Ăn Khế Trả Vàng

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Một lần lướt tiktok, thấy một clip hài khá vui, trong vai ông quan đang tra hỏi về việc "vàng có từ chim thần". Nên mình viết bộ này, theo thể loại trinh thám (lần đầu theo thể loại này)
Các tác phẩm cũ của mình
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Mợ Cả

List chương:
Chương 1 (1)
Chương 1 (2)
Chương 2 (1)
Chương 2 (2)
Chương 3 (1)
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9 (1)
Chương 9 (2)
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13 (1)
Chương 13 (2)
Chương 14 (1)
Chương 14 (2)
Chương 15 (1)
Chương 15 (2)
Chương 16 END (1)
Chương 16 END (2)

DONE bộ này
An Khe Tra Vang-0aaa1.webp
 
Sửa lần cuối:
Bà Tham còn 1 tình tiết nữa, cũng có vẻ khá quan trọng
Bà có đi nói với 1 người chủ nợ về chuyện con chim, tình tiết này cũng đáng ngờ lắm
Bà ấy la ầm lên đó chứ :)), lúc đó vì rối quá, bà ấy phải nói thế, để doạ đám chủ nợ là sẽ có vàng mà trả.

Bà Mận ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn lên trần nhà đen ngòm, thì thào như người mất hồn: "Lúc đổi nhà... chú ấy dặn kỹ lắm! Chú ấy bảo chuyện chim thần là chuyện bí mật, tuyệt đối không được kể cho ai nghe. Nếu không sẽ gặp tai họa. Có khi nào... vì con lỡ mồm kể chuyện này với chủ nợ, nên chồng con mới phải chết thảm thế này không? Là quả báo... là quả báo rồi ông Tham ơi!"
 
Bà ấy la ầm lên đó chứ :)), lúc đó vì rối quá, bà ấy phải nói thế, để doạ đám chủ nợ là sẽ có vàng mà trả.

Bà Mận ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn lên trần nhà đen ngòm, thì thào như người mất hồn: "Lúc đổi nhà... chú ấy dặn kỹ lắm! Chú ấy bảo chuyện chim thần là chuyện bí mật, tuyệt đối không được kể cho ai nghe. Nếu không sẽ gặp tai họa. Có khi nào... vì con lỡ mồm kể chuyện này với chủ nợ, nên chồng con mới phải chết thảm thế này không? Là quả báo... là quả báo rồi ông Tham ơi!"
Thực ra bà Mận cũng không phải đối tượng tình nghi nhiều, bà giống 1 nạn nhân của lòng tham hơn. Nên tạm thời em nghĩ có thể bỏ qua chi tiết này.

Nếu thể loại này thật sự là trinh thám thôi, không phải tâm linh hay siêu nhiên, thì em cảm giác khá giống với phim Thám Tử Kiên.
Đằng sau cái chết uẩn khúc của con Thắm chắc là 1 vụ tình ái căng thẳng.
Còn cái chết của ông Tham vẫn quá nhiều điều đáng ngờ, túi vàng, lông chim ở tay.
Người có động cơ gây án nhất trong cả 2 cái chết này, nếu không có nhân vật khác xuất hiện, vẫn chính là vợ chồng khầy Hiếu :)
 
Bà ấy la ầm lên đó chứ :)), lúc đó vì rối quá, bà ấy phải nói thế, để doạ đám chủ nợ là sẽ có vàng mà trả.

Bà Mận ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn lên trần nhà đen ngòm, thì thào như người mất hồn: "Lúc đổi nhà... chú ấy dặn kỹ lắm! Chú ấy bảo chuyện chim thần là chuyện bí mật, tuyệt đối không được kể cho ai nghe. Nếu không sẽ gặp tai họa. Có khi nào... vì con lỡ mồm kể chuyện này với chủ nợ, nên chồng con mới phải chết thảm thế này không? Là quả báo... là quả báo rồi ông Tham ơi!"
Cơ mà vote bác đổi màu lại sang màu tối, màu vàng này sáng đọc siêu đau mắt bác ạ. Với cả phần update lập luận thì theo em nên để chi tiết đáp quạt ra trước, rồi mới nói đến "hung thu thuận tay trái" thì hợp lý hơn
 
Thực ra bà Mận cũng không phải đối tượng tình nghi nhiều, bà giống 1 nạn nhân của lòng tham hơn. Nên tạm thời em nghĩ có thể bỏ qua chi tiết này.

Nếu thể loại này thật sự là trinh thám thôi, không phải tâm linh hay siêu nhiên, thì em cảm giác khá giống với phim Thám Tử Kiên.
Đằng sau cái chết uẩn khúc của con Thắm chắc là 1 vụ tình ái căng thẳng.
Còn cái chết của ông Tham vẫn quá nhiều điều đáng ngờ, túi vàng, lông chim ở tay.
Người có động cơ gây án nhất trong cả 2 cái chết này, nếu không có nhân vật khác xuất hiện, vẫn chính là vợ chồng khầy Hiếu :)
Đúng là với số lượng nhân vật ít, thì người bị nghi ngờ dễ thấy ghê haha
 
Đúng là với số lượng nhân vật ít, thì người bị nghi ngờ dễ thấy ghê haha
Một bộ truyện hay không phải lúc nào cũng cần plot twist bác ạ :D
Truyện trinh thám thì cái quan trọng nhất theo em là thủ đoạn ra tay, bằng chứng buộc tội, động cơ gây án đều logic, chặt chẽ rõ ràng. Plot twist có mà vẫn đảm bảo được các yếu tố trên nữa thì quá đỉnh rồi.
Em đang hi vọng đây sẽ là bộ truyện như thế. Bác đã viết xong chưa?
 
Chương 7

Giờ Dần, khi tiếng gà gáy đầu tiên vừa cất lên yếu ớt từ phía xa, sương muối vẫn còn phủ trắng xóa sân huyện đường Hoằng Hóa. Cái lạnh buổi sớm như những mũi kim châm vào da thịt, len lỏi qua những khe cửa gỗ mục nát của nhà lao huyện.

Bên trong ngục thất, không khí ẩm thấp, đặc quánh mùi rêu mốc, mùi xú uế và cả mùi sợ hãi của những kẻ tử tù. Ngọn đèn dầu lạc trên tường cháy leo lét, hắt những cái bóng ma quái lên vách đá đen sì.

"Cạch... Két..."

Cánh cửa gỗ lim nặng trịch rên rỉ mở ra. Hai tên lính ngục đang gà gật giật mình tỉnh giấc, vội vàng đứng nghiêm. Nhưng khi nhìn thấy người bước vào, họ suýt nữa thì bật cười nếu không kịp nhận ra cái uy quyền tỏa ra từ kẻ đó.

Đó là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn. Nhưng không phải trong bộ quan phục uy nghi, Cẩn xuất hiện với bộ dạng lén lút như một con chuột cống khổng lồ. Hắn mặc bộ đồ ngủ bằng lụa mỏng tang màu mỡ gà, khoác vội chiếc áo choàng đen bên ngoài để tránh sương, nhưng tà áo không che nổi cái bụng phệ trắng hếu đang rung rinh theo từng bước chân.

Hắn đưa ngón tay múp míp lên miệng ra hiệu im lặng, rồi hất hàm về phía cửa: "Tụi bây ra ngoài! Canh gác từ xa. Bản quan cần thẩm vấn mật tên tội phạm này. Kẻ nào dám bén mảng lại gần nghe trộm, ta cắt tai!"

Hai tên lính nhìn nhau, nuốt nước bọt rồi vội vã lui ra, đóng chặt cửa lại.

Trong phòng giam chỉ còn lại Cẩn và tên Sứa. Tên ngư dân tội nghiệp bị trói gô vào cột gỗ, đầu gục xuống ngực, đang mê man sau một đêm kinh hoàng.

Cẩn rón rén bước lại gần, nhìn ngó xung quanh như sợ có ai nhìn thấy. Hắn nhếch mép cười khẩy, vớ lấy cái gáo dừa trong chum nước rửa chân của tù nhân, múc một gáo đầy nước lạnh buốt.

"Ào!"

Hắn tạt thẳng gáo nước vào mặt Sứa.

"Hộc... hộc..." Tên Sứa sặc sụa tỉnh dậy, toàn thân run bắn lên vì lạnh. Hắn mở đôi mắt sưng húp, ngơ ngác nhìn bóng người to lớn trước mặt.

"Tỉnh chưa con?" Cẩn cúi xuống, dí sát khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi dầu vào mặt Sứa, giọng rít qua kẽ răng. "Tỉnh rồi thì nghe cho rõ đây. Tao không phải thằng Duy mọt sách mà nói chuyện đạo lý với mày. Tao hỏi một lần thôi: Cái túi vàng đâu?"

Sứa nhận ra Quan Tri Phủ, hắn sợ hãi co rúm người lại, lắp bắp: "Dạ... bẩm quan lớn... oan cho con lắm! Con đã khai rồi mà... Cái túi ấy nặng quá, thằng Hến ôm rồi trượt chân... chìm nghỉm xuống biển rồi ạ! Con không giữ được đồng nào cả!"

Cẩn nghe thế thì điên tiết. Cơn giận và lòng tham làm mặt hắn đỏ gay lên như gấc chín. Hắn vớ lấy một thanh kìm sắt, nhưng thấy lích kích, hắn quẳng đi và chộp lấy một chiếc kẹp ngón tay bằng gỗ lim cứng ngắc.

"Nói láo! Mày tưởng lừa được ông à?" Cẩn nghiến răng, tròng mắt long sòng sọc. "Tiền vào tay chúng mày mà chịu nhả ra cho hà bá à? Tao lạ gì cái giống dân chài chúng mày, tham như mõ!"

"Dạ không... con thề..."

"Thề cái mả cha mày!"

Cẩn thô bạo nắm lấy bàn tay trái của Sứa, nhét ngón trỏ của hắn vào giữa hai thanh gỗ của cái kẹp. Hắn dùng hết sức bình sinh của cái thân hình hộ pháp, siết mạnh dây thừng.

"Rắc..."

Tiếng xương ngón tay bị ép chặt kêu lên khô khốc.

"ÁÁÁÁ!!!"

Tiếng hét thất thanh của Sứa vang vọng trong căn ngục tối, nhưng nhanh chóng bị Cẩn dùng vạt áo nhét vào mồm chặn lại. Sứa trợn ngược mắt, mồ hôi vã ra như tắm, nước mắt nước mũi giàn giụa vì đau đớn tột cùng.

Cẩn ghé sát tai Sứa, thì thầm giọng của ác quỷ: "Sao? Nhớ ra chưa? Hay để tao kẹp nát từng ngón tay mày, rồi cắt luôn cái lưỡi nói điêu này nhé?"

Hắn nới lỏng cái giẻ trong miệng Sứa ra một chút, tay kia vẫn giữ chặt cái kẹp, dọa siết thêm một vòng nữa.

Sứa thở hắt ra, toàn thân run rẩy, ý chí kháng cự đã bị đập tan nát. Giữa cái mạng quèn và hũ vàng, hắn đành chọn cái mạng.

"Quan... quan tha mạng!" Sứa khóc nấc lên, giọng méo xệch. "Con khai... con khai! Con lén giấu được... một thỏi... Con nhét trên mái tranh... chỗ cái kèo thứ hai... nhà con ở bến cá... Còn cái túi to thì chìm thật rồi ạ! Con chỉ kịp rút được một thỏi thôi!"

Đôi mắt híp của Cẩn bỗng mở to hết cỡ, sáng rực lên trong bóng tối như mắt mèo thấy mỡ.

"Một thỏi? Mày chắc chứ?"

"Dạ... con thề độc! Nếu sai quan cứ chém đầu con!"

Cẩn buông tay Sứa ra, đứng thẳng dậy. Hắn thở hồng hộc vì mệt sau màn tra tấn, nhưng trong lòng thì đang nhảy múa reo vui. Một thỏi vàng! Mà thằng này tham thế, chắc chắn không chỉ có một thỏi đâu. Biết đâu nó giấu cả đống trên mái nhà rách nát ấy?

Hắn liếc nhìn tên tù đang quằn quại, tâm trí xoay chuyển vạn biến. Nếu lúc này phát lệnh cho lính lệ đi thu hồi, ắt phải lập án sức trình báo, của cải đưa vào kho sung công, lại phải chia phần cho thằng Duy, rồi còn phải tấu trình lên triều đình... Đến lúc đó, số vàng này lọt vào tay hắn phỏng chừng chẳng còn lại được mấy phần.


"Không được! Vàng là của ta! Của thiên trả địa, nhưng vào túi ông là của ông!"

Cẩn lầm bầm, ánh mắt lộ rõ vẻ tham lam quyết liệt. Hắn quyết định phải đi lấy ngay lập tức. Và phải đi một mình. Phải "vi hành" để không thằng nào biết mà xâu xé miếng mồi ngon này.

Hắn xốc lại cái áo choàng, lườm tên Sứa một cái sắc lẹm: "Mày câm cái mồm lại. Hé răng ra với ai về thỏi vàng này, tao sẽ quay lại cho mày nếm mùi nhục hình sống không bằng chết, róc xương lột da mày ra, khiến mày hối hận vì đã được sinh ra, nghe chưa?"

