Chương 8
Nắng trưa đứng bóng đổ lửa xuống sân huyện, cổng đường rầm rập tiếng bước chân. Đội trưởng Trần Hùng áp giải một gã đàn ông vào thẳng hậu đường. Gã này trông chẳng có vẻ gì là bậc y gia cứu thế. Đó là một gã đàn ông to lớn như hộ pháp, bắp tay cuồn cuộn nổi lên dưới lớp áo chàm rách rưới. Gương mặt gã dữ tợn với bộ râu quai nón rậm rạp che gần hết cằm. Mùi rượu nếp nồng nặc bốc ra từ hơi thở khiến đám lính lệ cũng phải nhăn mặt.
Đó là Cuội. Hắn không đi, mà nửa bước nửa lết theo sức kéo của Trần Hùng, miệng vẫn lảm nhảm những lời bỗ bã: "Kìa quan Đội... từ từ cái tay... Ta đang dở bữa rượu, có ai chết đâu mà giục như cháy nhà thế?"
Nguyễn Duy đứng đợi sẵn bên bậc thềm, ánh mắt quan sát kỹ gã thầy lang. Chàng khẽ nheo mắt, cái vóc dáng hộ pháp và đôi bàn tay gân guốc ấy bỗng khơi gợi trong tâm trí chàng một mảnh ký ức vừa mới hôm qua. Giữa khu chợ huyện ồn ào náo nhiệt, chính gã đàn ông này đã dùng sức mạnh thô bạo tưởng như muốn bẻ gãy tay một người thanh niên, khiến kẻ đó la hét thảm thiết nhưng chỉ tích tắc sau lại có thể cử động bình thường, tươi cười bái tạ.
"Hóa ra là hắn," Nguyễn Duy thầm nhận định, "kẻ dùng bạo lực để cứu người."
"Bẩm quan lớn, đã đưa được Cuội thầy lang tới." Trần Hùng buông tay, Cuội lảo đảo một chút rồi đứng vững, đưa đôi mắt vằn tia máu nhìn khắp lượt căn phòng.
Nguyễn Duy khẽ gật đầu: "Cuội, Quan Tri Phủ đại nhân đang bị trọng thương. Mời ông xem xét cho."
Cuội không hành lễ, cũng chẳng thưa gửi. Hắn tiến lại gần sập gụ, nơi Lê Khắc Cẩn đang nằm rên hừ hừ. Thay vì bắt mạch hay hỏi han con bệnh như những thầy lang thông thường, Cuội lại nhìn Cẩn bằng đôi mắt sắc lẹm của một gã đồ tể đang xem xét thớ thịt trên phản. Hắn không nhìn vết thương, mà như đang nhìn thấu qua lớp da mỡ màng kia để thấy từng thớ cơ bị xô lệch, từng khớp xương bị tổn thương. Đôi tay thô kệch, đầy vết chai sạn của hắn dứt khoát ấn mạnh vào đốt sống lưng Cẩn.
"Á... á... quân sát nhân! Ngươi định giết ta sao?" Cẩn hét lên, mồ hôi vã ra như tắm.
Cuội hừ lạnh một tiếng, mặc kệ lời chửi bới. Hắn thò tay vào cái túi vải cũ nát đeo bên hông, lôi ra một nắm lá cây có hình thù kỳ dị, mép lá răng cưa, xanh ngắt một màu ma mị. Không cần cối giã, Cuội tống thẳng nắm lá vào mồm, nhai nhồm nhoàm rồi nhổ toẹt thứ nước xanh đặc quánh lên vết bầm tím trên lưng Cẩn.
"Lá cây gì mà hôi hám thế kia?" Thầy Đề Lĩnh đứng cạnh bên không nhịn được mà lên tiếng.
Cuội ngửa cổ uống một ngụm từ bầu rượu mang theo, cười khà khà, đôi mắt bỗng trở nên lờ đờ như đang lạc vào một cõi khác. Hắn bắt đầu kể, giọng khê nồng mùi rượu: "Các người biết gì mà hỏi? Mấy năm trước, ta đang vác rìu vào rừng sâu săn thú. Thấy bốn con cọp con đang vờn nhau, ta vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay. Nhưng vừa lúc đó, tiếng gầm của cọp mẹ làm chấn động cả núi rừng ngay sau lưng. Ta chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn cây cao để giữ mạng."
