Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (2)
Buổi chiều ở đầu làng chậm rãi trôi trong cái nắng hầm hập, nóng nực như dội lửa xuống mặt đất. Nhưng quán nhậu của bà Tư Mập ở gần bến sông Cổ Chiên lại là một thế giới khác. Quán dựng tạm bợ bằng cột tràm, mái lá dừa nước đã ngả màu xám xịt vì nắng gió, nhưng nhờ nằm ngay sát mép nước nên lúc nào cũng có gió thổi mát rượi. Từ những chiếc bàn kê sát mạn sông, người ta có thể phóng tầm mắt qua dải lục bình trôi lững lờ để thấy gốc đa già đầu làng thấp thoáng từ xa.
Trong quán, mấy bộ bàn ghế gỗ thấp, mặt bàn bóng loáng dấu vết của những cuộc nhậu kéo dài năm tháng, đã lố nhố người ngồi. Tiếng mỡ cá rán xèo xèo trên chảo, tiếng chén sành va vào nhau lanh cạnh, và mùi rượu đế nồng nàn rót ra chén khiến không khí trở nên đặc quánh, vừa thân thuộc vừa mời gọi.
Lúc đó, từ con lộ đất đỏ bụi mù dẫn vô quán, có hai bóng người xuất hiện.
Người đi trước là một ông thầy mù. Áo ông sờn bạc, vai áo chỗ mỏng chỗ dày, cây gậy tre gõ từng nhịp cộc... cộc... đều đặn xuống mặt đất.
Đi sát bên ông là một người kỳ lạ. Toàn bộ khuôn mặt bị băng kín bởi những lớp vải xô cũ, chỉ chừa lại vài khe nhỏ ti hí để nhìn và ăn uống. Tay chân cũng quấn vải trắng lớp lớp, khiến cử động trở nên chậm chạp và cứng nhắc. Một tay người đó nắm chặt lấy cánh tay ông thầy, dắt đi từng bước. Dưới lớp vải quấn chằng chịt và bộ quần áo bà ba rộng thùng thình, không ai có thể đoán định được đó là nam hay nữ, già hay trẻ.
Trong quán, tiếng nói chuyện đang rôm rả bỗng tắt ngóm. Có ông khách đang bưng chén rượu lên môi bỗng khựng lại, tay run nhẹ làm rượu sóng ra ngoài. Người khác thì khẽ kéo ghế dịch vô phía trong, mắt cứ dán chặt vào hai bóng người kỳ dị đang tiến tới.
Bà Tư Mập từ trong bếp lật đật ló đầu ra. Người đàn bà trạc ngũ tuần, thân hình đẫy đà, nước da sạm vì nắng gió sông nước. Tóc bà búi vội sau gáy, vài sợi bạc lòa xòa dính mồ hôi nơi thái dương. Vừa thấy bóng ông thầy, bà đứng sững lại như trời trồng, rồi vội vã phủi tay vô vạt áo bà ba đã sờn màu khói bếp, lạch bạch chạy ra đón: "Trời đất thiên địa ơi…". Bà Tư buột miệng, giọng mừng rỡ: "Thầy… thầy Thiện Pháp! Có phải thầy đó hông? Thầy trở lại hồi nào mà hổng nghe ai hay vậy thầy?|
Ông thầy mù dừng lại ngay trước hiên quán, chống gậy đứng yên. Khóe môi ông hơi nhếch lên, một nụ cười mờ nhạt:
"Ừ, là tôi đây. Đi biền biệt bấy lâu, nay nhớ mùi mắm kho của bà quá nên ghé lại chút thôi."
Bà Tư Mập cười hì hì, xua tay mời mọc: "Dạ, mời thầy vô, mời thầy vô trong này ngồi cho nó mát. Chỗ cũ nhen thầy, cái bàn hướng ra sông đó."
Nói đoạn, bà liếc mắt sang người đứng kế bên, cả mình mẩy quấn vải trắng toát. Tim bà khẽ thót một cái, da gà da vịt nổi đầy cánh tay. Cái dáng đứng đó… bà thấy quen lắm,, nhưng lục lọi hết trí nhớ cũng hổng ra là ai.
"Còn đây là…". Bà Tư chần chừ, giọng thấp hẳn xuống.