Nói rồi, Cẩn quay người, cái bóng phục phịch lanh lẹ lẩn vào bóng tối, bỏ mặc tên tù nhân đau đớn trong ngục thất lạnh lẽo. Bên ngoài, trời vẫn chưa sáng hẳn, màn sương mù dày đặc là vỏ bọc hoàn hảo cho một chuyến "vi hành" đầy toan tính.

Nơi góc khuất tối tăm của kho chứa đồ sai nha phía sau hậu đường, Lê Khắc Cẩn lén lút lẻn vào, tay vẫn ôm khư khư chiếc áo choàng đen, mắt láo liên canh chừng như một tên gian phi chính hiệu.

Hắn vội vã cởi bỏ lớp áo choàng lụa là, rồi lột luôn cả bộ đồ ngủ bằng gấm mịn màng giá đáng cả chục lạng bạc. Thân hình phục phịch, trắng nhễ nhại của gã quan phủ lộ ra dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm mai, trông chẳng khác nào một con heo đang run rẩy trước gió lạnh.

"Hừ, vì nghiệp lớn... ta đành chịu nhục một chút." Cẩn lầm bầm, tay quờ quạng trong đống đồ cũ, vớ lấy một bộ quần áo vải thô màu nâu sồng, vốn là đồ của đám lính tạp dịch chuyên việc quét dọn, bốc vác.

Thế nhưng, việc mặc bộ đồ này đối với Cẩn lại là một cực hình. Hắn vất vả nín thở, hóp cái bụng phệ để xỏ chân vào chiếc quần vải thô. Một tiếng "xoạt" khẽ vang lên làm hắn giật mình thót tim, nhưng may thay chỉ là tiếng vải cọ xát. Chiếc quần vốn dành cho hạng dân đen gầy gò, khi vận vào đôi chân củ chuối của Cẩn bỗng trở nên hụt hẫng, ngắn cũn cỡn, chỉ che vừa quá đầu gối, để lộ ra bắp chân trắng hếu đầy lông lá.

Đến lượt chiếc áo ngắn. Cẩn cố hết sức kéo hai vạt áo lại gần nhau, nhưng cái bụng mỡ phì phèo của hắn như muốn phản chủ, cứ trương phình ra che lấp cả hàng cúc gỗ. Hắn cố cài, nhưng chiếc cúc vừa chạm vào khuyết đã "phựt" một tiếng, bay vèo vào góc tối. Vạt áo hở toác, để lộ ra cái rốn sâu hoắm và mảng bụng nhễ nhại mồ hôi, trắng hếu một cách dị hợm.

Cẩn chép miệng đầy ngán ngẩm, vớ lấy cái nón mê rách tươm, vành nón đã sờn rách tả tơi, đội sụp xuống che gần hết khuôn mặt bóng nhẫy. Hắn nhìn bóng mình mờ ảo qua tấm gương đồng hoen ố nơi góc phòng, rồi tự nhủ: "Trông thế này... chắc chẳng ai nhận ra Quan Phủ đại nhân lừng lẫy đâu nhỉ?"

Hóa trang xong xuôi, Cẩn bắt đầu thực hiện cuộc đào thoát khỏi huyện đường. Hắn không dám đi cổng chính, nơi đám lính lệ đang đứng nghiêm trang. Hắn mò mẫm ra phía bức tường bao sau vườn, nơi có một lỗ hổng chân tường vốn là lối đi của lũ chó hoang, nhưng đã bị bụi rậm che lấp.

Cẩn nhìn bức tường cao, lại nhìn cái bụng mình, khẽ lắc đầu. Hắn quyết định chọn phương án... chui xuống. Hắn phủ phục xuống đất, bùn đất bám đầy vào lớp áo vải thô, rồi bắt đầu lách thân hình đồ sộ qua lỗ hổng.

"Hự... hộc..."

Tiếng thở hồng hộc vang lên nặng nề. Cái bụng phệ của hắn bị kẹt cứng giữa hai hàng gạch lạnh lẽo. Cẩn mặt đỏ tía tai, hai tay cào cấu xuống đất, cố hết sức bình sinh để đẩy mình qua. Sau một hồi vật vã, cùng với tiếng vải rách "rẹt rẹt" đau đớn ở vùng hông, hắn cũng thoát được ra ngoài.

Cẩn nằm vật ra bãi cỏ ven đường, mồ hôi vã ra như tắm, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Hắn lồm cồm bò dậy, chỉnh lại cái nón mê, rồi lấm lét nhìn quanh trước khi lẩn vào màn sương sớm, hướng thẳng về bến cá Vọng Khê. Hình ảnh Quan Tri Phủ oai phong ngày nào giờ đây chỉ còn là một gã béo phì lếch thếch, vừa đi vừa thở dốc, mắt long sòng sọc vì giấc mộng thỏi vàng.



Trời vừa tờ mờ sáng, những tia sáng đầu ngày bắt đầu le lói hiện ra phía chân trời xa tít tắp. Không khí se lạnh quyện vào mùi cá mắm, tôm khô đặc trưng của làng chài, tạo thành một thứ mùi nồng ngái khó tả dưới ánh bình minh chưa kịp ấm. Bến cá Vọng Khê lúc này tĩnh mịch, chỉ có tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền bì bõm và tiếng mấy con chó gầy gò sủa váng lên khi thấy một bóng người kỳ dị, lếch thếch đang tiến vào làng.

Lê Khắc Cẩn, trong bộ dạng lếch thếch, cái bụng trắng hếu cứ phập phồng sau vạt áo nâu rách rưới, vừa đi vừa lấy tay quệt mồ hôi bóng nhẫy trên mặt mặc dù trời vẫn còn hơi sương. Hắn chặn đầu một bà lão đang ngồi vá lưới sớm bên đường, giọng hổn hển: "Này bà lão... nhà hai anh em thằng Sứa, thằng Hến ở xó nào?"

Bà lão nheo đôi mắt kèm nhèm, nhìn gã đàn ông phục phịch, ăn mặc hở hang hụt hẫng trước mặt với ánh mắt đầy vẻ ngờ vực. Bà nhổ toẹt một bãi nước trầu xuống đất, rồi chỉ tay về phía cuối bãi cát, nơi có túp lều rách nát nhất xóm: "Cái quân vô lại ấy hả? Ở tận xó kia kìa. Mà ông tìm chúng nó làm gì? Hai thằng ấy thì có tiếng gì đâu, suốt ngày chửi bới, đánh đấm nhau như chó với mèo, chẳng bao giờ thấy hòa thuận nổi một ngày. Đúng là cái thứ anh em nhà ấy, mà nghe đâu tối qua chúng nó bị quan bắt rồi..."

Cẩn chẳng buồn nghe hết câu, hắn hừ một tiếng rồi lạch bạch chạy đi. Bà lão đứng nhìn theo cái bóng phục phịch đang hớt hải đi xa dần, đôi mắt nheo lại đầy cảnh giác. Bà lẩm bẩm: "Tướng tá béo múp mà mặc đồ rách nát, mặt thì lấm lét như thằng ăn trộm. Quân này chắc chắn là đồ bất lương!"

Nói đoạn, bà lão bỏ dở mảnh lưới, lật đật chạy lại phía mấy chiếc thuyền nan đang chuẩn bị ra khơi, gọi khẽ mấy gã trai tráng: "Này chúng mày ơi! Có thằng béo lạ lắm vừa lẻn vào xóm mình, nó hỏi nhà thằng Sứa. Mau cầm đòn gánh theo tao, không nó vơ vét sạch của cải của dân chài mình bây giờ!" Đám thanh niên nghe thế thì hừng hực khí thế, vớ lấy mái chèo, gậy gộc, âm thầm bám gót theo sau gã khách lạ.

Trong khi đó, Cẩn vẫn chẳng hề hay biết mình đang là mục tiêu bị săn đuổi. Hắn lẻn vào túp lều rách nát của anh em Sứa. Mùi ẩm mốc và hôi hám xộc thẳng vào mũi làm hắn muốn nôn mửa, nhưng mắt hắn thì lại sáng rực lên. Hắn nhìn lên cái kèo thứ hai nơi mái tranh. Cao quá! Với cái thân hình tạ rưỡi này, làm sao mà với tới?

Cẩn nhìn quanh, thấy một cái chõng tre cũ kỹ, chân đã mọt rỗng, nằm chỏng chơ giữa lều. Hắn khệ nệ khênh cái chõng lại gần, rồi đánh bạo trèo lên.

"Rắc... rắc... rắc..."

Tiếng tre nứa rên rỉ thảm thiết dưới sức nặng kinh hồn của Quan Phủ. Cẩn nín thở, hai tay bám chặt vào cột lều, mồ hôi vã ra như tắm. Hắn run rẩy đứng thẳng người lên, đôi tay múp míp bắt đầu sờ soạng, móc mẻ nát cả lớp tranh mục.

"Đây rồi! Ha ha... đây rồi!"

Ngón tay hắn chạm vào một vật cứng, lạnh và nặng. Cẩn run rẩy lôi nó ra. Một thỏi vàng! Lấp lánh dưới tia nắng mờ nhạt rọi qua kẽ mái. Cơn tham lam bùng nổ, gạt phăng mọi sự tôn nghiêm của một bậc quan phụ mẫu. Cẩn ôm khư khư thỏi vàng vào lòng, mắt trợn trừng, rồi không kìm lòng được, hắn đưa thỏi vàng lên miệng "hôn chụt chụt" liên hồi. Nước miếng của gã quan tham chảy ròng ròng, quyện với bụi trần và mồ hôi nhễ nhại trên thỏi vàng, trông vừa bẩn thỉu vừa ghê tởm.

"Vàng! Vàng của ta! Ha ha... Thằng Sứa khốn kiếp, dám bảo có một thỏi. Chắc chắn mày còn giấu cả đống ở đây!"

Sự tham lam làm hắn hóa điên. Cẩn bắt đầu gào thét, hai tay cào cấu điên cuồng vào mái tranh như một con lợn rừng bị trúng độc. Hắn giật, hắn kéo, hắn phá tan nát lớp mái tranh mục nát để tìm kiếm thêm.

"RẦM!"

Sức chịu đựng của túp lều đã tới hạn. Cả một mảng mái tranh lớn cùng cái kèo gỗ mục đổ sập xuống. Cẩn không kịp kêu một tiếng, hắn cùng cái chõng tre tan nát ngã lộn nhào xuống đất. Bụi mù mịt bốc lên, lớp rơm rạ mục nát phủ kín lên thân hình mập của hắn.

Tiếng động kinh thiên động địa đã khiến đám trai tráng làng chài đang phục sẵn ở ngoài ập vào. Họ đạp cửa xông tới, và hiện ra trước mắt họ là một cảnh tượng không thể tin nổi. Giữa đống đổ nát, một gã béo ú, mặt mũi đen sạm bụi bặm, quần áo rách bươm để lộ cả mảng bụng và mông trắng hếu, đang loay hoay bò dậy. Trong tay gã vẫn nắm chặt một vật vàng chóe.

"Trộm! Là một thằng trộm béo! Nó phá nhà anh em thằng Sứa để trộm!" một thanh niên hô lớn.

Đám đông vây kín lấy Cẩn. Một gã ngư dân nheo mắt nhìn thỏi vàng rồi thắc mắc đầy mỉa mai: "Ơ hay lạ nhỉ? Hai thằng Sứa với thằng Hến nghèo rớt mồng tơi, đến hạt gạo còn không có mà nấu cháo, quanh năm ăn cơm với muối trắng, lấy đâu ra vàng ròng để thằng này phải trèo nóc nhà mà ăn trộm? Chẳng lẽ chúng nó giấu giàu mà lừa cả xóm mình à?"

"Đúng đấy! Nhà rách nát thế này mà cũng có vàng cơ à?" Một người khác đế thêm. "Mà mặc kệ! Vàng hay gạch thì cái gã này cũng đã dỡ nát nhà người ta rồi. Đánh! Đánh chết thằng trộm béo này đi!"

"Dừng tay! Lũ dân đen!" Lê Khắc Cẩn gào lên, mặt đỏ tía tai vì hốt hoảng. "Ta là Quan Tri Phủ... Ối!"

Một cú đấm thôi sơn từ một gã ngư dân lực lưỡng giáng thẳng vào hốc mắt trái của Cẩn. Gã quan huyện lảo đảo, cái thân hình tạ rưỡi ngã rầm xuống đống rơm rạ như một bao tải mỡ bị đánh đổ. Hắn đau đớn ôm mặt, mếu máo: "Các ngươi... thật là to gan lớn mật! Ta nói thật mà... Ta là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn... Ta đi vi hành để bắt... bắt quân gian..."

"Vi cái mả cha mày!" Một gã trai làng khác nhảy tới, dùng cái mái chèo bằng gỗ quật mạnh một phát chí mạng vào vùng mông trắng nhễ nhại đang lộ ra sau vạt áo rách của Cẩn.