Hắn ngừng lại, nuốt nước miếng, giọng trở nên liêu trai: "Từ trên cao nhìn xuống, ta thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết, rồi lẳng lặng đi đớp lấy thứ lá cây này, mớm cho con. Các người có tin không? Ăn chưa hết miếng lá, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại như chưa từng có nhát rìu nào chạm tới. Ta chờ cọp mẹ đi khuất, mới xuống đào gốc cây ấy mang về... Ta trồng nó ở xó vườn, nhìn thì lạ lắm, thân nó lớn nhanh khủng khiếp, xù xì sần sùi hệt như cây đa cổ thụ, nhưng lá lại chẳng giống lá đa bình thường tí nào, cứ răng cưa nhọn hoắt."
Lời kể nửa thực nửa hư của Cuội khiến không gian hậu đường bỗng chốc trở nên liêu trai, ma mị không kém gì huyền thoại về Chim Thần. Nguyễn Duy nheo mắt, thầm nghĩ: "Lại một huyền thoại nữa sao? Huyện Hoằng Hóa này dường như được bao phủ bởi những điều không tưởng."
Vừa dứt lời, Cuội lại bắt đầu nắn bóp. Đôi bàn tay thô bạo của hắn khiến Lê Khắc Cẩn đau đến mức khóc không thành tiếng, mặt mũi đỏ tía tai. Trong lúc đang "hành hạ" vị đại quan, Cuội đột nhiên dừng tay, lau mồ hôi vào vạt áo rồi nhìn Duy, dõng dạc nói:
"Ta sẽ ở lại đây coi sóc cho ông quan này cho đến khi đi đứng lại được mới thôi. Nhưng ta nói trước, ta vốn chẳng phải hạng thánh nhân. Ta cứu người có quy tắc của ta, dân nghèo khổ cực ta chẳng lấy một đồng, coi như làm phúc; còn ngữ quan lại hay bọn trọc phú, ta thu tiền không nương tay. Quan Phủ đây là 'mỏ vàng'. Mỗi ngày một lạng bạc, thiếu một đồng ta cũng không làm. Quan lớn thấy sao?"
Nguyễn Duy nhìn Cẩn đang nằm thoi thóp, rồi lại đưa mắt quan sát vết thương trên lưng vị Quan Phủ. Chàng kinh ngạc nhận thấy những mảng bầm đen tím ngắt, vốn sưng tấy dữ dội ban nãy, nay dưới lớp lá thuốc nhai nát của Cuội dường như đang dịu lại, sắc thâm tím bắt đầu tan bớt một cách thần kỳ. Hiệu nghiệm nhãn tiền ấy khiến Duy tin rằng gã hộ pháp này quả thực có tài. Chàng khẽ gật đầu: "Được, tiền bạc không thành vấn đề. Chỉ cần ông chữa khỏi cho đại nhân."
Cuội cười khà khà, lại tiếp tục vung tay nắn bóp, mặc cho tiếng rên rỉ của Lê Khắc Cẩn vang vọng khắp huyện đường trong buổi trưa đứng bóng.
—
Đầu giờ chiều, trong thư phòng của huyện đường, không khí tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ trong xà nhà. Nguyễn Duy ngồi bên án thư, tay cầm bút lông nhưng mực đã khô cong trên đầu ngọn bút mà chưa hạ xuống được chữ nào.
Từ phía hậu đường vọng lại tiếng rên rỉ ư hử không dứt của Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn. Dù vết bầm đã tan bớt nhờ thuốc lạ của Cuội, nhưng cái tính công tử bột hay than vãn của Cẩn thì thuốc tiên cũng chẳng chữa nổi. Tiếng rên rỉ như tiếng ruồi nhặng vo ve bên tai khiến dòng suy nghĩ của Duy cứ chốc chốc lại bị đứt đoạn, làm chàng càng thêm bứt rứt.
"Thầy Đề!" Duy đặt bút xuống, day day thái dương đang giật liên hồi. "Cái tiếng rên của Lê huynh làm ta không thể nào tập trung nổi. Thôi thì thầy mau mang chồng hồ sơ lý lịch của gia đình ông Tham và thầy đồ Hiếu mà ta dặn thầy lục tìm hôm trước ra đây, sẵn ta cũng muốn tìm hiểu kỹ hơn về họ".
