ xương đó ra chôn ngoài nghĩa địa làng. Ông nhà con lúc đầu không chịu, nói là chỉ cần lấp đất lại cho xong.”
Bà ngừng một nhịp, giọng hạ xuống. “Nhưng con nghĩ… trong đất nhà mình có xương người, để vậy sao đặng.”
Thầy Bảy gật nhẹ đầu, rồi hỏi tiếp: “Sau chuyện đó, trong nhà có gì khác thường nữa không?”
Bà Hội đồng ngồi yên một lúc. Hai bàn tay bà đặt chồng lên nhau trong lòng, các ngón tay khẽ co lại rồi buông ra. “Từ lúc đó, mấy đứa con nít trong nhà hay bệnh lặt vặt, hết đứa này tới đứa kia. Có khi mới ban ngày còn chạy chơi bình thường, tối về là người tụi nó nóng ran. Uống thuốc thì đỡ, nhưng qua bữa sau thì nó lại bệnh nữa”.
Bà nghiêng đầu, đưa tay chỉ về phía cậu Ba Nghĩa. “Còn thằng Ba… nó cứ nói là đêm nào cũng nằm mơ thấy bị chết đuối.”
Thầy Bảy gật đầu nhẹ, rồi quay lại hỏi bà Hội đồng. “Nhà ông bà, có mấy đứa nhỏ tất cả? Vì khi nãy, bà có nói là đi xem bói, thầy bói phán chỉ được sinh con gái?”
“Dạ, con có hai đứa cháu trai” bà đáp. “Đứa thì cứ cảm sốt, mỗi lần bệnh là ban ngày hay bên đêm đều ngủ mê man. Có đứa nửa đêm ngồi bật dậy, ú ớ kêu ‘mẹ về, mẹ về’ hoài.”
Thầy Bảy ngước lên nhìn mợ Nhàng. “Mẹ về? Không phải hai đứa đều là con của mợ sao?”
Mợ Nhàng lắc đầu, hai bàn tay đan vào nhau chặt hơn một chút. “Dạ không thầy” mợ nói, mắt vẫn nhìn xuống mặt bàn. “Chỉ có một đứa là con của con.”
Thầy Bảy không hỏi liền. Thầy nhìn mợ thêm một nhịp, rồi mới nói: “Còn đứa kia?”
Mợ Nhàng hít vào một hơi ngắn. “Dạ… là con của mợ Sinh.”
Thầy Bảy ngẩng đầu hỏi “Mợ Sinh?”
Cậu Ba Nghĩa lên tiếng thay, giọng bật ra nhanh hơn.“Con nhỏ khốn nạn đó…”
Nghe cậu Ba nghĩa nói với thái độ nổi giận, Tám khẽ giật mình, cậu quay sang nhìn thầy Bảy theo phản xạ, rồi lại liếc về phía cậu Ba, mắt mở lớn hơn một chút. Thầy Bảy cũng nhìn chằm chằm vào cậu Ba lâu hơn thường lệ, như không ngờ cơn bộc phát ấy lại bật ra vào lúc này.
Hàm cậu Ba siết chặt. Bàn tay đặt trên mặt bàn vô thức co lại rồi buông ra, đầu ngón tay cọ xuống mặt gỗ nghe khô và gắt. Ánh mắt cậu thoáng đỏ lên, nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt, cậu nói tiếp, giọng đã khàn và cứng hơn: “Nó đã bỏ nhà đi sau khi bị phát hiện ngoại tình, ngay trong chính căn nhà này.”
Thầy Bảy hỏi tiếp: “Bỏ đi à? Vậy mợ Sinh đó đã bỏ đi vào lúc nào?”
“Dạ thưa thầy… là ngay đúng ngày lò gạch bị sập đó.” Mợ Nhàng chen vào như nói thay chồng của mình.
Cậu Ba thì dựa hẳn lưng vào ghế. Mắt cậu dán xuống nền gạch, hàm vẫn nghiến chặt, như không muốn nhắc thêm một chữ nào nữa.
Một lát sau, thầy Bảy mới khoát tay “Thôi, chuyện đó để sau, xin lỗi Cậu vì đã nhắc lại chuyện không vui, dù sao tôi đã nắm được một phần chuyện trong gia đình rồi. Như tôi đã nói, gia đình ông bà Hội đồng hiện đang ở thế Tam họa hội tụ, nên cần phải tìm cách giải quyết sớm trước khi mọi chuyện quá muộn.”
