Trước tiên chúng ta đi lại định nghĩa lạm phát: sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Vậy câu hỏi đặt ra nếu chính phủ thông báo phát sẽ phát tiền cho mọi người dựa trên tài sản của người dân hoặc những vùng bị thiên tai thì đó có được xem là lạm phát không vì nhìn về mặt hiện tượng đồng tiền đều mất giá hoặc giá cả đều sẽ gia tăng? Chắc chắn nhiều bạn sẽ trả lời là nó không giống nhau nhưng vấn đề là vì sao cùng 1 hiện tượng nhưng nó lại không giống nhau thì đa số không đưa ra được điểm khác biệt.
Quay lại vấn đề mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất, trong điều kiện bình thường thì rất ít khi nào nhà nước bơm tiền ra thị trường mà không có mục đích (trừ mấy trường hợp không hiểu cơ chế thị trường ra chính sách sai thì không nói nhé), hầu hết khi bơm tiền ra thị trường đều nhằm mục đích thúc đẩy kinh tế. Trường hợp xảy ra phổ biến nhất là cầu tiêu dùng của người dân tăng lên dẫn đến nhu cần dòng tiền để đầu tư sản xuất tăng cao, nếu nhà nước không bơm tiền để thúc đẩy sản xuất thì dẫn đến lãi suất tăng cao do thiếu cung tiền và bỏ lỡ cơ hội phát triển. Khi bơm tiền ra thì doanh nghiệp sản xuất bán được hàng => làm ăn tốt, lợi nhuận tốt => lương tăng => thu nhập tăng => cầu tiêu dùng tăng => cần dòng tiền đầu tư sản xuất=>... Nó thành 1 vòng lặp thúc đẩy kinh tế cho đến khi người dân cảm thấy thu nhập trong tương lai không đủ chi trả cho các chi phí trong hiện tại nữa thì bắt đầu giảm cầu => doanh nghiệp không có tiền chi trả lương, nợ vay => thu nhập người dân giảm => cầu giảm-cung giảm nhưng dòng tiền vẫn còn tạo lạm phát mạnh => tạo vòng lặp suy thoái. Ta thấy được mấy chốt ở đây chính là cảm nhận của người dân về khả năng chi trả trong tương lai, có một thực tế rằng là giá cả lạm phát luôn phản ứng với cung tiền nhanh hơn so với thu nhập. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu lạm phát tăng và thu nhập cũng tăng nhanh tương ứng (ví dụ như doanh nghiệp cam kết tăng lương hằng tháng tương ứng với lạm phát), thì nó chả khác gì giả định chính phủ phát tiền cả. Có thể thấy được điều tạo nên sự khác biệt chủ yếu giữa lạm phát thị trường với 2 ví dụ giả định đó là tâm lí người dân và sự lệch pha giữa các yếu tố kinh tế. Trong trường hợp sau một thời gian chính phủ bơm tiền để thúc đẩy kinh tế rồi, đến giai dấu hiệu lạm phát và các chỉ số sức mua và tiêu dùng chững lại (có nghĩa là gần sang chu kì suy thoái) thì chính phủ bắt đầu tăng lãi suất nhằm mục đích là hạn chế khả năng vay để đầu tư sản xuất lại (theo ngôn ngữ tài chính là để hút dòng tiền), bằng việc bóp bên cung sẽ tiết chế lại tốc độ phát triển => thu nhập giảm => giảm cầu nhưng không làm bước vào chu kì suy thoái mạnh. Và tất nhiên trong giai đoạn này kinh tế sẽ chậm lại hoặc suy giảm nhẹ nhưng so với trước khi bơm tiền thì nền kinh tế vẫn là tăng trưởng 1 giai đoạn rồi. Đây chính là tình huống mà hầu hết sách VN đang nhắc đến và nhiều bạn lầm tưởng rằng lạm phát nào cũng như nhau.