Thầy Đề Lĩnh đang gà gật ở góc phòng, nghe gọi tên thì giật mình tỉnh giấc, vội vàng lục lọi trong tráp gỗ mun, lôi ra một tập giấy bản đã ố vàng, mép giấy sờn rách. Ông lão run run dâng lên án thư, rồi đứng nép sang một bên, tay phe phẩy chiếc quạt nan để xua đi cái nóng và cả sự căng thẳng đang bao trùm lấy vị quan trẻ.
Nguyễn Duy mở tập hồ sơ, mùi giấy cũ mốc xộc lên mũi. Chàng lướt nhanh qua phần của ông Tham. Gia đình họ vốn có truyền thống lâu đời làm nghề buôn bán lụa là gấm vóc. Song, cha mẹ không may qua đời sớm, để lại toàn bộ gia sản khổng lồ cho người anh cả là Tham tiếp quản. Với bản tính lọc lõi của một thương nhân, Tham nhanh chóng phát triển cơ nghiệp, trở nên giàu có nức tiếng vùng này, lý lịch rõ ràng, không có gì đáng ngờ ngoài cái tính tham lam ai cũng biết.
Ánh mắt chàng dừng lại ở phần ghi chép về người em trai, Trần Văn Hiếu.
"Trần Văn Hiếu... sinh năm Canh Tý..." Duy lẩm bẩm đọc, ngón tay trượt dài trên những dòng chữ. Đột nhiên, đôi mày phượng của chàng nhíu chặt lại.
"Thầy Đề, thầy nhìn chỗ này xem." Duy chỉ tay vào một đoạn văn bản. "Trong đây ghi rõ, Hiếu từng có thời gian 5 năm ròng rã lên kinh thành dùi mài kinh sử để thi Hương. Nhưng lạ thay, một người có khả năng dạy học, thuộc làu kinh sử và giữ lễ nghĩa mực thước như y, vậy mà suốt 5 năm ấy lại không hề đỗ đạt chút công danh gì. Đi biền biệt 5 năm trời, tiêu tốn bao nhiêu tiền của gia đình, rồi đùng cái trở về tay trắng, chẳng có lấy một mảnh bằng dắt lưng."
Thầy Đề Lĩnh nheo mắt nhìn qua cặp kính lão, gật gù xác nhận: "Bẩm quan, đúng là lạ thật. Nhưng điều đáng nói hơn là cái mốc thời gian này cơ ạ. Quan xem, chính trong khoảng thời gian cậu Hiếu đi học xa, thì ở nhà song thân lần lượt qua đời vì bạo bệnh. Lão còn nhớ như in, hồi đám tang hai cụ, lão cũng có sang viếng và hỏi thăm về cậu Hiếu. Lúc ấy, ông Tham chỉ chép miệng bảo là chú nó đang bận dùi mài kinh sử để thi Hương trên kinh, đường sá xa xôi cách trở, lại sắp đến kỳ thi quan trọng nên có gửi thư về cáo lỗi là không về chịu tang được. Thế là tang ma lớn nhỏ đều một tay vợ chồng ông Tham bà Mận lo liệu cả. Cũng chính vì lẽ đó mà sau khi mãn tang, toàn bộ gia sản hương hỏa của các cụ đều mặc nhiên thuộc về vợ chồng người anh."
"Chưa hết," Duy lật sang trang tiếp theo, giọng trầm xuống đầy vẻ nghi hoặc. "Y trở về làng Vọng Khê vào đúng độ cuối thu hai năm trước. Và điều đáng nói là y không về một mình."
Duy ngước lên nhìn Thầy Đề, ánh mắt sắc sảo như muốn xuyên thấu màn sương quá khứ: "Y mang theo một cô gái câm. Chính là nàng Sen hiện nay."
"Dạ bẩm, chuyện này thì cả làng ai cũng biết ạ." Thầy Đề nhanh nhảu đáp. "Hồi đó thầy Hiếu giải thích là trên đường hồi hương, gặp cô gái này bị nạn, ngất xỉu bên vệ đường, thương tình cứu giúp rồi đem về cưu mang. Ngặt nỗi cô ấy bị câm, chỉ ú ớ chứ không nói được lời nào nên chẳng ai hỏi han được quê quán, gốc gác ở đâu. Thấy cô ấy hiền lành, chịu khó lại không nơi nương tựa, thầy mới lấy làm vợ. Dân làng ai cũng khen thầy có tấm lòng Bồ Tát."