Thầy nhìn lần lượt từng người một, rồi nói tiếp: “Bây giờ, chúng ta sẽ tìm cho ra hồn ma kia, nó xuất hiện từ đâu. Sau đó, sẽ tìm hiểu chuyện bí mật của mảnh đất này, có thể tôi sẽ gặp ông Hội đồng để thưa chuyện.”
Thầy nói xong thì đưa tay vào trong túi áo, chậm rãi lấy ra một vật được bọc bằng mảnh vải nâu đã sờn mép. Thầy mở lớp vải ra, để lộ một cái la bàn bát quái nhỏ, mặt đồng đã ngả màu, viền khắc những nét chạm cũ kỹ, ở giữa là kim nam châm mảnh, đầu kim hơi sậm hơn phần còn lại.
Tám nghiêng người nhìn, mắt không rời khỏi cái la bàn. “Thầy… cái này con chưa thấy thầy dùng bao giờ” cậu nói, giọng tò mò nhưng vẫn giữ thấp. “Nó… hoạt động sao vậy thầy?”
Thầy Bảy đặt la bàn lên lòng bàn tay, đầu ngón tay khẽ giữ cho kim đứng yên. Thầy nhìn lướt qua mặt đồng đã ngả màu, rồi mới nói, giọng thấp hẳn xuống: “Cái này gọi là Truy Hồn Bàn. Không phải lúc nào cũng dùng được. Chỉ khi nào cần tìm một linh hồn mà chưa rõ danh tính”.
Thầy khẽ xoay người, đưa mặt la bàn về phía gian trước. Hai ngón tay giữ nhẹ mép la bàn, thầy hạ giọng, đọc chậm rãi: “Âm dương vị định, linh khí hồi quy. Huyết cốt hữu chủ, oan hồn hiển hình. Truy nguyên phản hướng, chỉ lộ chân phương.”
Tiếng đọc vừa dứt, kim la bàn bỗng rung nhẹ, xoay chậm một vòng rồi khựng lại, mũi kim chệch hẳn sang bên trái.
“Đi theo hướng này” thầy nói, rồi bắt đầu di chuyển.
Thầy men theo lối sân, bước chậm rãi quanh khoảng đất phía sau nhà. Truy Hồn Bàn nằm gọn trong lòng bàn tay thầy, mỗi lần thầy đổi hướng, kim lại khẽ rung lên rồi ngập ngừng, như đang dò dẫm đường đi.
Việc một ông lão cùng một thiếu niên lạ mặt đi vòng vòng trong sân, lại có bà Hội đồng cùng cậu Ba, mợ Nhàng đi theo sát phía sau, mấy người làm bắt đầu ngó nghiêng vì tò mò. Từ hiên bếp, từ góc sân, vài cái đầu ló ra nhìn. Có người đang cầm chổi thì quên quét sân, có người đặt dở thùng nước xuống đất, đứng khựng lại, mắt dán theo từng bước chân của nhóm thầy Bảy.
Thằng Mạnh cũng len ra sau đám người. Hắn đi chậm hơn, giữ một khoảng cách vừa đủ, nhưng ánh mắt thì không rời khỏi cái la bàn trong tay thầy. Mỗi lần kim rung mạnh, vai nó lại khẽ nhích lên, rồi đứng im, như sợ phát ra tiếng động.
Cả nhà lẫn người làm dần dần tụ lại phía sau thầy. Khi tới gần nhà kho phía sau, kim la bàn bỗng rung mạnh hơn, đầu kim lắc qua lắc lại rồi đứng sững.
Thầy Bảy dừng lại. “Theo Truy Hồn Bàn, thì linh hồn đó… xuất phát từ chỗ này.”
Bà Hội đồng khẽ hít vào một hơi. “Nhà kho này… là chỗ trước kia…”
Cậu Ba Nghĩa lên tiếng: “Là chỗ thằng câm chết.”
Thầy Bảy quay sang nhìn cậu. “Tên câm?”