Ông thầy mù khẽ nghiêng đầu về phía người kia, tay vẫn nắm chặt gậy tre: "Đệ tử của tôi., bà đừng có ngại."
Ông đưa tay lên, khẽ hít một hơi thật sâu vào lồng ngực như để cảm nhận cái không khí thân thuộc của bến sông: "Bao nhiêu năm rồi… quán của bà vẫn đông khách, mùi mắm vẫn mặn mòi như hồi xưa phải không?"
Bà Tư Mập cười gượng, lấy khăn rằn lau mồ hôi trán: "Dạ, thì cũng nhờ ơn trên phù hộ, con buôn bán kiếm cơm qua ngày thôi. Chớ từ hồi thầy đi, cái làng này cũng thay đổi nhiều lắm… hổng còn bình yên như hồi đó đâu thầy ơi."
Ông thầy mù chậm rãi ngồi xuống chiếc bàn sát mép sông, chỗ có làn gió từ bến Cổ Chiên thổi vào lồng lộng. Người đệ tử lẳng lặng kéo ghế ngồi chếch sang một bên, hai tay đặt lên đùi.
Bà Tư Mập cứ lăng xăng bên cạnh, hết lau bàn lại phủi ghế, miệng không ngớt lời: "Thầy ơi, thầy hổng biết đâu, từ hồi thầy đi tới nay nhà con nhắc thầy miết. Hồi đó con lên chùa gặp thầy, mời thầy về rồi được thầy chỉ cho cái cách xoay lại cái hướng bếp. Trời đất ơi, thiệt là linh hiển! Từ hồi xoay cái bếp lại tới giờ, quán con làm ăn lên thấy rõ, khách khứa vô ra nườm nượp, hổng còn đìu hiu như hồi trước. Bởi vậy con cứ muốn tìm thầy để tạ ơn, mà sao con lên chùa mấy bận đều hổng gặp."
Ông thầy mù nhấp một ngụm trà nóng bà Tư vừa rót, khẽ cười khà một tiếng: "Tôi đi ngao du khắp nơi, biết ở đâu mà bà tìm cho ra. Chỗ nào có duyên thì tới, hết duyên thì đi thôi."
Nói đoạn, ông đưa tay gõ nhẹ lên cây gậy tre, giọng trầm xuống: "|Như cái đứa này nè… mấy năm trước, trong một lần tôi đi ngắm cảnh chùa ở gần đây, tôi thấy người ta vớt được nó dưới sông lên."
Trong quán, mấy ông khách nhậu khẽ nhích ghế lại gần hơn, tai dỏng lên nghe chuyện lạ.
"Mà lạ lắm". Ông nói tiếp, giọng đều đều. "Ở dưới sông mà người nó lại bị phỏng nặng. Dân làng quanh đó sợ quá hổng ai dám tới gần. Tôi thấy cái duyên cái số, mới đem về cứu mạng, rồi cho nó theo học cái nghề bói toán."
Ông ngừng một nhịp, đôi mắt mù lòa như đang nhìn về một khoảng không xa xăm: "Mà năm ngoái tôi có cùng nó về lại làng này, tính ghé thăm bà. Mà hình như… lúc đó quán bà đóng cửa?"
Bà Tư Mập nghe nhắc tới "năm ngoái", hai bàn tay bỗng xoa vào nhau liên tục, nụ cười trên mặt hơi cứng lại: "Dạ… năm ngoái hả thầy…" Bà kéo dài giọng, mắt chợt liếc nhanh như cố nhớ lại. "Dạ, chắc tại năm ngoái nhà con có việc phải lên tỉnh chơi ít bữa. Chắc thầy ghé ngay lúc đó nên hụt rồi. Tiếc quá!"
Bà vội vàng quay người, tìm cách lảng tránh ánh mắt (dù là mù lòa) của ông thầy: "Thôi, thầy ngồi chơi chút, để con vô làm đồ ăn cho thầy nghen. Bữa nay sẵn có con cá lóc đồng nướng trui cuốn với lá sen non, thêm nồi mắm kho cá kèo ăn với bông súng trắng."
Nói rồi, bà Tư tất tả đi thẳng vô bếp, bước chân có phần hơi vội vã hơn bình thường.