Tiếng "chát" vang lên giòn giã khô khốc. Cẩn nảy người lên như một con cá trắm gặp cạn, rồi lại ngã dúi dụi vào vũng bùn đất tanh tưởi ngay chân chõng tre. Hắn lồm cồm bò dậy, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng quyện với bụi trần trông cực kỳ thảm hại: "Ta nói thật... Các ngươi gọi... gọi quan huyện Nguyễn Duy ra đây... Hắn là đồng môn của ta... Hắn sẽ cho các ngươi ở tù..."

"Lại còn dám lôi cả quan huyện ra để hù dọa dân lành à?" Một bà bán cá sấn tới, táng một cái bạt tai trời giáng khiến đầu Cẩn ngoẹo sang một bên, chiếc nón mê rách nát bay mất xác, lộ ra cái đầu hói bóng nhẫy đang bết bát rơm rạ và bồ hóng. "Quan phủ nào mà lại bụng phệ hở rốn, trèo nóc nhà dân trộm vàng lúc tờ mờ sáng? Nhìn mày giống thằng đồ tể đi ăn đêm hơn đấy! Đánh cho nó bớt mồm đi!"

Cẩn đau đớn gào khóc, định dùng chút sức tàn để bỏ chạy nhưng cái thân hình phục phịch lại khiến hắn vấp phải chiếc chân chõng tre đã gãy, ngã sập mặt xuống bãi cá.

"Tang vật rành rành trên tay còn dám chối!" Đám trai làng hùa nhau dùng chân đạp túi bụi vào cái mạng mỡ của gã quan tham. Cẩn lăn lộn dưới đất như một con sâu béo, miệng cứ há ra định thanh minh là lại bị một cái đế giày bẩn thỉu nhét đầy cát biển tọng vào mồm khiến gã ú ớ không thành tiếng.

Đúng lúc Cẩn sắp lả đi vì đau đớn và nhục nhã, bà lão lúc đầu xách theo một xô nước rửa cá tanh tưởi, đen ngòm còn sót lại từ đêm qua, tạt thẳng một phát cực mạnh vào mặt hắn.

"Tỉnh chưa con? Cho mày tỉnh cái thói trộm cắp mà còn dám mạo danh quan lại này! Đồ mặt lợn!"

Cẩn bị sặc nước cá, mùi tanh tưởi nồng nặc lọt cả vào thực quản làm hắn nôn thốc nôn tháo, toàn thân tím tái, sưng húp như một con lợn bị quay hỏng. Dân làng không thèm nghe hắn rên rỉ thêm, họ vớ lấy một sợi dây thừng lớn dùng để buộc thuyền, trói gô Cẩn lại như trói thú rừng.

"Khiêng nó lên! Đem nộp cho quan huyện để trị tội mạo danh và trộm cắp!"

Thế là, Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn đại nhân, lừng lẫy một thời, giờ đây bị đám dân chài khiêng đi như một con lợn cúng, đầu chúc xuống đất, miệng vẫn còn lảm nhảm kêu oan trong tiếng cười nhạo của cả xóm chài Vọng Khê lúc bình minh vừa hé rạng.



Nắng sáng chiếu xiên qua cửa lớn của đại sảnh công đường, rọi lên những hàng cột gỗ lim bóng loáng nhưng không làm dịu đi bầu không khí căng thẳng đang đặc quánh lại. Nguyễn Duy ngồi uy nghi trên ghế chủ tọa, gương mặt chàng đanh lại như tạc đá, đôi mắt phượng sắc lẹm không rời khỏi người nam nhân đang ngồi phía dưới.

Thầy Đề Lĩnh ngồi bàn bên cạnh, tay cầm bút lông run run, nghiên mực đã được mài đen lánh. Hai hàng lính lệ đứng nghiêm trang, tay lăm lăm giáo mác, nhưng ánh mắt đứa nào đứa nấy đều thấp thỏm, tai dỏng lên như sợ bỏ lỡ một lời nào. Giữa khoảng sân rộng, thầy đồ Hiếu ngồi trên chiếc ghế dành cho nhân chứng. Thầy vẫn giữ phong thái ung dung, chiếc áo dài thâm phẳng phiu, đôi bàn tay thư sinh đan vào nhau đặt trên gối, gương mặt thanh tú không một chút gợn sóng.

Nguyễn Duy khẽ gõ nhẹ xuống bàn, giọng nói vang vọng khắp sảnh: "Thầy Hiếu, thầy có biết vì sao hôm nay ta lại mời thầy đến nơi công đường này không?"

Hiếu khẽ cúi đầu chào theo lễ tiết của kẻ sĩ, giọng điệu điềm tĩnh đáp: "Bẩm quan lớn, thảo dân thiết nghĩ... có lẽ là vì chuyện của chị dâu thảo dân, bà Mận, đang bị giam giữ trong ngục chăng?"

Nguyễn Duy nheo mắt, chàng chăm chú quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt của người đối diện rồi hạ giọng, từng lời thốt ra nặng nghìn cân: "Cũng có phần đúng. Nhưng quan trọng hơn, nha môn vừa mới nhận được tin dữ. Hôm qua, đã tìm thấy thi thể của anh trai thầy, ông Tham, trôi dạt vào hang đá hoang lạnh ngoài đảo Hòn Mê."

Một khoảng lặng chết chóc bao trùm công đường. Nguyễn Duy dán chặt mắt vào Hiếu, chờ đợi một dấu hiệu trong vẻ ngoài hoàn hảo kia. Lần này, sự điềm tĩnh của thầy Hiếu thực sự bị rạn nứt. Y sững lờ, đôi mắt mở to ngơ ngác như không tin vào tai mình. Gương mặt y tái nhợt, đôi môi mím chặt run rẩy một hồi lâu mới thốt ra được thành lời: "Quan lớn... người nói gì? Anh trai thảo dân... chết rồi sao? Chuyện này... làm sao có thể xảy ra được? Anh ấy vốn là người cẩn trọng, sao lại có thể bỏ mạng nơi biển khơi lạnh lẽo như thế? Mà còn là đảo Hòn Mê... vốn là nơi hoang vắng không bóng người, anh ấy ra đó để làm gì mà nên nông nỗi này?"

Nguyễn Duy dõng dạc hô lớn: "Tại sao ông ta chết ở đó, có lẽ thứ này sẽ cho thầy câu trả lời. Người đâu! Mang ra đây!"

Một tên lính lệ bưng chiếc khay gỗ phủ vải điều đỏ bước ra giữa công đường. Khi tấm vải được lật lên, một tiếng xì xào kinh ngạc vang lên từ đám lính và người hầu. Chiếc lông chim đen khổng lồ, dài hơn cả gang tay, mượt như nhung nhưng toát ra ánh kim khí lạnh lẽo nằm trơ trọi dưới ánh sáng ban ngày.

Nguyễn Duy đập mạnh thanh gỗ trắc xuống bàn án: "Thầy Hiếu! Thầy hãy nhìn cho kỹ. Đây chính là vật chứng được tìm thấy trong bàn tay đã nát rữa của ông Tham. Ta muốn thầy giải thức rõ ràng trước sự chứng kiến của toàn bộ nha môn: Một con chim như thế nào lại có thể để lại chiếc lông cứng như thép này trên tay người chết?"

Hiếu khẽ nhướng mày, ánh mắt thầy đồ chạm vào chiếc lông chim trong một khoảnh khắc rồi từ từ cụp xuống.

Nguyễn Duy nói thêm: "Chưa hết! Nhân chứng tại hiện trường còn khẳng định, ông Tham chết khi tay vẫn sống chết giữ chặt quai của một chiếc túi vải khổng lồ rộng mười gang tay. Dù chiếc túi đã bị bọn ngư dân làm rơi xuống biển, nhưng chúng khai rằng bên trong đó chứa đầy vàng ròng. Bà Mận, chị dâu thầy luôn miệng gào lên về một con 'Chim Thần' ăn khế trả vàng. Bà ấy còn nói... chính thầy là người đầu tiên được con chim ấy chở đi lấy vàng. Thầy giải thích sao về việc này?"

Không gian tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng gió rít qua kẽ lá đa ngoài sân. Hiếu bỗng thở dài một tiếng thật dài, nét mặt chuyển sang vẻ u sầu bi thiết. Thầy đứng dậy, vén vạt áo quỳ thụp xuống giữa công đường, giọng nói vang vọng, trầm buồn nhưng rành rọt từng chữ:

"Bẩm quan lớn... thảo dân vốn muốn mang bí mật này xuống mồ để giữ sự bình yên cho làng Vọng Khê, nhưng nay sự đã thành ra thế này, thảo dân không dám giấu giếm nữa. Quả thực... có Chim Thần tồn tại."

Đám lính lệ ồ lên kinh ngạc. Thầy Đề Lĩnh suýt nữa đánh rơi chiếc bút lông xuống bản tờ khai. Thầy đồ Hiếu tiếp tục, giọng như đang kể một câu chuyện từ cõi xa xăm: "Vào một lần hồi năm ngoái, chim thần bỗng dưng bay đến ăn khế nhà thảo dân. Thấy thảo dân nghèo khó nhưng luôn dốc lòng dạy chữ cho trẻ thơ, nó cảm động mà nói tiếng người: 'Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng'. Thảo dân làm theo và quả nhiên được hưởng lộc trời. Thảo dân nghĩ, lộc trời cho thì anh em cốt nhục phải cùng nhau hưởng. Nên khi anh chị Tham ngỏ ý muốn được gặp chim thần, muốn đổi nhà để chăm sóc cây khế, thảo dân đã vui vẻ đồng ý ngay, mong anh chị cũng được sung túc.”

Thầy Hiếu bỗng khựng lại, đôi mắt bàng hoàng nhìn Nguyễn Duy như sực nhớ ra điều gì đó vô cùng kinh khủng, giọng run bần bật: "Thưa quan... lúc nãy quan nói anh Tham mang theo cái túi mười gang phải không ạ? Trời đất ơi! Chim Thần dặn thảo dân rõ ràng là chỉ được may túi ba gang thôi... Lẽ nào... lẽ nào vì anh ấy mang túi mười gang trái lời thần linh... mà Chim Thần đã phẫn nộ... hại chết anh ấy... Ôi anh ơi là anh ơi!"

Y gục đầu xuống sàn công đường, tiếng nấc nghẹn ngào vang vọng. Thầy Hiếu nức nở: "Thảo dân đau xót đến thấu xương gan, vốn định chia sẻ lộc trời, nào ngờ lại thành ra hại chết anh mình thế này!"

Lính lệ và người hầu nghe đến đây thì mặt mày biến sắc, kẻ thì tin là thật, người thì run sợ trước sự hiển linh của thần thánh. Thầy Đề Lĩnh tay viết thoăn thoắt, mồ hôi vã ra như tắm vì đang ghi lại một câu chuyện cổ tích ngay giữa công đường.

Nguyễn Duy đập mạnh xuống bàn, ánh mắt sắc như dao: "Nếu quả thật có chuyện linh dị như vậy, tại sao ngay từ khi nha môn bắt đầu điều tra vụ án mạng, thầy lại im lặng? Việc che giấu thông tin về phương tiện di chuyển và nguồn gốc số vàng khổng lồ của nạn nhân chẳng phải là đang cố tình cản trở quá trình điều tra của pháp đình hay sao?"

Hiếu vẫn quỳ dưới sàn, y ngước lên nhìn Duy với ánh mắt đầy vẻ khổ tâm: "Bẩm quan lớn, chuyện Chim Thần vốn dĩ vô cùng hoang đường. Kẻ sĩ như thảo dân, nếu nói ra những điều huyền bí ấy giữa chốn công môn, e rằng người đời sẽ cười chê thảo dân là kẻ mê tín dị đoan, hoặc tệ hơn là bị khép vào tội hoang ngôn đại trá. Hơn nữa, thảo dân cũng lo sợ mạo phạm đến thần linh mà rước họa vào thân. Nếu không phải vì anh thảo dân đã bỏ mạng, thảo dân thà mang bí mật này xuống mồ chứ đâu dám hé môi nửa lời?"

Nguyễn Duy nhìn xoáy vào mắt Hiếu, nụ cười nhạt hiện trên môi: "Lý lẽ của thầy thật trôi chảy. Nhưng thầy có biết, Quan Tri Phủ đại nhân đang ở hậu đường đã phán rằng: Bà Mận vì ghen tuông mà giết chết mẹ con con Thắm, rồi giết luôn cả ông Tham để chiếm đoạt vàng? Chị dâu thầy sẽ bị trảm quyết trong bảy ngày tới vì tội giết ba mạng người. Nếu ngay từ đầu thầy chịu khai báo, có lẽ mọi chuyện đã không đi đến bước đường cùng này. Bản thân ta vẫn thấy vụ án này còn quá nhiều điểm bí ẩn chưa lời giải, thầy nỡ lòng nào để người nhà mình chết oan sao?"