Nguyễn Duy cười nhạt, nụ cười chứa đựng sự hoài nghi lạnh lẽo: "Tấm lòng Bồ Tát ư? Hay là một sự sắp đặt hoàn hảo? Thầy Đề ngẫm mà xem, một cô gái câm, không biết nói, hoàn toàn không có lai lịch, gốc gác. Chẳng ai biết cô ta tên thật là gì, quê quán ở đâu, cha mẹ là ai. Cô ta như một bóng ma đột ngột xuất hiện bên cạnh Hiếu đúng vào thời điểm y trở về từ kinh thành."
Nguyễn Duy ngừng lại một chút, ánh mắt đăm chiêu nhìn người thư lại già, ngập ngừng hỏi: "Thầy Đề, ta hỏi thật thầy một câu. Nếu thầy là thầy đồ Hiếu, đi xa 5 năm trời, khi trở về thấy gia sản hương hỏa của song thân để lại đều lọt hết vào tay anh chị, bản thân chỉ được chia cho một mảnh đất nhỏ xíu cắm dùi... trong lòng thầy sẽ nghĩ sao?"
Thầy Đề Lĩnh khựng lại, ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi thành thật đáp: "Bẩm quan... nếu là kẻ phàm phu tục tử như lão, chắc chắn lão sẽ uất ức, sẽ căm thù lắm ạ. Máu mủ ruột rà mà đối xử với nhau như bát nước hắt đi thì ai mà chịu thấu. Nhưng... với thầy Hiếu, một người nổi tiếng là độ lượng và hiền lành thì... có lẽ tâm tính người ta khác người thường chăng?"
Nguyễn Duy đứng dậy, chắp tay đi lại trong phòng, tà áo lụa khẽ lay động. Chàng khẽ thở dài, tự trách mình đã quá chủ quan. Lẽ ra ngay từ khi vụ án mới manh nha, chàng phải cho người điều tra kỹ lai lịch của những kẻ liên quan, thay vì bị cuốn theo những hiện tượng kỳ bí kia.
Chàng nào có ngờ đâu, một vụ án tưởng chừng chỉ xoay quanh lòng tham và mê tín nơi đây lại rắc rối và chằng chịt uẩn khúc đến nhường này. Ánh mắt chàng lại dán chặt vào trang hồ sơ đang mở: "5 năm ở kinh thành, Hiếu đã làm gì nếu không phải là đi học và thi cử? Và nàng Sen kia, liệu có thực sự là một cô gái đáng thương được cứu vớt?"
Tiếng rên rỉ của Lê Khắc Cẩn từ hậu đường vẫn vọng lại, nhưng lúc này nó không còn làm phiền được Nguyễn Duy nữa. Trong đầu chàng, một bức tranh khác đang dần hiện ra, u tối và phức tạp hơn rất nhiều so với vẻ ngoài đạo mạo của vợ chồng thầy đồ làng.
Bóng chiều đã dần ngả về tây, song cái nóng hầm hập của ngày hè vẫn chưa chịu buông tha cho huyện đường. Nguyễn Duy gấp lại tập hồ sơ đầy rẫy những khoảng trắng về quá khứ của thầy đồ Hiếu. Những nghi vấn cứ luẩn quẩn, bện chặt trong đầu chàng như một mớ tơ vò chưa tìm thấy mối gỡ.
"Thầy Đề," Duy đứng dậy, cầm lấy chiếc nón chóp. "Ngồi đây đoán già đoán non cũng vô ích. Ta muốn xuống lại hiện trường nhà bà Mận một lần nữa. Biết đâu, chúng ta lại bỏ sót điều gì."
Thầy Đề Lĩnh vội vã cắp tráp đi theo, lật đật leo lên cỗ xe ngựa quan nha đang chờ sẵn trước cổng, thầm cảm tạ trời đất vì không phải cuốc bộ với đôi chân già nua.
—-
Căn nhà gạch nhỏ của vợ chồng ông Tham hiện ra trong cảnh tiêu điều. Lính lệ vẫn canh gác nghiêm ngặt, nhưng cái không khí chết chóc dường như đã ngấm vào từng viên gạch, ngọn cỏ. Nguyễn Duy đi một vòng quanh nhà, soi xét từng gốc cây, bụi cỏ, thậm chí trèo lên cả mái bếp để tìm kiếm dấu vết lạ. Nhưng tất cả đều vô vọng. Ngoài những dấu vết cũ đã được Nguyễn Duy và Phan Tiên Sinh khám nghiệm, chàng chẳng tìm thấy gì thêm. .