Cậu Ba đưa tay lau nhanh mồ hôi trên trán. “Dạ… hồi đó con bắt gặp con Sinh gian díu với nó. Hai đứa còn trộm tiền vàng trong nhà. Con tức quá nên bắt nhốt nó vô đây.”
Thằng Tám khẽ nghiêng đầu hỏi. “Rồi… sao nữa cậu?”.
Cậu Ba nhìn Tám rồi đáp: “Nó chống cự. Nên cậu đã giết nó”.
Thầy Bảy quay sang bà Hội đồng. “Bà Hội đồng, còn mợ Sinh lúc đó ra sao?”
Bà Hội đồng đáp, giọng nhỏ đi. “Dạ… lúc đó nhà con cũng nhốt nó trong nhà kho này, định sáng hôm sau sẽ báo quan. Nhưng nửa đêm nó đã trốn mất.”
Thầy Bảy gật đầu rồi nói: “Và sáng hôm sau…”
Bà Hội đồng nói tiếp, không cần thầy hỏi thêm. “Dạ, là lúc đám thợ gạch phát hiện xương người ở dưới đất”.
Thầy Bảy đứng yên một lúc, mắt vẫn nhìn vào cánh cửa nhà kho tối om trước mặt. Thầy đưa tay khẽ vuốt dọc theo viền Truy Hồn Bàn, như đang cân nhắc điều gì đó.
“Vậy thì…cái hồn ma mà mọi người từng thấy, rất có thể là của người đàn ông câm đó, vì oan khuất mà lảng vảng ở đây”.
Cậu Ba Nghĩa lập tức quay phắt lại. “Oan khuất gì nữa thầy?” cậu Ba nói nhanh, giọng bật ra gắt gỏng. “Chính nó là kẻ đã gian díu với vợ con. Tiền vàng trong nhà cũng do tụi nó lấy!”
Thầy Bảy nghiêng đầu nhìn cậu Ba. “Cậu từ từ đã, có những chuyện, người sống thấy vậy, nhưng người chết thì lại không.”
Cậu Ba hít mạnh một hơi, bàn tay nắm chặt rồi lại buông ra. “Nó chết là đáng” cậu nói, nhưng mắt không nhìn thầy Bảy nữa.
Thầy Bảy không đáp cậu Ba ngay. Ông quay sang bà Hội đồng. “Xin hỏi bà Hội đồng, xác của người đó… hiện giờ ở đâu?”
Bà Hội đồng khẽ giật mình. Bà đưa tay sửa lại vạt áo trước ngực, rồi đáp chậm rãi. “Dạ… sau khi quan trên xuống điều tra, con đã cho người đem chôn ngoài nghĩa địa của làng.”
Thầy hỏi tiếp: “Vậy lúc đó, nhà bà có làm lễ gì không?”
Bà Hội đồng ngẩn người ra. Bà mở miệng như định nói, rồi lại lắc đầu. “Dạ… không. Khi ấy ai cũng rối, chỉ lo làm lẹ cho xong chuyện.”
Thầy Bảy khẽ gật đầu rồi giải thích cho bà Hội đồng: “Một người lạ chết trong nhà mình nếu không làm lễ tiễn, thì dù xác có chôn ở đâu, hồn của người đó vẫn quanh quẩn ở chỗ mà người đó chết."
Từng ánh mắt, từ người trong nhà tới mấy kẻ đứng nép ở rìa sân, đều chậm rãi dồn về phía cánh cửa nhà kho tối om. Có người nuốt khan, có người vô thức kéo sát áo vào người, như thể gió đêm bỗng lạnh hơn lúc nãy. Từ trong kho, cánh cửa gỗ cũ khẽ rung lên một cái, không mạnh, chỉ đủ để bản lề kêu cọt kẹt. Gió đêm lùa qua khoảng sân trống, cuốn theo mùi ẩm mốc ngai ngái, khiến mấy người làm đứng gần đó bất giác khựng lại, chân không ai bảo ai đều lùi nửa bước.
Thầy Bảy tiếp: "Được rồi, để tôi thử gọi hồn của người đó. Phải nghe trực tiếp, mới biết anh ta còn vướng bận điều gì, mà còn lảng vảng ở đây.”
Nghe tới đó, thằng Mạnh đứng phía sau khẽ lùi lại một bước. Bàn tay nó vô thức bám vào vách, mặt tái đi thấy rõ.