Nhưng đến 7 nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát và mỗi nguyên nhân đều phải dùng công cụ riêng chứ không phải dùng mỗi công cụ tiền tệ để điều chỉnh là hiệu quả, chưa kể các biến thể do 2-3 nguyên nhân lạm phát kết hợp lại thì chính sách điều chỉnh càng phức tạp. Thứ 2 trường hợp lạm phát các bạn đang mặc định trong đầu nó được đặt trong giả định chỉ phân tích cung cầu trong nước nhưng thực tế điều chỉnh lãi suất còn ảnh hưởng cả xuất khẩu và nhập khẩu, tỷ giá hối đoái... Mà trong thời kì kinh tế toàn cầu hiện nay tác động của tỷ giá và xuất/nhập khẩu lên 1 nền kinh tế là cực kỳ đáng kể.
Xem tệp đính kèm 1092520
Tóm lại: lạm phát chỉ là 1 hiện tượng nó không tốt xấu gì cả, việc nó tác động lên cung-cầu trong hiện tại và tương lai như nào mới chính là vấn đề. Như vậy khi đưa ra chính sách không phải cứ nhìn hiện tượng mà áp công thức mà phải đánh giá chính sách tiền tệ đưa ra tác động thế nào lên cung-cầu hàng hóa thị trường.
So với hiện tại: Thời gian qua nhiều nước liên tục bơm tiền ra dẫn đến lạm phát nhưng nó rất khác bình thường vì nó không trải qua giai đoạn tăng trưởng nào nhờ bơm tiền cả mà thực tế cung-cầu còn giảm nữa, và lạm phát đến từ cả khan hiếm cung nên chính sách tiền tệ không có quá nhiều tác động đến lạm phát. Nên mục tiêu bây giờ các nước sau dịch là khôi phục cung-cầu, nhưng khôi phục cách nào? Thời gian qua nhà nước đã cố gắng phát tiền để giữ cho bên cầu không bị sụt giảm rồi, hiện tại cầu đã ở đáy nên chỉ có thể kích thích kinh tế từ phía cung, mà việc nâng lãi suất rõ ràng là bài toán bóp chết khôi cung nên tất cả các quốc gia châu Âu-Mỹ dù lạm phát rất kinh nhưng đều phải ghìm lãi suất lại, nếu không sẽ bước vào giai đoạn khủng hoảng suy thoái vì cầu không tăng mà cung bị bóp =>thu nhập người dân giảm => cầu nguy cơ giảm.
Việc chống lạm phát là quan trọng nhưng so với nguy cơ khủng hoảng suy thoái thì rõ ràng các nước sợ hơn nhiều. Lạm phát lên chung trên toàn thế giới thì cùng lắm set lại mặt bằng giá mới tương tự như giả định chính phủ phát tiền thôi vì tâm lí người dân trong giai đoạn thiên tai, dịch bệnh rất khác so với giai đoạn bình thường.
Mình nhắc một điều là các bạn học kinh tế phân tích vĩ mô thường phân tích theo kiểu công thức là có mệnh đề 1 thì suy ra mệnh đề 2 mà không hiểu rõ mối quan hệ giữa 2 mệnh đề. Điều này rất dễ hiểu vì đa số sách VN không viết rõ ràng và đầy đủ các nội dung khi dịch từ sách nước ngoài về, thứ 2 là VN đã quen cách học theo khuôn mà không quen việc phản biện và tự tìm tòi học. Thứ 2 là người làm chính sách người ta đặt trọng yếu ở kinh tế hàng hóa tức là cung-cầu, nêu 1 hiện tượng tài chính tiền tệ xảy ra (như lạm phát) mà nó không tác động đến cung-cầu thì họ cũng mặc kệ thôi chỉ can thiệp khi có nguy cơ, vậy nên các chỉ số tài chính tuy phổ biến vì nó dễ hiểu với nhiều người nhưng người ta lại càng đặt nặng các chỉ số liên quan đến kinh tế hàng hóa như chỉ số công nghiệp, chỉ số sức mua tiêu dùng, chỉ số hàng hóa dịch vụ, lương và thu nhập, rổ hàng mua.... Muốn phân tích vĩ mô phải kết hợp cả chỉ số tài chính và chỉ số phụ về kinh tế hàng hóa mới thấy được bức tranh thực sự.