Duy thở dài, bước ra sân, ánh mắt vô tình lướt qua bức tường ngăn cách với dinh cơ nhà bên cạnh. Trái ngược với sự hoang lạnh bên này, nhà thầy đồ Hiếu đang tất bật không khí tang gia. Cờ tang trắng xóa đã được cắm dọc lối đi, tiếng đục đẽo quan tài, tiếng người làm í ới gọi nhau chuẩn bị đồ khâm liệm vang lên huyên náo. Hiếu đang chỉ đạo đám gia nhân treo những tấm hoành phi, câu đối trắng muốt, gương mặt y trĩu nặng u sầu, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt nước mắt.
Duy thầm nghĩ, ánh mắt sắc lạnh. "Để xem màn kịch này hạ màn thế nào."
Chàng quay lưng bước ra cổng, định bụng trở về huyện đường để tính toán khác. Vừa ra đến con đường làng rợp bóng tre, Duy và Thầy Đề bắt gặp một đám trẻ con đang túm tụm lại, ồn ào tranh cãi. Đó là đám học trò của thầy Hiếu.
Giữa đám đông ồn ào bụi bặm ấy, một thằng bé gầy gò, lọt thỏm trong chiếc áo nâu sờn vai rộng thùng thình đang co rúm người lại như con gà con bị diều hâu săn đuổi. Vây quanh nó là năm sáu đứa trẻ lớn hơn, đứa nào đứa nấy mặt mũi lem luốc nhưng vẻ mặt đầy hăm dọa. Một thằng nhóc to đầu nhất, tay cầm cành tre khô, vừa dí vào ngực thằng bé gầy gò vừa cười hô hố:
"Ê Tí! Mày liệu hồn đấy! Mày cứ bô bô cái mồm kể chuyện ma quỷ, coi chừng đêm nay Chim Thần nó bay xuống cắp mày đi như cắp ông Tham đấy! Ha ha!"
"Tao... tao nói thật mà!" Thằng Tí mếu máo, hai tay ôm chặt cuốn sách Tam Tự Kinh vào ngực như tấm khiên hộ mệnh mỏng manh. Đôi mắt nó ầng ậc nước, vừa sợ hãi vừa uất ức: "Tao thấy thật! Nó to lắm! Nó che hết cả mặt trăng..."
"Lại còn chối!" Đám trẻ nhao nhao hùa theo, tiếng cười cợt, tiếng chửi bới vang động cả một góc đường quê yên tĩnh.
Hai chữ "Chim Thần" lọt vào tai Nguyễn Duy như một luồng điện xẹt qua sống lưng. Bước chân chàng khựng lại, ánh mắt sắc lên. Chàng ra hiệu cho Thầy Đề im lặng, rồi hít một hơi sâu quát lớn: "Các con trật tự!"
Giọng nói uy nghiêm, vang rền của quan huyện như tiếng sấm nổ giữa trời quang, khiến đám trẻ đang hăng máu giật bắn mình. Tiếng cười tắt ngúm. Đám nhóc quay đầu lại, nhìn thấy bóng dáng hai vị quan khách với y phục trang trọng thì hồn xiêu phách lạc. Chúng vội vàng cúi gằm mặt, lí nhí chào rồi lùi lại phía sau, dạt ra như bầy ong vỡ tổ. Chỉ còn lại thằng Tí đứng trơ trọi giữa đường, mặt tái mét, chân tay run lẩy bẩy như cầy sấy.
Nguyễn Duy bước lại gần, bóng chàng đổ dài trùm lên người đứa nhỏ. Chàng hạ giọng ôn tồn, cố gắng thu lại cái uy quyền thường ngày để không làm thằng bé sợ chết khiếp: "Hôm nay mấy đứa không phải đến lớp học chữ sao mà lại tụ tập ở đây?"
Một đứa trẻ bạo dạn nhất trong nhóm, đứng nấp sau gốc đa, lí nhí đáp vọng ra: "Dạ bẩm quan... thầy Hiếu bảo nhà để tang ông Tham, thầy phải lo liệu hậu sự nên cho cả lớp nghỉ học mấy hôm ạ."