Mợ Nhàng quay sang nhìn thầy, giọng dè dặt. “Dạ… gọi hồn được hả thầy? Từ trước tới giờ con chưa từng nghe ai gọi hồn người chết cả.”
Thầy Bảy nhìn mợ, ánh mắt bình thản. “Không phải lần đầu tôi làm chuyện này” thầy nói. “Mợ cứ yên tâm.”
Rồi thầy quay sang bà Hội đồng. “Bà Hội đồng cho người chuẩn bị giúp tôi một tô cơm trắng, một con gà luộc, năm quả trứng gà, và một bó nhang."
Bà Hội đồng nghe vậy liền gật đầu lia lịa, vội vàng gọi đám người làm chuẩn bị.
Một lúc sau, lễ vật được mang ra đầy đủ, bày lên một chiếc bàn nhỏ đặt ngay trước cửa nhà kho. Ánh đèn dầu hắt xuống, soi rõ mâm lễ nằm im lìm giữa khoảng sân tối.
Thầy Bảy đứng lặng một nhịp trước mâm lễ, rồi quay đầu nhìn quanh. Ánh mắt thầy lướt qua từng gương mặt đang đứng rải rác trong sân, dừng lại ở mấy người làm đang nấp nửa người sau cột hiên.
“Mọi người lui hết ra phía sau tôi”. Thầy nói, giọng không lớn nhưng dứt khoát. “Và nhớ là đứng xa ra, đừng có chen lại gần và đừng lớn tiếng khi tôi làm lễ”.
Có tiếng dép kéo lẹt xẹt. Mấy người làm nhìn nhau, rồi vội lùi lại, người núp sau gốc cây, kẻ ép sát vào vách. Thằng Mạnh đứng chần chừ một chút, định nói gì đó, nhưng thấy ánh mắt thầy Bảy liếc qua, nó liền im bặt, bước lùi về phía sau đám người.
Thầy Bảy quay sang, ánh mắt sắc lạnh nhìn Tám. “Tám, con mau lại đây.”
Tám nuốt khan, cổ họng khô khốc. Cậu rụt rè bước tới trước mâm lễ, đôi chân như đeo chì. Vừa quỳ xuống, cái lạnh từ nền đất thấm qua lớp quần mỏng, truyền thẳng vào xương tủy khiến cậu rùng mình. Theo lời thầy dặn, cậu đặt hai tay lên đùi, cố giữ cho nhịp thở bớt run rẩy.
“Nhắm mắt lại! Con nhớ ngồi cho vững, tâm phải tịnh.”
Tám vội làm theo, lưng gượng gạo thẳng lên nhưng đôi vai vẫn cứng đờ vì căng thẳng. Hơi thở cậu lúc đầu dồn dập, sau rồi cũng chậm dần, chìm vào khoảng không tĩnh mịch.
Thầy Bảy rút ba nén nhang, châm lửa rồi cắm phập vào bát hương. Khói nhang không bay lên cao mà cuộn lại, bò lan là đà trên mặt đất như những con rắn trắng mờ ảo. Thầy bước ra sau lưng Tám, đặt bàn tay khô gầy lên đỉnh đầu cậu.
Đôi mắt thầy khép hờ, môi mấp máy, giọng tụng chú trầm đục vang lên, đều đều: “Thanh tâm định ý… Linh thần nhập thể…”
Vừa đọc, bàn tay thầy vừa vuốt dọc từ đỉnh đầu Tám xuống sống lưng, rồi dừng lại, ấn mạnh một cái vào huyệt giữa hai bả vai. Tám giật nảy người, sống lưng lạnh toát như có luồng khí băng giá vừa chui tọt vào cơ thể. Cậu rùng mình dữ dội, lưng căng cứng rồi lịm dần đi, buông thõng.
Đám người làm đứng co cụm phía sau bắt đầu xì xào, mặt ai nấy tái mét. “Ê… mày thấy không? Khói nhang… sao nó bay ngược vào trong người cậu Tám vậy?” “Suỵt! Im coi!” người bên cạnh cấu mạnh vào tay áo gã, giọng run rẩy. “Để thầy làm phép.”