Hiếu bỗng bàng hoàng ngẩng mặt lên, đôi mắt mở to đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn thống khổ. Y lắp bắp hỏi lại trong tiếng nấc nghẹn: "Ba mạng người? Mẹ... mẹ con cô Thắm? Bẩm quan, ý người là cô Thắm đã có mang ư? Trời đất ơi, thảo dân thật không hề hay biết chuyện này. Chị dâu thảo dân... bà ấy sao có thể nhẫn tâm đến mức giết cả một sinh linh chưa kịp chào đời? Thật là oan nghiệt quá! Nếu quả đúng như lời phán quyết của bề trên, thì tội ác này thật tày trời, thảo dân phận hèn sao dám lạm bàn can thiệp. Chỉ xin trời cao và luật pháp công minh soi xét cho sự thật, thảo dân chỉ biết thành tâm khai báo những gì tai nghe mắt thấy về Chim Thần mà thôi."

Nguyễn Duy đập bàn đứng phắt dậy: "Thầy Hiếu! Còn chuyện này, thầy hãy nghe cho rõ, theo luật triều đình, phàm là vàng bạc châu báu vô chủ tìm thấy trong đất, hay tài nguyên ngoài đảo xa đều là của báu quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Đức Vua. Thầy tự ý lấy, tàng trữ số lượng vàng lớn mà không bẩm báo, đó là tội 'Khi quân', nhẹ thì tịch thu gia sản, nặng thì tru di. Thầy định lấy cái gì để bảo lãnh cho cái mạng của mình?"

Công đường lại một lần nữa rơi vào sự im lặng đáng sợ. Nhưng Hiếu từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt y không có lấy một chút sợ hãi: "Bẩm quan huyện, thảo dân biết rõ luật lệ. Chính vì thế, số vàng mang về, thảo dân phần lớn đã đem phân phát cho dân nghèo, coi như thay mặt triều đình ban ơn cho con dân vùng biển này. Phần còn lại, thảo dân dùng để trả nợ cho anh chị Tham, trả lại sự công bằng cho xóm làng. Thảo dân chẳng giữ lại bao nhiêu cho riêng mình, sao gọi là tàng trữ trái phép? Hơn nữa..."

Người thầy đồ hạ thấp giọng, nhưng lời nói như sương lạnh thấm vào xương tủy: "Vàng này là của Thần Linh ban tặng, có 'vía' rất nặng. Quan xem, anh trai thảo dân vì muốn giữ số vàng nhiều hơn nên mới bỏ mạng ngoài hang đá lạnh lẽo kia. Thảo dân sợ rằng... nếu quan cho tịch thu số vàng ấy về kho nha môn, lỡ mạo phạm thần linh, mang theo cái 'nghiệp' của người chết... thì thật là tai họa cho các quan. Thần linh cho vàng để cứu dân, chứ không cho vàng để làm giàu ạ."

Lời lẽ của Hiếu buông ra nhẹ bẫng nhưng lại có sức nặng ngàn cân, khiến bầu không khí nơi công đường bỗng chốc trở nên liêu trai, huyền ảo. Đám lính lệ đứng xung quanh kẻ nào kẻ nấy mặt mày xám ngoét, tay cầm giáo mà lòng run rẩy vì sợ phạm phải "vía". Nguyễn Duy nheo mắt nhìn sâu vào đôi đồng tử bình thản của thầy đồ, chàng nhận ra mình đang đối diện với một ván cờ tâm lý cực kỳ hiểm hóc.

Không khí nơi công đường đang trầm mặc sau những lời lẽ đanh thép và đầy ma mị của thầy đồ Hiếu thì bỗng dưng bị phá vỡ bởi tiếng hò hét huyên náo vọng lại từ phía cổng huyện đường. Tiếng bước chân rầm rập quyện lẫn tiếng chửi bới của đám đông mỗi lúc một gần.

"Bẩm quan! Bắt được trộm rồi! Chúng con bắt được tên trộm béo ạ!"

Một toán trai tráng bến cá Vọng Khê, mặt mày hừng hực khí thế, khiêng một cái đòn tre lớn tiến thẳng vào giữa sân công đường. Họ quăng mạnh "vật thể" đang bị trói gô như lợn cúng xuống đất, ngay trước mặt Nguyễn Duy, Thầy Đề và thầy Hiếu.

"Rầm!"

Một "khối thịt" bầm dập, lấm lem bùn đất, rơm rạ và bốc lên mùi nước rửa cá tanh tưởi nằm vật ra đó. Nguyễn Duy nheo mắt, chàng sững sờ khi nhìn thấy bộ quần áo nâu sồng rách bướm để lộ mảng bụng trắng hếu giờ đã tím tái vì đòn roi. Khi cái nón mê rách nát rơi ra, lộ ra gương mặt sưng húp như cái đầu lợn, Duy kinh hoàng nhận ra đó chính là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn.

"Lũ các người mù mắt hết rồi sao? Mau! Mau gỡ trói cho đại nhân ngay lập tức!" Nguyễn Duy quát lớn, vội vã rời ghế chủ tọa lao xuống sân.

Chàng quỳ xuống bên cạnh Cẩn, đôi tay run rẩy gỡ những vòng dây thừng siết chặt vào lớp mỡ của quan Phủ. Duy nhìn bộ dạng nhếch nhác của đồng môn, vừa xót xa vừa không nén nổi sự kinh ngạc, chàng hỏi khẽ: "Lê huynh! Huynh đường đường là một bậc đại quan, sao lại ăn mặc như vầy, làm gì mà ra nông nỗi này?"

Lê Khắc Cẩn ngước đôi mắt sưng húp nhìn Duy, hơi thở nồng nặc mùi nước cá, thều thào trong đớn đau: "Duy ơi... cứu ta... Sáng sớm nay ta xuống nhà lao tra hỏi thằng Sứa... Hắn nói còn lén giấu được một thỏi vàng rút từ cái túi mười gang của ông Tham... nhét trên mái nhà ở bến cá. Ta mới cải trang đi lấy một mình để làm vật chứng... Ai ngờ lũ dân đen này... chúng nó định đánh chết ta rồi..."

Tiếng thều thào của Cẩn tuy nhỏ nhưng giữa không gian công đường đang im phăng phắc, nó lại vang lên rõ mồn một. Gã ngư dân vừa dâng thỏi vàng nghe thấy thì run bắn người, thỏi vàng rơi "keng" xuống đất, lăn lóc dưới chân Duy.

"Cái gì? Quan... Quan Tri Phủ?"

"Cái gã béo... à không, vị đại nhân này là Quan Tri Phủ thật sao?"

Sự thật kinh hoàng ập đến khiến cả đám đông đồng loạt quỳ sụp xuống như rạ gặp bão. Những tiếng hô hoán đắc thắng ban nãy giờ chuyển thành những tiếng răng đập vào nhau cầm cập. Họ dập đầu xuống đất lia lịa, giọng run bần bật: "Lạy quan lớn! Oan cho chúng con quá! Chúng con cứ ngỡ là tên trộm béo lẻn vào làng phá nhà... Chúng con nào có biết đại nhân đi vi hành để lấy vật chứng của ông Tham!"

"Quan lớn tha mạng! Chúng con chỉ muốn bảo vệ xóm làng... chứ có cho vàng chúng con cũng chẳng dám đụng đến một sợi lông chân của đại nhân ạ!"

Lê Khắc Cẩn định nhổm dậy để mắng nhiếc lũ dân đen, nhưng vừa mới cựa mình, một tiếng "rắc" khô khốc lại vang lên từ sống lưng. "Á á á! Gãy... gãy lưng ta rồi! Duy ơi... ta không cảm thấy chân đâu nữa!"

Giữa lúc hỗn loạn ấy, thầy đồ Hiếu chậm rãi đứng dậy. Người thầy đồ bước tới, ánh mắt không hề có sự phấn khích khi nhìn thấy thỏi vàng vừa rơi ra từ lời thú nhận của Cẩn. Trái lại, y bước chậm rãi tới, nhìn thỏi vàng với ánh mắt đau xót tột cùng, như thể chính y cũng bị chấn động bởi sự thật này. Y ngửa mặt lên trời than khóc, giọng run rẩy nhưng vang vọng khắp huyện đường: "Thứ vàng oan nghiệt này... chính là thứ vàng mà Chim Thần đã hứa ban cho. Anh trai tôi đã lấy được nó từ Chim Thần thật... nhưng lại phải đánh đổi bằng chính mạng sống của mình để rồi thỏi vàng lại rơi vào tay kẻ khác. Giờ đây, ngay cả một bậc quan lại uy nghi, chỉ vì dính vào lộc trời của anh tôi mà cũng lâm vào cảnh thê thảm thế này... Ôi! Lộc trời mà lòng tham quá độ thì hóa thành tai họa. Ý trời đã định, kẻ hèn này biết làm sao được..."

Tiếng than của Hiếu như một gáo nước lạnh tạt vào sự hoài nghi của đám đông. Lính lệ và dân làng nhìn thỏi vàng, nhìn cái xác của ông Tham trong tâm tưởng, rồi nhìn vào thực tại thảm khốc của Quan Phủ, tất cả đồng loạt rùng mình. Lời khai của Cẩn về "thỏi vàng của ông Tham" cộng với lời than khóc "đầy đạo lý" của Hiếu đã biến một vụ trộm vặt thành một sự thật tâm linh bi kịch: Chim Thần là có thật, và vàng của nó mang theo lời nguyền cho bất cứ ai chạm vào.

Nguyễn Duy rơi vào thế kẹt chưa từng có. Chàng vừa phải đối đầu với một thầy Hiếu đang nắm thóp lòng dân bằng tâm linh, vừa phải lo cứu mạng cấp trên đang nằm thoi thóp dưới chân. Chàng hít một hơi thật sâu, nén lại cơn giận và sự bế tắc trong lòng, dõng dạc ra lệnh: "Lính lệ đâu! Mau khiêng đại nhân vào phòng ngay lập tức. Lo cho người nằm yên, tuyệt đối không được để ai chạm vào vết thương!"

Quay sang đám dân chài đang run rẩy dưới sân, ánh mắt Duy đanh lại: "Còn lũ các ngươi, tội đánh đập đại quan là tội chết. Ta tạm thời giam lỏng các ngươi ở sân sau huyện đường đợi lệnh. Chờ đến khi đại nhân bình phục, ta sẽ xét xử sau!"

Đám đông lí nhí vâng dạ, lật đật bị áp giải đi trong sự hối hận muộn màng. Thầy Hiếu khẽ tiến tới một bước, gương mặt y phủ một tầng sầu thảm, giọng khẩn cầu đau đớn: "Bẩm quan lớn, anh trai thảo dân chết thảm nơi đảo hoang lạnh lẽo... Thảo dân khẩn cầu quan lớn cho phép thảo dân được nhận xác anh về ngay trong ngày hôm nay để lo liệu tang lễ, cho linh hồn anh sớm được mồ yên mả đẹp."

Nguyễn Duy lắc đầu, giọng kiên quyết nhưng vẫn giữ lễ độ: "Không được. Vụ án này có quá nhiều uẩn khúc và liên quan đến nhiều mạng người. Ta đã bẩm báo lên trên, hiện tại nha môn đang có một vị ngõ tác từ kinh thành về để khám nghiệm lại toàn bộ thi thể các nạn nhân. Ta cần giữ thi thể lại để điều tra kỹ hơn, không thể giao trả lúc này."

Nghe đến đó, Hiếu bỗng bật khóc nức nở, đôi vai gầy dưới lớp áo thâm rung lên bần bật: "Vậy... xin phép quan lớn cho thảo dân về trước. Thảo dân sẽ về chuẩn bị hậu sự sẵn ở nhà, chỉ mong quan sớm tìm ra hung thủ thật sự, đòi lại công bằng cho anh trai thảo dân, để thảo dân được đưa anh về với tổ tiên cho đúng đạo nghĩa..."

Duy thở hắt ra, ánh mắt thoáng chút suy tư: "Thầy Hiếu có thể về. Khi nào bắt được hung thủ và hoàn tất việc khám nghiệm, ta sẽ thông báo sau. Nhưng chuyện này chưa kết thúc ở đây đâu. Nha môn sẽ còn mời thầy đến."

Hiếu khẽ cúi đầu: "Thảo dân luôn sẵn lòng chờ lệnh quan lớn."

Sau khi Hiếu lững thững bước ra khỏi cổng huyện, Duy mới quay sang hỏi gấp Thầy Đề Lĩnh: "Thầy Đề, ta nhớ mới hôm qua ở chợ huyện, có gã thầy lang nắn xương cho một gã thanh niên rất khéo, dù tay chân có phần thô bạo. Hắn người ở huyện ta phải không? Thầy có nhớ không?"

Thầy Đề Lĩnh vừa quẹt mồ hôi vừa bẩm báo: "Dạ bẩm quan, đúng là gã ấy! Tên hắn là Cuội. Hắn vốn nổi danh khắp vùng với ngón nắn xương 'sống chết mặc bay', ai qua tay hắn cũng la oai oái nhưng chỉ một lát là xương cốt lại đâu vào đấy. Nghe đâu hắn vẫn đang bốc thuốc tại gia ở làng Yên Lạc ạ."

Nguyễn Duy gật đầu, ánh mắt quyết đoán. Chàng lập tức quay sang ra lệnh cho Trần Hùng: "Ngươi lập tức phi ngựa sang Làng Yên Lạc bên cạnh, tìm bằng được gã thầy lang tên Cuội về đây! Bất kể hắn đang làm gì, phải đưa hắn tới đây ngay lập tức!!"