Duy gật đầu ra chiều đã hiểu. Ánh mắt chàng chuyển hướng, tập trung toàn bộ sự chú ý vào đứa bé đang run rẩy nhất. Chàng ngồi xổm xuống, không ngại vạt áo lụa chạm đất, để tầm mắt mình ngang hàng với thằng bé, nở nụ cười hiền hậu: "Con tên là Tí phải không? Đừng sợ. Ta là quan huyện Nguyễn Duy, ta đến đây là để bảo vệ dân làng, bảo vệ các con. Ta vừa nghe con nói con thấy Chim Thần, có phải không?"
Thằng Tí nghe thấy giọng nói ấm áp thì ngẩng lên, nhưng đôi mắt vẫn láo liên nhìn đám bạn đang đứng xa xa dòm ngó, rồi lại nhìn quan huyện, ấp úng: "Dạ... con... con không dám nói nữa đâu ạ... "
"Ta cho phép con nói." Duy đặt tay lên vai thằng bé, ánh mắt kiên định truyền cho nó sự tin cậy. "Ở đây ta là người to nhất, không ai dám phạt con cả. Con cứ kể thật những gì con thấy. Con thấy nó ở đâu? Và thấy khi nào?"
Được lời động viên của quan lớn, thằng Tí nuốt nước bọt ực một cái, lấy hết can đảm lí nhí kể lại ký ức kinh hoàng mà nó đã giấu kín bấy lâu: "Dạ... chuyện là từ năm ngoái cơ ạ. Lúc ấy là đêm rằm trăng sáng vằng vặc. Con ham chơi đuổi theo con dế lửa nên đi lạc lên tận vách đá Vọng Nguyệt..."
"Vách đá Vọng Nguyệt?" Thầy Đề Lĩnh đứng bên cạnh thốt lên, giọng đầy vẻ kinh ngạc. "Chỗ đó hẻo lánh, vách đá dựng đứng, gió to sóng lớn, người lớn còn ngại lên, sao mày dám mò lên đó?"
"Dạ... con đi lạc..." Tí cúi gằm mặt, giọng run run khi hồi tưởng lại. "Lúc ấy trăng sáng lắm, sương mù từ biển bốc lên giăng giăng mờ ảo. Con đang sợ thì bỗng thấy một bóng đen to khổng lồ từ dưới vực bay vút lên. Nó lướt qua mặt trăng... Nhưng mà quan ơi... nó lạ lắm..."
Đôi mắt thằng bé mở to, ánh lên vẻ hoang mang tột độ khi nhớ lại cảnh tượng cũ: "Con chim ấy... to lắm, nó không hề vỗ cánh. Cánh nó cứ dang rộng, cứng đơ như hai cái phản gỗ, thế mà nó vẫn bay vù vù, lướt đi trong gió êm ru, chẳng nghe tiếng phạch phạch như chim sẻ chim sâu gì cả."
Nguyễn Duy và Thầy Đề nhìn nhau, một tia sáng lóe lên trong đầu vị quan trẻ. "Không vỗ cánh mà vẫn bay được...?"
"Con chắc chắn chứ?" Nguyễn Duy hỏi gặng.
"Con thề ạ! Con sợ quá nên nấp sau tảng đá, nhìn nó bay một vòng rồi lặn xuống phía sau vách núi. Cả năm nay con tưởng con bị hoa mắt nên không dám kể. Nhưng mấy hôm nay nghe người ta đồn ông Tham được chim chở đi, con mới nhớ ra... Huhu quan đừng bắt con..."
Nguyễn Duy đứng dậy, gương mặt giãn ra đôi chút. Chàng nhìn thẳng vào mắt thằng bé, hỏi gặng: "Con đã kể chuyện này cho ai khác nghe chưa? Cha mẹ con, hay thầy Hiếu?"
Tí lắc đầu quầy quậy: "Dạ chưa ạ... Con sợ bị mắng là nói dối nên giấu tiệt. Hôm nay bị tụi nó trêu quá con mới lỡ miệng kể cho đám bạn này thôi..."
Nguyễn Duy nghe vậy thì thở phào một tiếng, nhưng ngay lập tức chàng vẫy tay gọi đám trẻ đang đứng thập thò đằng xa lại gần. Đám nhỏ thấy quan lớn gọi thì rón rén bước tới, mặt đứa nào cũng cúi gằm.