Bà Hội đồng đứng cách đó không xa, hai bàn tay chắp trước ngực siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón. Bà đứng chôn chân một chỗ, ánh mắt trân trân dán chặt vào thằng Tám, vừa sợ hãi vừa mong ngóng. Mỗi nhịp thầy Bảy ấn tay xuống, bà lại nín thở, lồng ngực phập phồng đứt quãng.
Sát bên bà, mợ Nhàng không chắp tay khấn vái. Mợ đứng đó, hai tay bấu chặt lấy vạt áo lụa trước bụng, vò nát một góc vải. Đôi mắt mợ dán chặt vào gương mặt thằng Tám, nhưng cứ hễ tiếng chú của thầy Bảy ngân lên cao vút, mợ lại giật thột, lén lút liếc nhìn về phía cánh cửa nhà kho đen ngòm sau lưng, rồi lại vội vã quay đi như sợ ai bắt gặp.
Thầy Bảy dứt câu chú, thu tay về. Ông đặt hai ngón tay lên mạch cổ tay Tám, cảm nhận nhịp đập loạn xạ bên dưới lớp da, rồi khẽ ra lệnh: “Được rồi. Tám, con đừng nhúc nhích.”
Tám không đáp, chỉ khẽ gật đầu một cái cứng nhắc, đôi mắt vẫn nhắm nghiền.
Cả khoảng sân chìm vào im lặng chết chóc. Không ai dám thở mạnh. Chỉ còn tiếng gió đêm rít qua khe mái tôn, và làn khói nhang ngày một dày đặc, lẩn khuất, trườn dần về phía cánh cửa nhà kho đang khép hờ.
Bất thình lình, gió trong sân nổi lên, thốc ngược một luồng lạnh buốt sống lưng. Những tàn nhang đỏ rực bị gió bốc đi, vẽ thành những vệt sáng ma quái. Khói nhang bị xé toạc, quấn quýt lấy chân bàn lễ như muốn níu giữ thứ gì đó.
Thầy Bảy nín thở, ánh mắt sắc như dao nhìn trừng trừng vào cánh cửa nhà kho. Trong mắt thầy, từ khoảng tối đặc quánh phía sau cánh cửa ấy, một bóng người đàn ông chập choạng bước ra. Thân hình hắn gầy quắt queo, cái đầu ngoẹo sang một bên đầy đau đớn. Trên trán, ngay chính giữa ấn đường, một lỗ thủng đen ngòm, sâu hoắm hằn rõ. Mép vết thương khô khốc, xám ngoét.
Cái bóng ấy lết từng bước nặng nề về phía mâm lễ, bàn chân không chạm đất mà lướt đi, kéo theo một vệt khí lạnh rợn người. Khi tới gần, hắn cúi rạp xuống, hít lấy hít để làn khói hương đang cuộn lên.
Cùng lúc đó, trên bàn lễ xảy ra chuyện lạ. Đám người làm bỗng ồ lên kinh hãi. “Trời đất ơi… nhìn tô cơm kìa!” Bà Hội đồng sững sờ, định bước tới nhưng đôi chân bủn rủn khụyu xuống một nửa. “Mô Phật… chuyện gì đây…”
Tô cơm trắng đầy đặn trên bàn bỗng chốc xỉn màu, từ trắng tinh chuyển sang xám tro, khô khốc như đã nấu từ mấy ngày trước. Con gà luộc da vàng óng kế bên cũng tức thì tái nhợt, teo tóp lại.
Thầy Bảy chưa kịp lên tiếng thì hồn ma người đàn ông kia đã quay phắt sang Tám. Hắn nghiêng cái đầu gãy, nhìn chằm chằm vào thân xác đang quỳ bất động, rồi đột ngột lao tới, nhập thẳng vào người cậu.
Tám giật bắn người như bị điện giật. Lưng cậu cong gập lại, hai tay co quắp giật mạnh về phía trước. Từ cổ họng cậu bật ra một tiếng “hự” nghẹn ứ, rồi đôi mắt vụt mở trừng trừng.
“Hồn ma kia! Ngươi còn vướng bận chuyện gì mà chưa chịu siêu thoát?” Thầy Bảy quát lớn, tay ấn chặt vai Tám để giữ cậu lại. “Có oan khuất gì, mau mượn xác này mà nói ra!”
Tám không trả lời. Miệng cậu há hốc, ú ớ trong cổ họng những âm thanh vô nghĩa, hai tay vung lên loạn xạ, cào cấu vào không trung.