Khi mâm đồ ăn được bưng ra, mùi mắm kho bốc lên nghi ngút quện với mùi cá nướng thơm phức, ông thầy mù bỗng đặt cây gậy tre dựa vô thành bàn.
"Mấy năm nay…" Ông thầy nói chậm rãi. "Ở quán bà có chuyện gì lạ lắm không?"
Bà Tư Mập đương sắp chén đũa, nghe câu đó thì tay chân khựng lại nửa chừng, mặt mày biến sắc.
Ông thầy tiếp, đôi mắt mù lòa hướng về phía góc của quán: "Sao tôi có cảm giác, quanh đây có hơi hướng âm khí. Hình như… cái góc nhà đằng kia bà có lập cái bàn thờ, mà coi bộ không phải thờ gia tiên nhà bà?
Bà Tư Mập giật nảy mình, cái chén sành trên tay suýt chút nữa rớt xuống đất. Bà quay phắt lại nhìn phía góc quán, miệng há ra rồi vội khép lại, tay vô thức vò nát vạt áo bà ba.
"Dạ… dạ… Thầy đúng là bậc thánh nhân. Vậy mà thầy cũng cảm nhận được."
Bà kéo cái ghế đẩu ngồi xuống sát bên, giọng hạ thấp xuống chỉ còn như tiếng gió lùa mái lá: "Cách đây chừng ba năm, sau hồi thầy ghé qua đây vài tháng… thì có một vụ sét đánh chết người. Ngay trong cái quán này luôn nè thầy!
Ông thầy mù hơi nghiêng đầu, vẻ mặt đăm chiêu: "Sét đánh, ngay trong quán của bà sao?"
"Dạ thiệt!". Bà Tư đưa ngón tay thô ráp chỉ về phía một khoảng đất sạm đen, trơ trọi giữa quán. "Ngay chóc chỗ đó đó. Đất tới giờ vẫn còn đen thui, con làm đủ thứ nó vẫn không hết".
Ông thầy không đáp ngay. Ông ngồi im phăng phắc, rồi chậm rãi nói: "Thường thì thiên lôi chỉ đánh ngoài đồng trống. Còn như đang ngồi trong nhà mà bị sét đánh trúng… chỉ có thể là do bị cái thứ gì đó quỷ ma nhập vô người, trời đất không dung tha mới ra nông nỗi đó."
Một ông nông dân ngồi bàn kế bên, nãy giờ dỏng tai nghe ngóng, lúc này mới chịu không nổi mà chống tay lên gối, xen vô: "Thầy nói vậy là đúng rồi! Cái ông Chín Lành đó chớ ai vô đây. Hồi đó ổng bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt giường chờ ngày liệm. Vậy mà hổng biết sao bữa đó tự nhiên ổng khỏe lên, mắt đỏ sọc, cầm cây dao xông vô quán này định chém người ta. Hai ba thằng thanh niên sức vóc vâm vấp mà quật ổng hổng lại. Hổng phải quỷ nhập thì là cái giống gì?
Người ngồi đối diện ông nông dân cũng hạ chén rượu xuống, giọng nhỏ hơn: "Rồi cái nhà lão Chín cũng có yên ổn gì đâu. Con Sinh con gái lão đó… gả vô nhà ông Hội đồng giàu nứt đố đổ vách, tưởng hưởng vinh hoa phú quý, ai dè cũng đổ đốn. Nghe đâu nó ngoại tình bị bắt quả tang, rồi cũng bỏ xứ đi mất dạng mấy năm nay, hổng thấy tăm hơi gì hết trơn."
Trong lúc tiếng bàn tán bắt đầu xôn xao, ông thầy mù mới hỏi thêm: "Vậy mấy đứa thanh niên bữa đó… giờ ra sao rồi?"
Bà Tư Mập khẽ rùng mình, hai vai co lại: "Dạ… có đứa chết tươi tại chỗ thầy ơi. Mà có một đứa đang lúc vật lộn với lão Chín, sét đánh trúng cái... người nó bị phỏng nặng cả nửa gương mặt, còn bị mù nữa."
Bà ngập ngừng một chặp, rồi nhìn quanh quất mới dám nói tiếp: "Đó là thằng Mạnh. Nó làm chức Cai trong nhà ông Hội đồng Quyền chớ ai."