Tiếng ngựa hí vang lên, Trần Hùng phóng đại đi trong màn sương sáng đang dần tan. Sân huyện đường chỉ còn lại Nguyễn Duy và Thầy Đề Lĩnh. Thầy Đề Lĩnh bần thần một hồi, rồi mới dám tiến lại gần hỏi khẽ:

"Bẩm quan... chuyện con Chim Thần ăn khế trả vàng mà thầy đồ Hiếu kể... rồi cả chiếc lông chim và thỏi vàng kia nữa. Quan thực sự nghĩ thế nào? Chẳng lẽ trên đời lại có linh vật kỳ quái đến thế sao? Thuộc hạ thấy quan hình như có một sự quan tâm đặc biệt dành cho thầy đồ Hiếu ngay từ đầu?"

Nguyễn Duy nhìn theo cái bóng của thầy đồ Hiếu đã khuất hẳn sau rặng tre ngoài cổng huyện, đôi mắt chàng lạnh lùng và sâu thẳm như mặt hồ mùa thu. Chàng khẽ gật đầu, giọng nói trầm xuống đầy suy tư: "Phải. Ta quan tâm bởi vì y quá hoàn hảo. Mọi thứ thuộc về thầy Hiếu đều hoàn hảo một cách đáng sợ: từ cốt cách của một kẻ sĩ, sự điềm tĩnh trước công đường cho đến cả cách y 'thú nhận' chuyện con chim là có thật. Y chọn cách thừa nhận sự hoang đường một cách đầy bi thiết để khóa chặt miệng lưỡi của tất cả mọi người. Nhưng thầy Đề ạ, ta không bao giờ tin vào chuyện con chim hoang đường kia. Ở đời này, có những chuyện mắt thấy tai nghe chưa hẳn đã là sự thật, huống hồ là một huyền thoại như thế."

Nguyễn Duy thở dài, bước chân nặng nề tiến vào hậu phòng để xem xét tình hình của Lê Khắc Cẩn. Sân công đường lúc này vắng ngắt, chỉ còn chiếc khay gỗ nằm trơ trọi giữa nắng trưa. Một tên lính lệ trẻ tuổi lấm lét tiến lại gần chiếc khay. Hắn nhìn thỏi vàng lấp lánh rồi lại nhìn chiếc lông chim kỳ dị, bàn tay run rẩy đưa ra định bưng cả khay mang vào kho lưu trữ vật chứng.

Thế nhưng, khi ngón tay hắn chỉ còn cách mép khay một gang tay, một luồng khí lạnh lẽo bỗng dưng bao trùm lấy không gian khiến hắn rùng mình, nổi cả da gà. Tên lính giật mình rút tay lại, ngước mắt lên thì thấy từ sau một cột đình lớn, Phan Tiên Sinh đã lặng lẽ xuất hiện từ lúc nào như một bóng ma.

Y không nói không rằng, đôi chân trần bước nhẹ tênh tới gần chiếc khay. Tên lính lệ sợ hãi lùi lại phía sau, không dám hó hé một lời. Phan Tiên Sinh cúi xuống, một tay y cầm lấy thỏi vàng nặng trịch, tay kia nhấc chiếc lông chim khổng lồ lên. Y giơ cả hai thứ ngang tầm mắt, xoay nhẹ dưới ánh nắng. Một bên là kim loại quý giá tỏa ra sự tham lam đến mê muội của con người, một bên là phiến lông đen tuyền, cứng như thép, chứa đựng những uẩn khúc chưa lời giải.

Bất chợt, Phan Tiên Sinh khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi hiện trên gương mặt khô khốc của y. Nụ cười ấy ẩn chứa một sự thấu thị kỳ quái, như thể y đã thấu tận lõi của cái màn sương mờ huyền thoại đang bủa vây lấy huyện lỵ Hoằng Hóa qua hai vật chứng nhỏ bé này.

Và thế là, chỉ từ sau buổi trưa hôm ấy, câu chuyện bắt đầu mọc cánh bay xa. Đám lính lệ trở về nhà, kẻ kể cho vợ, người kể cho con về thỏi vàng ròng lấp lánh và chiếc lông chim cứng như thép tìm thấy trên tay người chết. Đám dân chài bến Vọng Khê thì rỉ tai nhau về sự linh thiêng của "Chim Thần" và cái chết thảm khốc của ông Tham, người đã trả giá mạng sống vì tham lam may cái túi mười gang trái lời thần dặn.

Chẳng mấy chốc, từ làng Vọng Khê lan khắp huyện Hoằng Hóa, người ta truyền miệng nhau một câu chuyện cổ tích kỳ lạ về cây khế và con chim biết nói tiếng người. Câu hát "Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng" trở thành lời răn dạy nằm lòng cho lũ trẻ nhỏ.
 
Sửa lần cuối:
Em nghi là vàng fake và lông con đà điểu fake lắm các bác ạ. Khầy Hiếu quả là cao tay :D
Nhờ lòng tham của quan tri phủ mà lấy được vật chứng vàng fake về, quả tra tấn đúng là đẳng cấp
 
Em nghi là vàng fake và lông con đà điểu fake lắm các bác ạ. Khầy Hiếu quả là cao tay :D
Vàng thì theo em là bún riêu, còn lông thì khả lăng phake thật, tại vốn truyện này không có tag kỳ ảo rồi. Em khá đồng tình với bác ở suy luận khầy Hiếu và Dĩm My, và em khá chắc hung thủ giết con Thắm không phải khầy, thậm chí giết con Thắm và ông Tham có thể không cùng 1 hung thủ :burn_joss_stick:
 
Vàng thì theo em là bún riêu, còn lông thì khả lăng phake thật, tại vốn truyện này không có tag kỳ ảo rồi. Em khá đồng tình với bác ở suy luận khầy Hiếu và Dĩm My, và em khá chắc hung thủ giết con Thắm không phải khầy, thậm chí giết con Thắm và ông Tham có thể không cùng 1 hung thủ :burn_joss_stick:
không phải khầy thì chỉ có vợ khầy, em đoán không trượt được bác ạ :mad:
 
1 ông thầy đồ trong sạch 1 cách kì lạ, 1 bà vợ câm hiểu chuyện đến đau lòng dù gia cảnh nghèo khó.
Tiền vàng lấy về được lại làm từ thiện cả, trong sạch 1 cách đáng ngờ.
Nếu thứ gì quá tốt để là sự thật, thì nó không phải là sự thật, bác cứ tin em :mad:
 

Chương 8​


Nắng trưa đứng bóng đổ lửa xuống sân huyện, cổng đường rầm rập tiếng bước chân. Đội trưởng Trần Hùng áp giải một gã đàn ông vào thẳng hậu đường. Gã này trông chẳng có vẻ gì là bậc y gia cứu thế. Đó là một gã đàn ông to lớn như hộ pháp, bắp tay cuồn cuộn nổi lên dưới lớp áo chàm rách rưới. Gương mặt gã dữ tợn với bộ râu quai nón rậm rạp che gần hết cằm. Mùi rượu nếp nồng nặc bốc ra từ hơi thở khiến đám lính lệ cũng phải nhăn mặt.

Đó là Cuội. Hắn không đi, mà nửa bước nửa lết theo sức kéo của Trần Hùng, miệng vẫn lảm nhảm những lời bỗ bã: "Kìa quan Đội... từ từ cái tay... Ta đang dở bữa rượu, có ai chết đâu mà giục như cháy nhà thế?"

Nguyễn Duy đứng đợi sẵn bên bậc thềm, ánh mắt quan sát kỹ gã thầy lang. Chàng khẽ nheo mắt, cái vóc dáng hộ pháp và đôi bàn tay gân guốc ấy bỗng khơi gợi trong tâm trí chàng một mảnh ký ức vừa mới hôm qua. Giữa khu chợ huyện ồn ào náo nhiệt, chính gã đàn ông này đã dùng sức mạnh thô bạo tưởng như muốn bẻ gãy tay một người thanh niên, khiến kẻ đó la hét thảm thiết nhưng chỉ tích tắc sau lại có thể cử động bình thường, tươi cười bái tạ.

"Hóa ra là hắn," Nguyễn Duy thầm nhận định, "kẻ dùng bạo lực để cứu người."

"Bẩm quan lớn, đã đưa được Cuội thầy lang tới." Trần Hùng buông tay, Cuội lảo đảo một chút rồi đứng vững, đưa đôi mắt vằn tia máu nhìn khắp lượt căn phòng.

Nguyễn Duy khẽ gật đầu: "Cuội, Quan Tri Phủ đại nhân đang bị trọng thương. Mời ông xem xét cho."

Cuội không hành lễ, cũng chẳng thưa gửi. Hắn tiến lại gần sập gụ, nơi Lê Khắc Cẩn đang nằm rên hừ hừ. Thay vì bắt mạch hay hỏi han con bệnh như những thầy lang thông thường, Cuội lại nhìn Cẩn bằng đôi mắt sắc lẹm của một gã đồ tể đang xem xét thớ thịt trên phản. Hắn không nhìn vết thương, mà như đang nhìn thấu qua lớp da mỡ màng kia để thấy từng thớ cơ bị xô lệch, từng khớp xương bị tổn thương. Đôi tay thô kệch, đầy vết chai sạn của hắn dứt khoát ấn mạnh vào đốt sống lưng Cẩn.

"Á... á... quân sát nhân! Ngươi định giết ta sao?" Cẩn hét lên, mồ hôi vã ra như tắm.

Cuội hừ lạnh một tiếng, mặc kệ lời chửi bới. Hắn thò tay vào cái túi vải cũ nát đeo bên hông, lôi ra một nắm lá cây có hình thù kỳ dị, mép lá răng cưa, xanh ngắt một màu ma mị. Không cần cối giã, Cuội tống thẳng nắm lá vào mồm, nhai nhồm nhoàm rồi nhổ toẹt thứ nước xanh đặc quánh lên vết bầm tím trên lưng Cẩn.

"Lá cây gì mà hôi hám thế kia?" Thầy Đề Lĩnh đứng cạnh bên không nhịn được mà lên tiếng.

Cuội ngửa cổ uống một ngụm từ bầu rượu mang theo, cười khà khà, đôi mắt bỗng trở nên lờ đờ như đang lạc vào một cõi khác. Hắn bắt đầu kể, giọng khê nồng mùi rượu: "Các người biết gì mà hỏi? Mấy năm trước, ta đang vác rìu vào rừng sâu săn thú. Thấy bốn con cọp con đang vờn nhau, ta vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay. Nhưng vừa lúc đó, tiếng gầm của cọp mẹ làm chấn động cả núi rừng ngay sau lưng. Ta chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn cây cao để giữ mạng."

Hắn ngừng lại, nuốt nước miếng, giọng trở nên liêu trai: "Từ trên cao nhìn xuống, ta thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết, rồi lẳng lặng đi đớp lấy thứ lá cây này, mớm cho con. Các người có tin không? Ăn chưa hết miếng lá, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại như chưa từng có nhát rìu nào chạm tới. Ta chờ cọp mẹ đi khuất, mới xuống đào gốc cây ấy mang về... Ta trồng nó ở xó vườn, nhìn thì lạ lắm, thân nó lớn nhanh khủng khiếp, xù xì sần sùi hệt như cây đa cổ thụ, nhưng lá lại chẳng giống lá đa bình thường tí nào, cứ răng cưa nhọn hoắt."

Lời kể nửa thực nửa hư của Cuội khiến không gian hậu đường bỗng chốc trở nên liêu trai, ma mị không kém gì huyền thoại về Chim Thần. Nguyễn Duy nheo mắt, thầm nghĩ: "Lại một huyền thoại nữa sao? Huyện Hoằng Hóa này dường như được bao phủ bởi những điều không tưởng."

Vừa dứt lời, Cuội lại bắt đầu nắn bóp. Đôi bàn tay thô bạo của hắn khiến Lê Khắc Cẩn đau đến mức khóc không thành tiếng, mặt mũi đỏ tía tai. Trong lúc đang "hành hạ" vị đại quan, Cuội đột nhiên dừng tay, lau mồ hôi vào vạt áo rồi nhìn Duy, dõng dạc nói:

"Ta sẽ ở lại đây coi sóc cho ông quan này cho đến khi đi đứng lại được mới thôi. Nhưng ta nói trước, ta vốn chẳng phải hạng thánh nhân. Ta cứu người có quy tắc của ta, dân nghèo khổ cực ta chẳng lấy một đồng, coi như làm phúc; còn ngữ quan lại hay bọn trọc phú, ta thu tiền không nương tay. Quan Phủ đây là 'mỏ vàng'. Mỗi ngày một lạng bạc, thiếu một đồng ta cũng không làm. Quan lớn thấy sao?"

Nguyễn Duy nhìn Cẩn đang nằm thoi thóp, rồi lại đưa mắt quan sát vết thương trên lưng vị Quan Phủ. Chàng kinh ngạc nhận thấy những mảng bầm đen tím ngắt, vốn sưng tấy dữ dội ban nãy, nay dưới lớp lá thuốc nhai nát của Cuội dường như đang dịu lại, sắc thâm tím bắt đầu tan bớt một cách thần kỳ. Hiệu nghiệm nhãn tiền ấy khiến Duy tin rằng gã hộ pháp này quả thực có tài. Chàng khẽ gật đầu: "Được, tiền bạc không thành vấn đề. Chỉ cần ông chữa khỏi cho đại nhân."