Thầy Bảy khựng lại một nhịp, vỗ mạnh vào trán: “Phải rồi… vong hồn này khi sống vốn là kẻ câm! Mình thật già rồi nên lẩm cẩm.”
Tám thở dốc ồ ồ, lồng ngực phập phồng dữ dội. Ánh mắt cậu dại đi, đảo loạn khắp sân tìm kiếm. Bất chợt, ánh mắt ấy dừng lại, xoáy thẳng vào mặt thằng Mạnh. “Ú… ú… ớ…” Tám rít lên qua kẽ răng, cánh tay run lẩy bẩy chỉ thẳng mặt gã.
Mạnh tái mặt, cắt không còn giọt máu. “Không… không phải tao…” Hắn lắp bắp, lùi lại liên tiếp, lưng va mạnh vào vách gỗ, tay quờ quạng bấu chặt lấy cột hiên để không ngã quỵ.
Nhưng Tám không dừng lại. Cậu quay phắt sang mợ Nhàng. Ánh mắt vằn đỏ, đầy oán khí chạm thẳng vào mắt mợ.
Mợ Nhàng trừng mắt, đồng tử co rút lại vì kinh hoàng, nhưng rồi rất nhanh mợ quay mặt đi, hai tay siết vạt áo đến mức móng tay bấm vào da thịt đau điếng. “Trời ơi…” mợ thở hắt ra, giọng lạc đi, nghẹn lại ở cổ họng.
Như bị ai dội một gáo nước lạnh buốt, Tám co rúm người lại, hai tay ôm chặt lấy ngực trái, vẻ mặt đau đớn tột cùng. Rồi cậu lại vùng vẫy ngẩng lên, ngón tay khẳng khiu chỉ thẳng về phía cái giếng cũ nằm lọt thỏm trong góc tối của sân vườn, miệng ú ớ gào lên dữ dội hơn, nghe như tiếng thú bị thương.
“Cái… giếng? Cậu Tám sao lại chỉ về cái giếng?” Bà Hội đồng run rẩy hỏi.
Thầy Bảy vừa quay đầu nhìn theo hướng tay Tám chỉ thì thân người cậu bỗng mềm nhũn, đổ sụp xuống đất. Thầy nhanh tay đỡ lấy, đặt cậu nằm nghiêng để khỏi nuốt lưỡi.
Trên mâm lễ, ba nén nhang đã cháy rụi xuống tận chân, chỉ còn lại tàn tro lạnh ngắt. “Hết giờ rồi” thầy nói khẽ, giọng đầy tiếc nuối. “Phép nhập hồn này chỉ giữ được trong một tuần nhang thôi.”
“Vậy… vậy giờ sao hả thầy?” Bà Hội đồng quỳ sụp xuống mà than vãn “Nó chết rồi mà sao vẫn còn quanh quẩn ám ảnh nhà con vậy…”
Thầy Bảy nheo mắt nhìn về phía cái giếng đen ngòm. “Không sao. Tôi sẽ còn quay lại giải quyết chuyện của vong hồn này.” Ông quay sang bà, ánh mắt nghiêm nghị: “Mà bà Hội đồng, cái giếng đó rốt cuộc là sao?”
“Dạ… giếng đó có từ đời ba của chồng con” bà lắp bắp, giọng run như cầy sấy. “Giếng này lạ lắm thầy, nước múc lên không bao giờ trong, lâu lâu còn bốc mùi hôi thối nồng nặc. Con hỏi ông nhà thì ổng gạt đi, bảo chắc trúng mạch nước ngầm bị ô uế…”
“Nếu không dùng thì sao không lấp lại, mà chỉ đậy bằng tảng đá sơ sài thế kia?”
“Dạ… tại mấy đứa nhỏ hay chạy nhảy” bà phân bua. “Thằng Ba nhà con sợ tụi nó té nên mới sai người lấy đá chèn lên…”
Bất chợt, ba chân nhang đã tàn lạnh trên bát hương bỗng bùng cháy phừng phực. Ngọn lửa xanh lét liếm trọn phần chân gỗ khô.
“Chuyện gì nữa đây…” Thầy Bảy lùi lại, sắc mặt biến đổi.