Ngay khoảnh khắc cái tên "thằng Mạnh" vừa dứt, người đệ tử băng kín mặt ngồi bên cạnh ông thầy bỗng khẽ rùng mình một cái rõ mạnh. Bàn tay siết chặt lại, rồi cái ly sành trên bàn bị đặt xuống mạnh đến nỗi nước sóng sánh, tràn lê láng ra mặt gỗ.
Mấy ánh mắt nhậu nhẹt xung quanh lập tức đổ dồn về phía hai thầy trò. Không gian im phăng phắc trong vài giây, rồi tiếng bàn tán lại rộ lên như ong vỡ tổ: "Nhắc tới cái nhà ông Hội đồng đó, tui nói thiệt chớ... có yên ổn gì đâu. Gia môn vô phúc mà!"
"Chớ sao! Mợ Ba mới cưới về chưa đặng bao lâu thì cũng ngoại tình, rồi bị cậu Ba Nghĩa giết cả hai ngoài cổng nhà, máu me bê bết coi kinh khiếp lắm."
"Rồi bà Hội đồng nghe đâu cũng đổ bệnh liệt giường luôn tới giờ."
"Còn thằng nhỏ chết đuối ngoài lò gạch nữa mà… cái thằng Dũng đó, phải hông mấy cha?"
"Thằng Dũng hả?" Một ông lão ngồi góc quán chép miệng. "Nó là con của con Sinh đó… Cái con nhỏ bỏ xứ đi hồi đó đó mà."
Bà Tư Mập nghe tới đây thì mặt cắt hổng còn giọt máu. Bà hoảng hốt đứng bật dậy, hai tay xua lia lịa như đuổi tà: "Thôi! Tui lạy mấy ông mấy bà! Tha dùm cho cái quán của con đi. Chuyện nhà ông bà Hội đồng quyền thế, đâu phải chuyện đầu đình xó chợ mà muốn bàn là bàn, muốn nói là nói! Coi chừng tai vách mạch rừng, mang họa vô thân nghe hông!"
Mặc cho bà Tư Mập can ngăn, đám khách nhậu sau vài tuần rượu đã bắt đầu "thả cửa" miệng mồm. Một gã đàn ông có khuôn mặt sạm nắng, tay cầm con khô mực nướng dở, bỗng hạ giọng đầy bí hiểm: "Mà mấy cha có nghe vụ ông thầy Bảy bên Trà Ôn chưa? Cái vụ đó mới gọi là kinh thiên động địa nè!"
Cả quán lại dỏng tai. Một người khác gật gù: "Biết chớ! Thầy Bảy nổi tiếng khắp vùng Trà Ôn, coi bói với trừ tà là trùm luôn mà. Sao, ổng có chuyện gì?"
Gã kia nốc cạn chén rượu, khà một tiếng rồi nói: "Nghe đâu nhà ông Hội đồng Quyền có rước ổng về coi đất coi cửa, sửa lại phong thủy trong nhà. Vậy mà đùng một cái, người ta phát hiện xác thầy Bảy với thằng đệ tử bị giết, coi thê thảm lắm!"
"Đừng có nói xạo cha nội!". Một người khác đập bàn phản bác. "Tui lại nghe khác à nghe. Bữa đó tui nghe người ta đồn thầy trò nhà ổng tham lam, ôm mớ tiền vàng của nhà ông Hội đồng rồi lén lút bỏ trốn trong đêm. Ai dè chạy dọc đường gặp cướp, bị tụi nó xin cái mạng với lấy sạch của cải luôn."
Tiếng bàn tán bắt đầu xôn xao hẳn lên, kẻ nói vầy người nói khác, làm cái quán nhỏ ven sông Cổ Chiên náo động như cái chợ chồm hổm.
Trong lúc đó, tại bàn của ông thầy mù, không khí bỗng đặc quánh lại. Người đệ tử băng kín mặt nãy giờ vẫn ngồi im như tượng, giờ đây hơi thở bắt đầu dồn dập, nặng nề nghe rõ từng nhịp khò khè sau lớp vải xô. Đôi bàn tay bấu chặt vào mép bàn gỗ, gân xanh nổi lên trên những đoạn cổ tay quấn băng trắng toát.