Cuội cười khà khà, lại tiếp tục vung tay nắn bóp, mặc cho tiếng rên rỉ của Lê Khắc Cẩn vang vọng khắp huyện đường trong buổi trưa đứng bóng.



Đầu giờ chiều, trong thư phòng của huyện đường, không khí tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ trong xà nhà. Nguyễn Duy ngồi bên án thư, tay cầm bút lông nhưng mực đã khô cong trên đầu ngọn bút mà chưa hạ xuống được chữ nào.

Từ phía hậu đường vọng lại tiếng rên rỉ ư hử không dứt của Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn. Dù vết bầm đã tan bớt nhờ thuốc lạ của Cuội, nhưng cái tính công tử bột hay than vãn của Cẩn thì thuốc tiên cũng chẳng chữa nổi. Tiếng rên rỉ như tiếng ruồi nhặng vo ve bên tai khiến dòng suy nghĩ của Duy cứ chốc chốc lại bị đứt đoạn, làm chàng càng thêm bứt rứt.

"Thầy Đề!" Duy đặt bút xuống, day day thái dương đang giật liên hồi. "Cái tiếng rên của Lê huynh làm ta không thể nào tập trung nổi. Thôi thì thầy mau mang chồng hồ sơ lý lịch của gia đình ông Tham và thầy đồ Hiếu mà ta dặn thầy lục tìm hôm trước ra đây, sẵn ta cũng muốn tìm hiểu kỹ hơn về họ".

Thầy Đề Lĩnh đang gà gật ở góc phòng, nghe gọi tên thì giật mình tỉnh giấc, vội vàng lục lọi trong tráp gỗ mun, lôi ra một tập giấy bản đã ố vàng, mép giấy sờn rách. Ông lão run run dâng lên án thư, rồi đứng nép sang một bên, tay phe phẩy chiếc quạt nan để xua đi cái nóng và cả sự căng thẳng đang bao trùm lấy vị quan trẻ.

Nguyễn Duy mở tập hồ sơ, mùi giấy cũ mốc xộc lên mũi. Chàng lướt nhanh qua phần của ông Tham. Gia đình họ vốn có truyền thống lâu đời làm nghề buôn bán lụa là gấm vóc. Song, cha mẹ không may qua đời sớm, để lại toàn bộ gia sản khổng lồ cho người anh cả là Tham tiếp quản. Với bản tính lọc lõi của một thương nhân, Tham nhanh chóng phát triển cơ nghiệp, trở nên giàu có nức tiếng vùng này, lý lịch rõ ràng, không có gì đáng ngờ ngoài cái tính tham lam ai cũng biết.

Ánh mắt chàng dừng lại ở phần ghi chép về người em trai, Trần Văn Hiếu.

"Trần Văn Hiếu... sinh năm Canh Tý..." Duy lẩm bẩm đọc, ngón tay trượt dài trên những dòng chữ. Đột nhiên, đôi mày phượng của chàng nhíu chặt lại.

"Thầy Đề, thầy nhìn chỗ này xem." Duy chỉ tay vào một đoạn văn bản. "Trong đây ghi rõ, Hiếu từng có thời gian 5 năm ròng rã lên kinh thành dùi mài kinh sử để thi Hương. Nhưng lạ thay, một người có khả năng dạy học, thuộc làu kinh sử và giữ lễ nghĩa mực thước như y, vậy mà suốt 5 năm ấy lại không hề đỗ đạt chút công danh gì. Đi biền biệt 5 năm trời, tiêu tốn bao nhiêu tiền của gia đình, rồi đùng cái trở về tay trắng, chẳng có lấy một mảnh bằng dắt lưng."

Thầy Đề Lĩnh nheo mắt nhìn qua cặp kính lão, gật gù xác nhận: "Bẩm quan, đúng là lạ thật. Nhưng điều đáng nói hơn là cái mốc thời gian này cơ ạ. Quan xem, chính trong khoảng thời gian cậu Hiếu đi học xa, thì ở nhà song thân lần lượt qua đời vì bạo bệnh. Lão còn nhớ như in, hồi đám tang hai cụ, lão cũng có sang viếng và hỏi thăm về cậu Hiếu. Lúc ấy, ông Tham chỉ chép miệng bảo là chú nó đang bận dùi mài kinh sử để thi Hương trên kinh, đường sá xa xôi cách trở, lại sắp đến kỳ thi quan trọng nên có gửi thư về cáo lỗi là không về chịu tang được. Thế là tang ma lớn nhỏ đều một tay vợ chồng ông Tham bà Mận lo liệu cả. Cũng chính vì lẽ đó mà sau khi mãn tang, toàn bộ gia sản hương hỏa của các cụ đều mặc nhiên thuộc về vợ chồng người anh."

"Chưa hết," Duy lật sang trang tiếp theo, giọng trầm xuống đầy vẻ nghi hoặc. "Y trở về làng Vọng Khê vào đúng độ cuối thu hai năm trước. Và điều đáng nói là y không về một mình."

Duy ngước lên nhìn Thầy Đề, ánh mắt sắc sảo như muốn xuyên thấu màn sương quá khứ: "Y mang theo một cô gái câm. Chính là nàng Sen hiện nay."

"Dạ bẩm, chuyện này thì cả làng ai cũng biết ạ." Thầy Đề nhanh nhảu đáp. "Hồi đó thầy Hiếu giải thích là trên đường hồi hương, gặp cô gái này bị nạn, ngất xỉu bên vệ đường, thương tình cứu giúp rồi đem về cưu mang. Ngặt nỗi cô ấy bị câm, chỉ ú ớ chứ không nói được lời nào nên chẳng ai hỏi han được quê quán, gốc gác ở đâu. Thấy cô ấy hiền lành, chịu khó lại không nơi nương tựa, thầy mới lấy làm vợ. Dân làng ai cũng khen thầy có tấm lòng Bồ Tát."

Nguyễn Duy cười nhạt, nụ cười chứa đựng sự hoài nghi lạnh lẽo: "Tấm lòng Bồ Tát ư? Hay là một sự sắp đặt hoàn hảo? Thầy Đề ngẫm mà xem, một cô gái câm, không biết nói, hoàn toàn không có lai lịch, gốc gác. Chẳng ai biết cô ta tên thật là gì, quê quán ở đâu, cha mẹ là ai. Cô ta như một bóng ma đột ngột xuất hiện bên cạnh Hiếu đúng vào thời điểm y trở về từ kinh thành."

Nguyễn Duy ngừng lại một chút, ánh mắt đăm chiêu nhìn người thư lại già, ngập ngừng hỏi: "Thầy Đề, ta hỏi thật thầy một câu. Nếu thầy là thầy đồ Hiếu, đi xa 5 năm trời, khi trở về thấy gia sản hương hỏa của song thân để lại đều lọt hết vào tay anh chị, bản thân chỉ được chia cho một mảnh đất nhỏ xíu cắm dùi... trong lòng thầy sẽ nghĩ sao?"

Thầy Đề Lĩnh khựng lại, ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi thành thật đáp: "Bẩm quan... nếu là kẻ phàm phu tục tử như lão, chắc chắn lão sẽ uất ức, sẽ căm thù lắm ạ. Máu mủ ruột rà mà đối xử với nhau như bát nước hắt đi thì ai mà chịu thấu. Nhưng... với thầy Hiếu, một người nổi tiếng là độ lượng và hiền lành thì... có lẽ tâm tính người ta khác người thường chăng?"

Nguyễn Duy đứng dậy, chắp tay đi lại trong phòng, tà áo lụa khẽ lay động. Chàng khẽ thở dài, tự trách mình đã quá chủ quan. Lẽ ra ngay từ khi vụ án mới manh nha, chàng phải cho người điều tra kỹ lai lịch của những kẻ liên quan, thay vì bị cuốn theo những hiện tượng kỳ bí kia.

Chàng nào có ngờ đâu, một vụ án tưởng chừng chỉ xoay quanh lòng tham và mê tín nơi đây lại rắc rối và chằng chịt uẩn khúc đến nhường này. Ánh mắt chàng lại dán chặt vào trang hồ sơ đang mở: "5 năm ở kinh thành, Hiếu đã làm gì nếu không phải là đi học và thi cử? Và nàng Sen kia, liệu có thực sự là một cô gái đáng thương được cứu vớt?"

Tiếng rên rỉ của Lê Khắc Cẩn từ hậu đường vẫn vọng lại, nhưng lúc này nó không còn làm phiền được Nguyễn Duy nữa. Trong đầu chàng, một bức tranh khác đang dần hiện ra, u tối và phức tạp hơn rất nhiều so với vẻ ngoài đạo mạo của vợ chồng thầy đồ làng.

Bóng chiều đã dần ngả về tây, song cái nóng hầm hập của ngày hè vẫn chưa chịu buông tha cho huyện đường. Nguyễn Duy gấp lại tập hồ sơ đầy rẫy những khoảng trắng về quá khứ của thầy đồ Hiếu. Những nghi vấn cứ luẩn quẩn, bện chặt trong đầu chàng như một mớ tơ vò chưa tìm thấy mối gỡ.

"Thầy Đề," Duy đứng dậy, cầm lấy chiếc nón chóp. "Ngồi đây đoán già đoán non cũng vô ích. Ta muốn xuống lại hiện trường nhà bà Mận một lần nữa. Biết đâu, chúng ta lại bỏ sót điều gì."

Thầy Đề Lĩnh vội vã cắp tráp đi theo, lật đật leo lên cỗ xe ngựa quan nha đang chờ sẵn trước cổng, thầm cảm tạ trời đất vì không phải cuốc bộ với đôi chân già nua.

—-

Căn nhà gạch nhỏ của vợ chồng ông Tham hiện ra trong cảnh tiêu điều. Lính lệ vẫn canh gác nghiêm ngặt, nhưng cái không khí chết chóc dường như đã ngấm vào từng viên gạch, ngọn cỏ. Nguyễn Duy đi một vòng quanh nhà, soi xét từng gốc cây, bụi cỏ, thậm chí trèo lên cả mái bếp để tìm kiếm dấu vết lạ. Nhưng tất cả đều vô vọng. Ngoài những dấu vết cũ đã được Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh khám nghiệm, chàng chẳng tìm thấy gì thêm. .

Duy thở dài, bước ra sân, ánh mắt vô tình lướt qua bức tường ngăn cách với dinh cơ nhà bên cạnh. Trái ngược với sự hoang lạnh bên này, nhà thầy đồ Hiếu đang tất bật không khí tang gia. Cờ tang trắng xóa đã được cắm dọc lối đi, tiếng đục đẽo quan tài, tiếng người làm í ới gọi nhau chuẩn bị đồ khâm liệm vang lên huyên náo. Hiếu đang chỉ đạo đám gia nhân treo những tấm hoành phi, câu đối trắng muốt, gương mặt y trĩu nặng u sầu, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt nước mắt.

Duy thầm nghĩ, ánh mắt sắc lạnh. "Để xem màn kịch này hạ màn thế nào."

Chàng quay lưng bước ra cổng, định bụng trở về huyện đường để tính toán khác. Vừa ra đến con đường làng rợp bóng tre, Duy và Thầy Đề bắt gặp một đám trẻ con đang túm tụm lại, ồn ào tranh cãi. Đó là đám học trò của thầy Hiếu.

Giữa đám đông ồn ào bụi bặm ấy, một thằng bé gầy gò, lọt thỏm trong chiếc áo nâu sờn vai rộng thùng thình đang co rúm người lại như con gà con bị diều hâu săn đuổi. Vây quanh nó là năm sáu đứa trẻ lớn hơn, đứa nào đứa nấy mặt mũi lem luốc nhưng vẻ mặt đầy hăm dọa. Một thằng nhóc to đầu nhất, tay cầm cành tre khô, vừa dí vào ngực thằng bé gầy gò vừa cười hô hố:

"Ê Tí! Mày liệu hồn đấy! Mày cứ bô bô cái mồm kể chuyện ma quỷ, coi chừng đêm nay Chim Thần nó bay xuống cắp mày đi như cắp ông Tham đấy! Ha ha!"

"Tao... tao nói thật mà!" Thằng Tí mếu máo, hai tay ôm chặt cuốn sách Tam Tự Kinh vào ngực như tấm khiên hộ mệnh mỏng manh. Đôi mắt nó ầng ậc nước, vừa sợ hãi vừa uất ức: "Tao thấy thật! Nó to lắm! Nó che hết cả mặt trăng..."

"Lại còn chối!" Đám trẻ nhao nhao hùa theo, tiếng cười cợt, tiếng chửi bới vang động cả một góc đường quê yên tĩnh.

Hai chữ "Chim Thần" lọt vào tai Nguyễn Duy như một luồng điện xẹt qua sống lưng. Bước chân chàng khựng lại, ánh mắt sắc lên. Chàng ra hiệu cho Thầy Đề im lặng, rồi hít một hơi sâu quát lớn: "Các con trật tự!"