"Tất cả nghe đây," Duy nghiêm giọng, ánh mắt quét qua từng khuôn mặt lem luốc. "Chuyện bạn Tí vừa kể, và cả cuộc gặp gỡ hôm nay với ta, các con tuyệt đối không được kể cho bất kỳ ai nữa, kể cả thầy giáo hay cha mẹ. Nếu chuyện này để lọt ra ngoài, không chỉ bạn Tí mà cả các con cũng sẽ gặp nguy hiểm đấy. Các con có hiểu không?"
Đám trẻ nghe đến hai chữ "nguy hiểm" thì sợ xanh mặt, đồng thanh lí nhí: "Dạ, chúng con nhớ rồi ạ! Chúng con xin hứa giữ kín như bưng ạ."
Nguyễn Duy mỉm cười gật đầu, chàng quay sang Thầy Đề ra hiệu: "Thầy Đề, thầy phát cho tụi nhỏ vài đồng lẻ để chúng mua kẹo ăn, coi như phần thưởng cho sự ngoan ngoãn này."
Thầy Đề Lĩnh lục lọi trong túi áo, lấy ra mấy đồng kẽm chia cho từng đứa. Đám trẻ cầm được tiền thì mắt sáng rỡ, quên sạch cả nỗi sợ ban nãy, chúng tíu tít cúi đầu: "Chúng con cảm ơn quan lớn! Cảm ơn thầy ạ!" rồi ù té chạy biến đi như một đàn chim sẻ.
Đợi đám trẻ tản đi hết, Thầy Đề Lĩnh mới rụt rè tiến lại gần Nguyễn Duy, vẻ mặt đầy băn khoăn: "Bẩm quan, chuyện thằng bé kể khi nãy... ý quan là sao ạ?"
Nguyễn Duy nhìn về phía vách núi xa xa, trầm ngâm đáp: "Thầy Đề ngẫm mà xem. Theo lời khai của bà Mận và cả thầy Hiếu, con Chim Thần đó chỉ xuất hiện duy nhất tại cây khế trong vườn nhà họ để ăn khế trả vàng. Thế nhưng, theo lời thằng bé Tí, nó lại nhìn thấy con chim ấy xuất hiện ở vách đá Vọng Nguyệt. Tại sao lại là ở đó? Có cái gì ở đó chăng?"
Thầy Đề Lĩnh vuốt chòm râu thưa, ngập ngừng: "Nhưng mà... lỡ thằng bé đó nhìn nhầm, hay nó bịa chuyện để mua vui với đám bạn thì sao? Trẻ con hay tưởng tượng lung tung lắm quan ạ."
Nguyễn Duy khẽ nháy mắt, nụ cười nửa miệng hiện lên đầy ẩn ý: "Thật hay giả, đêm nay sẽ rõ. Coi như tối nay ta với thầy đi 'vọng nguyệt' một lần cho biết phong vị. Mấy hôm nay trăng tròn đẹp thế cơ mà, bỏ lỡ thì uổng phí lắm."
Thầy Đề nghe đến việc phải leo lên vách đá dựng đứng giữa đêm khuya thì mặt tái mét, lắc đầu quầy quậy: "Thôi thôi, cho cái thân già này xin quan ơi! Đêm khuya thanh vắng lên cái chốn ấy, gió biển thổi mạnh có khi thổi bay cả lão xuống vực mất. Quan thương tình... tha cho lão lần này..."
Nghe thầy Đề than vãn, Nguyễn Duy bất giác khẽ mỉm cười.
Thầy Đề thấy vậy liền thốt lên: "Bẩm quan, mấy hôm nay lão mới thấy quan cười đấy ạ."
Duy gật đầu, ánh mắt sáng lên vẻ tinh anh: "Phải, thầy Đề ạ. Hình như chúng ta sắp chạm tay vào một phát hiện mới rồi. Thôi, không làm khó thầy nữa, chúng ta về lại nha môn chuẩn bị thôi."
—
Đêm đã về khuya, trăng tròn treo lơ lửng trên nóc huyện đường, tỏa ánh sáng bàng bạc yếu ớt xuống sân gạch lạnh lẽo.
Trong hậu phòng, ánh đèn dầu leo lét hắt những cái bóng chập chờn lên vách tường. Mùi thuốc lá nồng nặc quyện với mùi dầu xoa bóp khiến không khí càng thêm ngột ngạt. Thầy lang Cuội vừa đắp thêm một lượt thuốc lá giã nát lên lưng Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn, vừa lầm bầm tính toán trong đầu.