Ông thầy Thiện Pháp vẫn ngồi điềm nhiên, nhưng hàng chân mày bạc trắng khẽ chau lại. Cái tên "thầy Bảy Trà Ôn" không hề xa lạ với ông. Hồi đó, ông cũng từng nghe danh vị thầy này là người có đạo hạnh, không lẽ lại vì mấy đồng bạc lẻ mà thân bại danh liệt? Nhưng qua lời kể của đám người này, câu chuyện lại nhuốm thêm mờ ám và bí ẩn của nhà ông Hội đồng.
Thầy Thiện Pháp chợt im bặt, gương mặt ông hơi nghiêng về một phía như đang nhớ về một chi tiết từ quá khứ khi nghe tới cái tên "bà Hội đồng Quyền".
Ông tự nhủ thầm trong bụng: “Quả nhiên là chạy không khỏi số trời. Năm đó ngay tại chùa, mình đã nói rõ rằng nếu mợ sinh con gái thì nhà Hội đồng còn yên, còn nếu sinh con trai… thì ắt sẽ có hoạ chết người. Vậy là… mọi thứ đã bắt đầu rồi sao?”
—
Trong quán, mấy người đang nâng chén bỗng khựng lại. Có người liếc ra ngoài một cái rồi mặt mày tái mét, vội vã lén đặt tiền xuống mặt bàn, kéo ghế đứng dậy lẩm bẩm xin phép bà Tư ra về sớm đặng tránh mặt.
Thằng Mạnh xuất hiện ngay trước hiên quán, dáng người cao lớn án ngữ cả lối vào, che khuất cả ánh nắng chiều đang đổ xuống từ bến sông.
Hắn chậm rãi tháo chiếc khăn rằn quấn hờ trên đầu xuống, để lộ ra một diện mạo khiến người ta nhìn thấy đều phải rùng mình kinh hãi. Một bên mặt của hắn là một mảng sẹo bỏng co rút, lồi lõm, kéo xệch cả khoé miệng lên phía trên thành một nụ cười nửa miệng đầy quái dị. Vết bỏng năm nào do sét đánh không chỉ hủy hoại da thịt mà còn cướp đi một con mắt. Con mắt lành lặn còn lại của hắn sắc như dao cạo, liếc một vòng quanh quán như đang dò xét từng con mồi.
Đám đàn em theo sau năm sáu thằng, đứa nào đứa nấy áo quần xốc xếch, miệng ngậm thuốc rê, vừa đi vừa cười hô hố, thái độ hách dịch vô cùng.
"Ê, quán bữa nay đông dữ ha!" Một thằng vỗ tay cái đét "Bà Tư đâu rồi, đem rượu ra coi!"
Mạnh bước vô, chẳng thèm ngó ngàng tới bà Tư, hắn đưa chân đá mạnh cái ghế gần nhất cho xê ra rồi ngồi phịch xuống. Hắn gác đôi chân đi đôi dép da dính đầy bùn đất lên thanh ngang bàn, thong dong móc thuốc ra châm lửa, rít một hơi dài rồi phụt khói ra mù mịt.
"Cho tao rượu đế loại mạnh nhất. Thịt cá gì có sẵn cứ đem ra hết. Bữa nay tụi tao uống cho đã đời mới về."
Một thằng đàn em khác cười hề hề, quay sang mấy bàn khách nhậu còn sót lại: "Uống đi mấy cha! Ngồi im re vậy, uống chung cho vui chớ!"
Mạnh nghiêng cái đầu đầy sẹo nhìn theo mấy người khách đang lén lút tính tiền, lật đật dắt xe bỏ về. Khóe miệng xếch của hắn nhếch lên, tạo thành một nụ cười méo mó: "Ủa? Mới vô nhấp môi có chút xíu mà đi đâu sớm dữ vậy mấy cha? Hay là… thấy tụi tui tới cái là mấy cha hết hứng uống rồi? Coi khinh anh em tui dữ vậy sao?"
Một người đàn ông đứng tuổi, tóc đã chớm bạc, lúng túng cười trừ, đầu cúi thấp không dám nhìn thẳng vào cái hốc mắt trắng dã của hắn: "Dạ đâu có… Tại nhà tui có việc gấp… xin phép cậu Mạnh cho tụi tui về trước."