Giọng nói uy nghiêm, vang rền của quan huyện như tiếng sấm nổ giữa trời quang, khiến đám trẻ đang hăng máu giật bắn mình. Tiếng cười tắt ngúm. Đám nhóc quay đầu lại, nhìn thấy bóng dáng hai vị quan khách với y phục trang trọng thì hồn xiêu phách lạc. Chúng vội vàng cúi gằm mặt, lí nhí chào rồi lùi lại phía sau, dạt ra như bầy ong vỡ tổ. Chỉ còn lại thằng Tí đứng trơ trọi giữa đường, mặt tái mét, chân tay run lẩy bẩy như cầy sấy.

Nguyễn Duy bước lại gần, bóng chàng đổ dài trùm lên người đứa nhỏ. Chàng hạ giọng ôn tồn, cố gắng thu lại cái uy quyền thường ngày để không làm thằng bé sợ chết khiếp: "Hôm nay mấy đứa không phải đến lớp học chữ sao mà lại tụ tập ở đây?"

Một đứa trẻ bạo dạn nhất trong nhóm, đứng nấp sau gốc đa, lí nhí đáp vọng ra: "Dạ bẩm quan... thầy Hiếu bảo nhà để tang ông Tham, thầy phải lo liệu hậu sự nên cho cả lớp nghỉ học mấy hôm ạ."

Duy gật đầu ra chiều đã hiểu. Ánh mắt chàng chuyển hướng, tập trung toàn bộ sự chú ý vào đứa bé đang run rẩy nhất. Chàng ngồi xổm xuống, không ngại vạt áo lụa chạm đất, để tầm mắt mình ngang hàng với thằng bé, nở nụ cười hiền hậu: "Con tên là Tí phải không? Đừng sợ. Ta là quan huyện Nguyễn Duy, ta đến đây là để bảo vệ dân làng, bảo vệ các con. Ta vừa nghe con nói con thấy Chim Thần, có phải không?"

Thằng Tí nghe thấy giọng nói ấm áp thì ngẩng lên, nhưng đôi mắt vẫn láo liên nhìn đám bạn đang đứng xa xa dòm ngó, rồi lại nhìn quan huyện, ấp úng: "Dạ... con... con không dám nói nữa đâu ạ... "

"Ta cho phép con nói." Duy đặt tay lên vai thằng bé, ánh mắt kiên định truyền cho nó sự tin cậy. "Ở đây ta là người to nhất, không ai dám phạt con cả. Con cứ kể thật những gì con thấy. Con thấy nó ở đâu? Và thấy khi nào?"

Được lời động viên của quan lớn, thằng Tí nuốt nước bọt ực một cái, lấy hết can đảm lí nhí kể lại ký ức kinh hoàng mà nó đã giấu kín bấy lâu: "Dạ... chuyện là từ năm ngoái cơ ạ. Lúc ấy là đêm rằm trăng sáng vằng vặc. Con ham chơi đuổi theo con dế lửa nên đi lạc lên tận vách đá Vọng Nguyệt..."

"Vách đá Vọng Nguyệt?" Thầy Đề Lĩnh đứng bên cạnh thốt lên, giọng đầy vẻ kinh ngạc. "Chỗ đó hẻo lánh, vách đá dựng đứng, gió to sóng lớn, người lớn còn ngại lên, sao mày dám mò lên đó?"

"Dạ... con đi lạc..." Tí cúi gằm mặt, giọng run run khi hồi tưởng lại. "Lúc ấy trăng sáng lắm, sương mù từ biển bốc lên giăng giăng mờ ảo. Con đang sợ thì bỗng thấy một bóng đen to khổng lồ từ dưới vực bay vút lên. Nó lướt qua mặt trăng... Nhưng mà quan ơi... nó lạ lắm..."

Đôi mắt thằng bé mở to, ánh lên vẻ hoang mang tột độ khi nhớ lại cảnh tượng cũ: "Con chim ấy... to lắm, nó không hề vỗ cánh. Cánh nó cứ dang rộng, cứng đơ như hai cái phản gỗ, thế mà nó vẫn bay vù vù, lướt đi trong gió êm ru, chẳng nghe tiếng phạch phạch như chim sẻ chim sâu gì cả."

Nguyễn Duy và Thầy Đề nhìn nhau, một tia sáng lóe lên trong đầu vị quan trẻ. "Không vỗ cánh mà vẫn bay được...?"

"Con chắc chắn chứ?" Nguyễn Duy hỏi gặng.

"Con thề ạ! Con sợ quá nên nấp sau tảng đá, nhìn nó bay một vòng rồi lặn xuống phía sau vách núi. Cả năm nay con tưởng con bị hoa mắt nên không dám kể. Nhưng mấy hôm nay nghe người ta đồn ông Tham được chim chở đi, con mới nhớ ra... Huhu quan đừng bắt con..."

Nguyễn Duy đứng dậy, gương mặt giãn ra đôi chút. Chàng nhìn thẳng vào mắt thằng bé, hỏi gặng: "Con đã kể chuyện này cho ai khác nghe chưa? Cha mẹ con, hay thầy Hiếu?"

Tí lắc đầu quầy quậy: "Dạ chưa ạ... Con sợ bị mắng là nói dối nên giấu tiệt. Hôm nay bị tụi nó trêu quá con mới lỡ miệng kể cho đám bạn này thôi..."

Nguyễn Duy nghe vậy thì thở phào một tiếng, nhưng ngay lập tức chàng vẫy tay gọi đám trẻ đang đứng thập thò đằng xa lại gần. Đám nhỏ thấy quan lớn gọi thì rón rén bước tới, mặt đứa nào cũng cúi gằm.

"Tất cả nghe đây," Duy nghiêm giọng, ánh mắt quét qua từng khuôn mặt lem luốc. "Chuyện bạn Tí vừa kể, và cả cuộc gặp gỡ hôm nay với ta, các con tuyệt đối không được kể cho bất kỳ ai nữa, kể cả thầy giáo hay cha mẹ. Nếu chuyện này để lọt ra ngoài, không chỉ bạn Tí mà cả các con cũng sẽ gặp nguy hiểm đấy. Các con có hiểu không?"

Đám trẻ nghe đến hai chữ "nguy hiểm" thì sợ xanh mặt, đồng thanh lí nhí: "Dạ, chúng con nhớ rồi ạ! Chúng con xin hứa giữ kín như bưng ạ."

Nguyễn Duy mỉm cười gật đầu, chàng quay sang Thầy Đề ra hiệu: "Thầy Đề, thầy phát cho tụi nhỏ vài đồng lẻ để chúng mua kẹo ăn, coi như phần thưởng cho sự ngoan ngoãn này."

Thầy Đề Lĩnh lục lọi trong túi áo, lấy ra mấy đồng kẽm chia cho từng đứa. Đám trẻ cầm được tiền thì mắt sáng rỡ, quên sạch cả nỗi sợ ban nãy, chúng tíu tít cúi đầu: "Chúng con cảm ơn quan lớn! Cảm ơn thầy ạ!" rồi ù té chạy biến đi như một đàn chim sẻ.

Đợi đám trẻ tản đi hết, Thầy Đề Lĩnh mới rụt rè tiến lại gần Nguyễn Duy, vẻ mặt đầy băn khoăn: "Bẩm quan, chuyện thằng bé kể khi nãy... ý quan là sao ạ?"

Nguyễn Duy nhìn về phía vách núi xa xa, trầm ngâm đáp: "Thầy Đề ngẫm mà xem. Theo lời khai của bà Mận và cả thầy Hiếu, con Chim Thần đó chỉ xuất hiện duy nhất tại cây khế trong vườn nhà họ để ăn khế trả vàng. Thế nhưng, theo lời thằng bé Tí, nó lại nhìn thấy con chim ấy xuất hiện ở vách đá Vọng Nguyệt. Tại sao lại là ở đó? Có cái gì ở đó chăng?"

Thầy Đề Lĩnh vuốt chòm râu thưa, ngập ngừng: "Nhưng mà... lỡ thằng bé đó nhìn nhầm, hay nó bịa chuyện để mua vui với đám bạn thì sao? Trẻ con hay tưởng tượng lung tung lắm quan ạ."

Nguyễn Duy khẽ nháy mắt, nụ cười nửa miệng hiện lên đầy ẩn ý: "Thật hay giả, đêm nay sẽ rõ. Coi như tối nay ta với thầy đi 'vọng nguyệt' một lần cho biết phong vị. Mấy hôm nay trăng tròn đẹp thế cơ mà, bỏ lỡ thì uổng phí lắm."

Thầy Đề nghe đến việc phải leo lên vách đá dựng đứng giữa đêm khuya thì mặt tái mét, lắc đầu quầy quậy: "Thôi thôi, cho cái thân già này xin quan ơi! Đêm khuya thanh vắng lên cái chốn ấy, gió biển thổi mạnh có khi thổi bay cả lão xuống vực mất. Quan thương tình... tha cho lão lần này..."

Nghe thầy Đề than vãn, Nguyễn Duy bất giác khẽ mỉm cười.

Thầy Đề thấy vậy liền thốt lên: "Bẩm quan, mấy hôm nay lão mới thấy quan cười đấy ạ."

Duy gật đầu, ánh mắt sáng lên vẻ tinh anh: "Phải, thầy Đề ạ. Hình như chúng ta sắp chạm tay vào một phát hiện mới rồi. Thôi, không làm khó thầy nữa, chúng ta về lại nha môn chuẩn bị thôi."



Đêm đã về khuya, trăng tròn treo lơ lửng trên nóc huyện đường, tỏa ánh sáng bàng bạc yếu ớt xuống sân gạch lạnh lẽo.

Trong hậu phòng, ánh đèn dầu leo lét hắt những cái bóng chập chờn lên vách tường. Mùi thuốc lá nồng nặc quyện với mùi dầu xoa bóp khiến không khí càng thêm ngột ngạt. Thầy lang Cuội vừa đắp thêm một lượt thuốc lá giã nát lên lưng Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn, vừa lầm bầm tính toán trong đầu.

"Hừm, cái lưng này xem chừng cũng sắp ổn rồi," Cuội lẩm bẩm, tay quệt mồ hôi trán. Hắn liếc nhìn vị quan lớn đang nằm sấp, rên hừ hừ như con lợn béo chờ làm thịt, lòng tham lại nổi lên. "Nhưng mà chữa nhanh quá thì lấy đâu ra cớ mà đòi thêm bạc? Hay là ta cứ dây dưa thêm dăm bữa nửa tháng nữa? Một lạng bạc một ngày cơ mà..."

Hắn cười khẩy, đắc ý với kế hoạch "vặt lông vịt" của mình. Hắn quay lưng lại phía cửa sổ để rửa tay vào chậu nước, miệng huýt sáo một điệu nhạc rừng.

Bất chợt, một luồng gió lạnh buốt thốc vào từ cửa sổ đang khép hờ, làm ngọn đèn dầu chao đảo dữ dội suýt tắt. Cuội với bản năng của kẻ từng đi rừng săn thú, cảm nhận được sát khí lạnh lẽo sau gáy. Nhưng hắn vừa kịp quay đầu lại thì đã quá muộn.

"Bốp!"

Một cú chặt tay sắc gọn và cực mạnh giáng thẳng vào gáy Cuội. Gã thầy lang hộ pháp trợn ngược mắt, đổ ập xuống sàn như một cây chuối bị đốn hạ, không kịp kêu lên một tiếng.

Lê Khắc Cẩn đang nằm sấp, nghe tiếng động lạ thì cố ngóc đầu dậy: "Tên lang băm kia! Ngươi làm cái gì mà ầm ầm thế... Ớ!"

Lời chưa dứt, cổ họng hắn đã nghẹn đắng lại vì kinh hãi. Trước mặt hắn, lừng lững một bóng đen cao lớn, trùm kín mặt, chỉ để lộ đôi mắt sáng quắc đầy hận thù. Kẻ đó đứng sừng sững, che khuất cả ánh đèn, lưỡi dao trên tay hắn phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo.

"Lê Khắc Cẩn..." Giọng nói của kẻ lạ mặt trầm đục, khàn đặc như tiếng vọng từ cõi âm ty, chứa đựng sự căm hận thấu xương tủy. "Tao đã theo dõi mày đã lâu, mày ngồi tót trên ghế cao, ăn sung mặc sướng trên xương máu dân đen, liệu cái đầu óc bã đậu của mày có còn nhớ đến vụ án oan khuất hai năm về trước không?"

Cẩn run lẩy bẩy, mặt cắt không còn giọt máu, lắp bắp không thành tiếng: "Mày... mày là ai? Vụ... vụ nào? Ta... ta xử nhiều vụ lắm... sao nhớ hết được..."

"Mày quên, nhưng tao thì không! Máu của cả gia đình vô tội bị mày phán sai vẫn còn đỏ lòm trên tay mày đấy!" Kẻ sát thủ rít lên qua kẽ răng, đôi mắt long sòng sọc sát khí. Hắn giơ cao lưỡi dao sáng loáng, phản chiếu ánh đèn dầu leo lét. "Nợ máu phải trả bằng máu. Đêm nay, cái ghế Quan Tri Phủ hay đám lính canh ngoài kia cũng không cứu được cái mạng chó của mày đâu!"