Từ mặt đất ẩm thấp quanh mâm lễ, những bóng đen mờ ảo, nhớp nhúa lần lượt trồi lên như nấm mọc sau mưa. Những hình người méo mó, chân tay dài ngoằng, da dẻ xám xịt lở loét, miệng há to đen ngòm lẩm bẩm những tiếng rên rỉ rợn người: “Đói… đói quá…” “Lạnh quá… bao nhiêu năm rồi…”
Thầy Bảy chộp vội lấy tô cơm trên bàn, hất mạnh ra bốn phía sân. “Lũ ngạ quỷ phương nào?”
Cơm văng tung tóe xuống đất. Những hạt cơm vừa chạm nền gạch đã lập tức chuyển màu đen kịt, mốc meo, rồi từ bên trong lúc nhúc bò ra những con dòi trắng hếu. Con gà luộc trên mâm cũng rã thịt ra từng mảng, xám ngoét, bốc mùi hôi thối nồng nặc.
Đám bóng ma gầy guộc chồm tới, cúi rạp xuống đất, tranh nhau vơ vét những nắm cơm mốc thếch, tiếng nhai nuốt nhồm nhoàm vang lên lạo xạo giữa sân vắng.
Một lát sau, những âm thanh là lạ quanh mâm lễ bỗng dứt hẳn, như thể chưa từng vang lên. Khoảng sân chìm vào yên lặng, chỉ còn lại mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ chỗ cơm và thịt đã rã nát trên nền gạch.
Một người làm đứng gần đó nhìn xuống đất, thấy dòi bọ lúc nhúc bò ra từ những nắm cơm đen kịt, chân bủn rủn không đứng vững nữa. Hắn ú ớ một tiếng, rồi quay đầu bỏ chạy thục mạng về phía nhà sau, dép văng lại giữa sân.
Bà Hội đồng rụng rời tay chân, quỳ mọp xuống đất, hai tay chắp lại vái lấy vái để, miệng lẩm nhẩm không thành tiếng: “Nam mô… nam mô cứu khổ cứu nạn…”
Cậu Ba Nghĩa đứng chôn chân giữa sân, tròng mắt mở to hết cỡ nhìn vào mâm lễ. Phải mất một lúc lâu, cậu mới rứt được cái nhìn kinh hoàng ấy ra để quay sang thầy Bảy. Giọng cậu khàn đặc “Thầy… chuyện… chuyện hồi nãy là sao? Con thấy rõ ràng cơm với gà đang tươi, tự nhiên thối rữa, dòi bọ ở đâu bò ra lúc nhúc…” Cậu đưa tay bụm miệng, cổ họng ợ lên một tiếng khan vì mùi hôi thối nồng nặc đang xộc thẳng vào mũi.
Thầy Bảy chưa vội trả lời. Ông đứng thẳng dậy, phủi tay, giọng trầm hơn: “Những gì cậu thấy… chỉ là kết quả thôi.”
Cậu Ba cau mày, mồ hôi rịn trên trán: “Kết quả? Của cái gì?”
Thầy Bảy liếc mắt nhìn quanh sân một lượt. Đám gia nhân đã dạt hết về phía vách tường, rúc vào nhau như bầy gà con gặp diều hâu, không ai dám bén mảng tới gần vùng đất quanh mâm lễ. “Là oán khí” thầy đáp gọn lỏn. “Của hàng vạn vong hồn đói khát đang vất vưởng trên mảnh đất này.”
Thầy quay phắt sang bà Hội đồng, ánh mắt sắc lẹm mà hỏi “Xin hỏi bà Hội đồng, đã bao nhiêu năm rồi, cái nhà này chưa cúng thí thực? Chưa cúng cô hồn tháng bảy?”
Bà Hội đồng cúi gằm mặt. Bà không dám nhìn thẳng vào mắt thầy, bàn tay chắp trước ngực run lên bần bật, các ngón tay xoắn chặt vào nhau đến trắng bệch. Một lúc lâu sau, bà mới khẽ lắc đầu, tiếng thở dài nặng trĩu nỗi sợ hãi.