Mạnh gật gật đầu cái rụp, mấy ngón tay thô kệch gõ nhịp cộp... cộp... lên mặt bàn: "Ừ, về đi. Đi cho sớm đặng còn kịp cơm nước, chớ để chút nữa quán này có chuyện, chen không nổi lại mệt cho cái thân già đó nghen."
Hắn quay sang đám đàn em, cười hố hố: "Thấy chưa tụi bây, bữa nay hên ghê chưa. Mới thấy cái mặt tao vô là người ta nhường chỗ hết trơn rồi nè."
Cả bọn đàn em cười rộ lên, tiếng cười lả lơi quện trong khói thuốc. Một thằng nhanh tay giật lấy bình rượu bà Tư vừa đặt xuống, rót tràn trề ra chén, rượu sóng sánh đổ lê láng xuống mặt bàn đất nện cũng chẳng thèm ngó ngàng. Nó bưng chén rượu bằng hai tay, giọng khúm núm: "Uống đi anh Mạnh! Ở cái làng này, nói thiệt chớ, có ai mà dám hổng nể mặt anh đâu. Anh đi tới đâu là thiên hạ dạt ra tới đó mà."
Mạnh cầm chén rượu lên, xoay nhẹ trong lòng bàn tay, con mắt lành lặn của hắn vẫn không ngừng liếc dọc liếc ngang quanh quán.
Hắn nốc cạn chén rượu đế, đặt mạnh cái chén sành xuống bàn nghe một cái cạch khô khốc. Tiếng động chát chúa giữa không gian đang im lặng khiến bà Tư Mập và mấy người khách còn sót lại giật mình thót lòng.
Ngay lúc đó, ánh mắt của Mạnh chợt dừng lại ở chiếc bàn sát bờ sông. Ở đó, hắn thấy một ông già mù vẫn ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên đầu gậy tre. Một người quấn băng kín mít ngồi đối diện, thân người hơi nghiêng về phía trước. Qua khe hở nhỏ xíu giữa những lớp vải xô cũ kỹ, một ánh nhìn lạnh lẽo, căm phẫn cứ trừng trừng xoáy thẳng vào mặt Mạnh.
Khóe miệng bị sẹo kéo xếch của Mạnh giật nhẹ. Hắn đặt mạnh chén rượu xuống bàn cái cộp.
Hắn đứng bật dậy, cái ghế đẩu bị đá văng ra sau kêu két một tiếng chói tai. Mạnh sải chân về phía cái bàn ở phía bờ sông, mỗi bước chân dẫm lên nền đất nện đều nặng nề như muốn nghiền nát mọi thứ.
"Nè, cái thằng quấn vải kia!". Mạnh hất cằm, tay chỉ thẳng vào mặt người đệ tử. “Mày nhìn cái giống gì mà nhìn dữ vậy? Bộ mặt tao có dính vàng dính bạc trên đó hả?"
Người đệ tử vẫn im lìm không đáp, chỉ có lớp băng trên mặt khẽ phập phồng theo nhịp thở nặng nề, khò khè.
Ông thầy mù khẽ xoay đầu về phía có tiếng bước chân, bàn tay khô héo siết nhẹ lấy thân gậy tre, nói giọng trầm và chậm rãi: "Xin cậu rộng lòng, thầy trò chúng tôi chỉ là đi ngang qua làng này, ghé lại nghỉ chân uống miếng nước cho đỡ mệt. Đệ tử tôi mang trọng bệnh trong người, đầu óc lúc tỉnh lúc mê, có điều gì thất lễ mong cậu bỏ qua cho."
Mạnh hừ mũi một tiếng khinh bỉ. Hắn chẳng thèm nhìn ông già mù, chỉ đưa ngón tay cái chỉ ngược ra phía ngoài con lộ đất: "Biến! Trước khi tao đổi ý, bẻ giò tụi bây quăng xuống sông Cổ Chiên cho cá rỉa bây giờ."
Không đợi hắn nói thêm câu thứ hai, ông thầy mù lẳng lặng chống gậy đứng dậy. Người đệ tử cũng lục đục theo sau, động tác vụng về, cứng nhắc.