Lưỡi dao vung xuống, xé toạc không khí với một lực chết người. Cẩn nhắm tịt mắt, gào lên trong tuyệt vọng tột cùng: "Cứu!!! Cứu ta với!!!"

"Rầm!"

Cánh cửa gỗ bị đạp tung. Đội trưởng Trần Hùng, người vẫn luôn túc trực canh gác bên ngoài, lao vào như một con mãnh hổ khi nghe tiếng động lạ. Thấy lưỡi dao sắp chạm vào cổ quan lớn, Hùng không chút do dự rút kiếm, lao tới đỡ đòn.

"Keng!"

Tiếng kim loại va chạm chát chúa vang lên, tia lửa bắn ra tung tóe. Kẻ sát thủ bị lực đẩy bất ngờ, lùi lại vài bước nhưng vẫn đứng vững. Hắn quay sang nhìn Trần Hùng, ánh mắt không hề nao núng mà còn bùng lên sát khí.

"Khá lắm! Lâu rồi mới gặp đối thủ!"

Trần Hùng không đáp, hét lớn một tiếng rồi vung kiếm tấn công dồn dập. Một cuộc giao tranh dữ dội, nghẹt thở nổ ra ngay trong gian phòng chật hẹp. Đồ đạc bị hất tung, bàn ghế gãy nát.

Tuy nhiên, càng đánh, Trần Hùng càng cảm thấy có điều gì đó cực kỳ bất thường và khó chịu. Vốn là một võ sĩ dày dạn kinh nghiệm, Hùng đã quen thuộc với mọi đường đi nước bước của các kiếm khách thông thường. Theo lẽ thường, đa số người dùng kiếm đều thuận tay phải, đường kiếm tấn công sẽ đi từ phía bên phải của họ sang bên trái của đối thủ. Phản xạ phòng thủ của Hùng đã được trui rèn nhiều năm nay để đối phó với hướng tấn công đó.

Nhưng kẻ này lại khác. Hắn cầm đoản đao bằng tay trái.

Mọi quy tắc, mọi thói quen chiến đấu của Hùng bỗng chốc bị đảo lộn tùng phèo. Khi Hùng vung kiếm chém vào sườn trái của đối phương, nơi thường là điểm yếu của người thuận tay phải thì lại bị thanh đao bên tay trái của hắn chặn đứng một cách dễ dàng và uy lực. Ngược lại, những cú chém của hắn lại bổ xuống từ những góc độ "nghịch", những góc chết mà Hùng hiếm khi phải đề phòng.

Lưỡi dao của hắn lướt đi như con rắn độc, luồn lách qua những kẽ hở trong thế thủ của Hùng. Thay vì chém chéo từ vai trái xuống, hắn chém ngược từ hông phải lên, buộc Hùng phải vặn người đỡ đòn trong tư thế vô cùng gượng gạo.

"Keng! Keng! Keng!"

Ba chiêu liên tiếp, Hùng đều bị đẩy lùi. Cánh tay phải cầm kiếm của anh tê dại, bị thương vì phải đỡ những cú bổ cực mạnh từ tay thuận của đối thủ. Thế nhưng, trong cái ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, bản lĩnh của một viên đội trưởng dày dạn kinh nghiệm bắt đầu trỗi dậy.

Hùng nheo mắt, bình thản hít một hơi sâu, bắt đầu đọc thấu cái nhịp thở và quy luật của đối phương. Anh nhận ra rằng, dù là "nghịch" hay "thuận", mỗi kiếm khách đều có một kẽ hở không thể che giấu khi dồn toàn lực vào một đòn kết liễu.

Khi tên sát thủ vung một chiêu đoản đao cực hiểm nhắm thẳng vào màng sườn, Hùng không né theo bản năng cũ. Thay vào đó, anh chủ động nhích người vào sát kình lực đối phương, xoay cán kiếm một vòng điệu nghệ để mượn lực phản chấn.

"Xoẹt!"

Lưỡi kiếm sắc lẹm xé toạc không trung. Bằng một kỹ thuật phản công, Hùng đã bắt bài được hướng đao, chém trúng vào bắp tay trái của kẻ lạ mặt. Máu tươi bắn ra, nhuộm đỏ tay áo đen. Tên sát thủ khẽ hừ lên một tiếng đau đớn, lùi lại vài bước ôm lấy vết thương, ánh mắt lộ rõ vẻ kinh ngạc xen lẫn kiêng dè trước sự chuyển biến bất ngờ của đối thủ.

Bị thương bất ngờ cộng thêm việc không gian trong phòng quá chật hẹp làm hạn chế những chiêu thức quái dị của tả kiếm, kẻ lạ mặt bất ngờ tung một cước đá văng cánh cửa sổ, mượn đà phi thân lao vút ra ngoài sân gạch. Trần Hùng không chút chần chừ, cũng nhún mình phóng theo, tà áo bào bay phần phật trong gió đêm.

Dưới ánh trăng bàng bạc, giữa khoảng sân rộng thênh thang của huyện đường, cuộc quyết đấu càng trở nên khốc liệt. Hai bóng đen lao vào nhau như hai cơn lốc, tiếng binh khí va chạm "keng keng" chát chúa vang dội cả một vùng. Lối đánh của kẻ tay trái khi có không gian rộng rãi càng trở nên biến hóa, mỗi đường đao vung ra đều mang theo kình lực xé gió, ép Trần Hùng phải vận hết mười phần công lực để chống đỡ.

Lúc này, nghe tiếng động lớn, lính lệ cầm đuốc từ các phía rầm rập kéo đến, tiếng hô hoán "Có thích khách! Có thích khách!" vang lên náo loạn cả một vùng. Vòng vây quân lính với giáo dài và đuốc sáng rực ngày càng khép chặt.

Biết mình đã bị thương và không thể dây dưa lâu vì lính canh đang kéo tới càng lúc càng đông, kẻ lạ mặt bất ngờ rút từ trong người ra một quả cầu nhỏ, ném mạnh xuống đất.

"Bùm!"

Khói trắng bốc lên mù mịt, cay xè mắt mũi. Trần Hùng ho sặc sụa, cố gắng xua tan làn khói để truy đuổi nhưng khi tầm nhìn trở lại, bóng đen kia đã phi thân qua tường bao, biến mất vào màn sương đêm dày đặc. Từ trong bóng tối vọng lại tiếng nói lạnh lẽo, đầy vẻ đe dọa: "Các người không thể bảo vệ tên mập ấy mãi đâu!"



Một lát sau, khi khói đã tan và trật tự được vãn hồi, Nguyễn Duy đứng giữa căn phòng bừa bộn như bãi chiến trường. Bàn ghế gãy đổ ngổn ngang, mảnh gốm vỡ vụn vương vãi khắp sàn. Thầy lang Cuội vẫn nằm mê man ở góc phòng sau cú đánh trời giáng, còn Lê Khắc Cẩn thì ngồi co ro trên sập, mặt cắt không còn giọt máu, quần ướt sũng một mảng lớn vì sợ hãi.

Nguyễn Duy bước lại gần Cẩn, giọng nghiêm nghị nhưng không giấu được sự lo lắng: "Lê huynh, huynh bình tĩnh lại. Hắn đã đi rồi. Lúc nãy hắn có nói gì với huynh không? Tại sao hắn lại muốn giết huynh?"

Cẩn run lẩy bẩy, lắp bắp mãi mới thành tiếng: "Hắn... hắn bảo hắn đến để đòi nợ máu. Hắn nhắc đến... một vụ án oan sai cách đây hai năm. Hắn nói ta đã xử ép, hại chết cả gia đình hắn..."

"Vụ án nào? Hai năm trước huynh đi tuần thú ở đâu?" Duy gặng hỏi.

Cẩn ôm đầu, vẻ mặt đau khổ pha lẫn hoang mang: "Ta... ta làm sao mà nhớ nổi! Hai năm trước ta đi qua bao nhiêu phủ huyện, xử cả trăm vụ án. Vụ nào dân đen chẳng kêu oan? Ta cứ tưởng chúng nó kêu cho có lệ, ai ngờ... ai ngờ có kẻ lại mang thù sâu đến thế..."

Nguyễn Duy thở dài, lắc đầu ngao ngán. Với cách làm quan của Cẩn, việc gây thù chuốc oán là điều dễ hiểu, nhưng một kẻ thù nguy hiểm đến mức dám xông vào huyện đường ám sát quan triều đình thì không thể xem thường.

Chàng quay sang Trần Hùng đang băng bó vết thương trên tay, hỏi kỹ: "Trần Hùng, ngươi giao đấu với hắn, ngươi thấy võ công hắn thế nào?"

"Bẩm quan, hắn rất mạnh, không phải là trộm cướp tầm thường," Trần Hùng vừa nói vừa nhăn mặt vì đau. "Võ nghệ cao cường, thân pháp quỷ dị. Nhưng điều đáng sợ nhất là cánh tay trái của hắn. Lực chém của tay trái mạnh đến mức có thể chẻ đôi tảng đá, uy lực gấp bội tay phải. Hắn dùng tay trái điêu luyện, thuần thục. Đối đầu với hắn, thuộc hạ cảm giác mọi đường kiếm của mình đều bị hắn bắt bài và khắc chế dễ dàng."

Nguyễn Duy đứng lặng, chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong phòng. Đôi mày phượng của chàng nhíu chặt lại thành một đường thẳng, tâm trí căng ra như dây đàn để xâu chuỗi những manh mối rời rạc.

"Tay trái..." Duy lẩm bẩm, ánh mắt nhìn xa xăm vào màn đêm đen kịt ngoài cửa sổ.

"Thầy Đề," Duy quay sang người thư lại già đang đứng nép ở góc phòng, giọng trầm xuống phân tích. "Thầy hãy nhớ lại hiện trường vụ án con Thắm. Cái nút thắt thòng lọng treo cổ nạn nhân là nút thắt ngược, đặc trưng của người thuận tay trái. Đó là manh mối đầu tiên khiến chúng ta chú ý."

"Dạ bẩm, đúng ạ."

"Thế nhưng," Duy tiếp tục, giọng đanh lại. "Hung thủ vụ đó lại phải dùng đến một cái bẫy phức tạp: dùng mỡ lợn bôi trơn xà nhà để giảm ma sát, dùng dây thừng vắt qua xà làm đòn bẩy ròng rọc để kéo xác nạn nhân lên. Điều đó chứng tỏ điều gì? Chứng tỏ hung thủ là kẻ yếu sức, không đủ khả năng nhấc bổng một người chết lên cao bằng tay không, nên phải dùng mưu mẹo để hỗ trợ."

Duy chỉ tay ra cửa sổ, nơi tên sát thủ vừa tẩu thoát: "Còn kẻ sát thủ đêm nay, hắn cũng thuận tay trái. Nhưng hắn lại sở hữu sức mạnh kinh hồn, một đao có thể đẩy lùi Trần Hùng, một cước có thể phá nát cửa sổ. Một kẻ có sức vóc và võ nghệ thượng thừa như thế, nếu muốn giết một con hầu gái yếu ớt như con Thắm, hắn chỉ cần một cái búng tay là xong. Hắn việc gì phải tốn công tìm mỡ lợn, tính toán đòn bẩy, dây dợ lằng nhằng làm gì cho mất thời gian và để lại dấu vết?"

"Vô lý! Quá vô lý!" Duy thốt lên, giọng day dứt.

"Bẩm quan..." Thầy Đề rụt rè lên tiếng. "Vậy ý quan là..."

Ánh mắt Nguyễn Duy sắc sảo lóe lên trong đêm tối: "Chúng ta chưa thể khẳng định vụ ám sát này có liên quan đến cái chết của con Thắm hay không. Nhưng sự trùng hợp về tay trái thật đáng ngờ. Kẻ đêm nay là sát thủ tay trái, mang mối thù hận từ quá khứ với Lê huynh, võ nghệ cao cường. Còn kẻ giết con Thắm là hành động âm thầm, dùng mưu mẹo. Nếu chúng là hai kẻ khác nhau, thì tại sao lại cùng xuất hiện vào lúc này?"

Bức màn bí mật chưa kịp vén lên đã lại bị phủ thêm một lớp sương mù dày đặc. Những mảnh ghép cứ ngỡ đã khớp lại bỗng chốc vỡ vụn, đảo lộn.

"Trần Hùng, ngươi bị thương rồi, ở lại đây tăng cường canh gác cho Lê huynh và trông chừng gã Cuội này. Tuyệt đối không được để ai tiếp cận họ nữa, cũng không được để họ rời đi nửa bước. Thầy Đề, trời cũng đã khuya rồi, thầy hãy về phòng nghỉ ngơi đi. Trần Hùng, ngươi nhớ cắt cử người canh chừng phòng của thầy Đề cho cẩn mật. Còn ta, ta sẽ mời Phan huynh cùng bốn lính lệ tinh nhuệ đi cùng ta đến vách đá Vọng Nguyệt."
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
whatever_we_are_loser,
Trả lời
235
Lượt xem
13.459
Quay lại
Lên đầu trang