Thầy Bảy chép miệng, lắc đầu ngán ngẩm. “Như tôi đã nói, đây là vùng đất âm hồn. Dưới lớp đất này… không biết đang chôn vùi bao nhiêu oan hận…”
Bà Hội đồng ngước lên, đôi mắt ầng ậng nước, giọng bà vỡ vụn: “Vậy giờ… giờ phải làm sao hả thầy? Thầy làm ơn cứu nhà con với. Tốn bao nhiêu tiền con cũng lo được, miễn là yên chuyện…”
Thầy Bảy xua tay, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhẹ. “Thưa bà, gia đình cứ lo cho thầy trò tôi chỗ ăn chỗ ngủ đàng hoàng là được.”
Thầy dừng lại một nhịp, ánh mắt trở nên xa xăm, nghiêm nghị: “Tôi ra tay không phải chỉ vì cái mạng của nhà ông bà. Mà vì cả vùng này. Nếu đám oan hồn dưới kia mà thoát ra, thì không chỉ nhà Hội đồng, mà cả cái làng này cũng đừng hòng sống yên ổn.”
Nói đoạn, thầy bước nhanh lại chỗ Tám. Ông quỳ một chân xuống, đặt bàn tay chai sạn lên trán cậu học trò. Trán Tám lạnh toát như tảng đá ngâm nước, mồ hôi nhớt nhát rịn ra đầy mặt.
Thầy nghiêng đầu, ghé sát tai Tám, miệng lẩm nhẩm những câu chú ngắn, dứt khoát. Bàn tay trên trán ấn mạnh một cái vào ấn đường rồi buông ra.
Tám rùng mình một cái thật mạnh, toàn thân giật nảy lên như tôm tươi mắc cạn. Cổ họng cậu phát ra tiếng “khò” đục ngầu. Lồng ngực phập phồng kịch liệt, cố hớp lấy không khí. Hai mí mắt cậu rung rung, nặng trĩu, mãi mới hé mở được.
Ánh nhìn của Tám dại đi, lạc lõng đảo một vòng quanh sân, dừng lại ở đống mâm lễ đang bốc mùi, rồi mới định thần nhìn thấy thầy Bảy. “Ủa…” Tám thều thào, giọng khàn đặc, tay sờ soạng lên mặt, lên cổ như để chắc chắn mình còn sống, “…con… con vừa làm gì vậy thầy? Sao người con đau nhức dữ vậy?”
Thầy Bảy vỗ nhẹ vào vai cậu, ánh mắt ánh lên vẻ xót xa. “Giỏi lắm Tám, lát thầy sẽ kể cho con nghe.”
Ông đứng dậy, phủi nhẹ bụi bám ở gấu quần. Ánh mắt ông chậm rãi nhấc lên, dừng lại ở khoảng sân tối mịt phía trước, nơi cái giếng nằm im lìm. Không nói thêm lời nào, thầy Bảy bước về phía cái giếng.
Bà Hội đồng, cậu Ba và mợ Nhàng lục đục bước theo sau lưng thầy, dáng đi rụt rè, e ngại. Đám gia nhân thì dứt khoát đứng chôn chân tại chỗ, có cho vàng cũng không dám bước thêm nửa bước.
Riêng Mạnh, khi thấy cả nhóm rẽ hướng về phía cái giếng, mặt hắn cắt không còn giọt máu. Hắn nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc. Hắn lén lút quay sang nhìn mợ Nhàng, ánh mắt van xin, cầu cứu đầy thảm hại.
Mợ Nhàng bắt gặp ánh mắt ấy. Mợ không nói gì, chỉ khẽ nhếch mép cười, rồi gật đầu một cái rất nhẹ, kín đáo đến mức chỉ có hai người biết. Cái gật đầu như muốn nói: “Cứ bình tĩnh.”
Nhưng sự trấn an ấy chẳng làm Mạnh bớt run. Trong đầu hắn, những ý nghĩ đen tối cứ xoắn chặt lấy nhau như dây thừng thắt cổ. Chính hắn… chính hắn là kẻ đã tung tin mợ Sinh bỏ trốn. Chính hắn là người đã lấp liếm những gì diễn ra đêm hôm đó. Nếu tảng đá kia bị dời đi… nếu bí mật dưới đáy giếng bị phơi bày ra ánh sáng… Mạnh rùng mình, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Hắn biết, nếu chuyện vỡ lở, hắn sẽ là kẻ đầu tiên phải đền mạng.