Bà Tư Mập thấy vậy liền cuống quýt chạy ra, hai tay xua lia lịa, mặt cắt hổng còn giọt máu: "Dạ thầy ơi, mong thầy thông cảm đi lẹ dùm con, có gì mang hoạ cho hai thầy trò nữa... Bữa nay cho con mời, con hổng dám lấy một đồng xu cắc bạc nào hết!"
Ông thầy mù nghiêng nhẹ đầu về phía bà Tư. Giọng ông hạ thấp xuống, chỉ vừa đủ cho hai người nghe thấy:"Cái người bị sét đánh chung với ông Chín Lành năm đó… là người này, phải hông bà?"
Bà Tư Mập nuốt khan một cái ực, đầu gật lia lịa: "Dạ... dạ đúng rồi thầy".
Ông thầy không nói thêm lời nào, chỉ khẽ gật đầu một cái rồi nắm lấy cánh tay người đệ tử, dắt nhau bước ra khỏi quán.
Ra tới hiên, tiếng gió sông ràn rạt vẫn không át nổi tiếng bàn tán nhừa nhựa của đám đàn em phía sau lưng: "Anh Mạnh nè, anh có thấy dạo này trong đám mình lạ lùng lắm hông? Hết thằng Tư Ếch bị chết cháy trong nhà, rồi tới thằng Hải Sẹo mới treo cổ hôm kia, đám mình cứ chết từ từ hết thằng này tới thằng kia."
Mạnh cười khẩy, giọng đã ngà ngà men rượu: "Kệ mẹ tụi nó đi! Thằng Hải thiếu nợ đầy ra đó, đòi vay của tao mà tao hổng cho nên nó quẫn trí nó làm bậy chớ ám quẻ gì. Càng chết bớt càng đỡ chật đất!
—
Khi đã đi cách quán bà Tư một quãng xa, người đệ tử bỗng dừng bước, giọng nói khản đặc vang lên sau lớp vải: "Thầy... giờ mình đi đâu đây thầy?
Ông thầy Thiện Pháp không dừng lại, cây gậy tre vẫn gõ nhịp đều đặn trên mặt đất, vừa đi ông vừa nói: "Chúng ta sẽ đi tìm hiểu về những bí ẩn xung quanh nhà ông Hội đồng Quyền. Ta có linh cảm... nó sẽ ảnh hưởng tới cả vùng đất này, chứ không chỉ liên quan đến nhà ông ta."
Ông ngừng lại một nhịp, rồi ông khẽ thở dài: "Và cũng để... giải quyết cái nút thắt hận thù trong lòng con bấy lâu nay, đúng hông?"
Người đệ tử giật mình, bước chân loạng choạng suýt ngã: "Thầy... ý thầy là sao...?"
Thầy Thiện Pháp khẽ nhếch môi, nụ cười bao dung nhưng cũng đầy xót xa: "Ta tuy mù, nhưng không phải cái gì ta cũng không biết. Mỗi lần thầy trò mình ghé về vùng này, cứ hễ đêm xuống là con lại lẻn ra ngoài đi đâu đó một mình..."
Ông xoay người lại, hướng đôi mắt mù lòa về phía người đệ tử, giọng nói trở nên nghiêm nghị: "Thôi thì mọi chuyện ở đời đều là duyên số, nợ với duyên đan xen vào nhau như rễ cây. Ta không thể can thiệp vào số mệnh của con người được. Tuy nhiên, ta chỉ nhắc con một điều này thôi..."
Ông đặt bàn tay gầy guộc lên vai người đệ tử, cảm nhận sự rung rẩy: "Hận thù, dù con có trả được đi chăng nữa, thì cuối cùng nó cũng không đem lại cái gì ngoài sự đau khổ kéo dài từ kiếp này sang kiếp khác. Con hãy giữ cái tâm cho vững, đừng để con quỷ trong lòng nó dẫn lối, nghe hông?"
Người đệ tử cúi đầu im lặng. Bóng của hai người trải dài trên mặt lộ đất, một cao một thấp, cô độc giữa cái tĩnh lặng đáng sợ của làng quê Vĩnh Long lúc chạng vạng.