"Hừm, cái lưng này xem chừng cũng sắp ổn rồi," Cuội lẩm bẩm, tay quệt mồ hôi trán. Hắn liếc nhìn vị quan lớn đang nằm sấp, rên hừ hừ như con lợn béo chờ làm thịt, lòng tham lại nổi lên. "Nhưng mà chữa nhanh quá thì lấy đâu ra cớ mà đòi thêm bạc? Hay là ta cứ dây dưa thêm dăm bữa nửa tháng nữa? Một lạng bạc một ngày cơ mà..."
Hắn cười khẩy, đắc ý với kế hoạch "vặt lông vịt" của mình. Hắn quay lưng lại phía cửa sổ để rửa tay vào chậu nước, miệng huýt sáo một điệu nhạc rừng.
Bất chợt, một luồng gió lạnh buốt thốc vào từ cửa sổ đang khép hờ, làm ngọn đèn dầu chao đảo dữ dội suýt tắt. Cuội với bản năng của kẻ từng đi rừng săn thú, cảm nhận được sát khí lạnh lẽo sau gáy. Nhưng hắn vừa kịp quay đầu lại thì đã quá muộn.
"Bốp!"
Một cú chặt tay sắc gọn và cực mạnh giáng thẳng vào gáy Cuội. Gã thầy lang hộ pháp trợn ngược mắt, đổ ập xuống sàn như một cây chuối bị đốn hạ, không kịp kêu lên một tiếng.
Lê Khắc Cẩn đang nằm sấp, nghe tiếng động lạ thì cố ngóc đầu dậy: "Tên lang băm kia! Ngươi làm cái gì mà ầm ầm thế... Ớ!"
Lời chưa dứt, cổ họng hắn đã nghẹn đắng lại vì kinh hãi. Trước mặt hắn, lừng lững một bóng đen cao lớn, trùm kín mặt, chỉ để lộ đôi mắt sáng quắc đầy hận thù. Kẻ đó đứng sừng sững, che khuất cả ánh đèn, lưỡi dao trên tay hắn phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo.
"Lê Khắc Cẩn..." Giọng nói của kẻ lạ mặt trầm đục, khàn đặc như tiếng vọng từ cõi âm ty, chứa đựng sự căm hận thấu xương tủy. "Tao đã theo dõi mày đã lâu, mày ngồi tót trên ghế cao, ăn sung mặc sướng trên xương máu dân đen, liệu cái đầu óc bã đậu của mày có còn nhớ đến vụ án oan khuất hai năm về trước không?"
Cẩn run lẩy bẩy, mặt cắt không còn giọt máu, lắp bắp không thành tiếng: "Mày... mày là ai? Vụ... vụ nào? Ta... ta xử nhiều vụ lắm... sao nhớ hết được..."
"Mày quên, nhưng tao thì không! Máu của cả gia đình vô tội bị mày phán sai vẫn còn đỏ lòm trên tay mày đấy!" Kẻ sát thủ rít lên qua kẽ răng, đôi mắt long sòng sọc sát khí. Hắn giơ cao lưỡi dao sáng loáng, phản chiếu ánh đèn dầu leo lét. "Nợ máu phải trả bằng máu. Đêm nay, cái ghế Quan Tri Phủ hay đám lính canh ngoài kia cũng không cứu được cái mạng chó của mày đâu!"
Lưỡi dao vung xuống, xé toạc không khí với một lực chết người. Cẩn nhắm tịt mắt, gào lên trong tuyệt vọng tột cùng: "Cứu!!! Cứu ta với!!!"
"Rầm!"
Cánh cửa gỗ bị đạp tung. Đội trưởng Trần Hùng, người vẫn luôn túc trực canh gác bên ngoài, lao vào như một con mãnh hổ khi nghe tiếng động lạ. Thấy lưỡi dao sắp chạm vào cổ quan lớn, Hùng không chút do dự rút kiếm, lao tới đỡ đòn.
"Keng!"
Tiếng kim loại va chạm chát chúa vang lên, tia lửa bắn ra tung tóe. Kẻ sát thủ bị lực đẩy bất ngờ, lùi lại vài bước nhưng vẫn đứng vững. Hắn quay sang nhìn Trần Hùng, ánh mắt không hề nao núng mà còn bùng lên sát khí.
"Khá lắm! Lâu rồi mới gặp đối thủ!"
Trần Hùng không đáp, hét lớn một tiếng rồi vung kiếm tấn công dồn dập. Một cuộc giao tranh dữ dội, nghẹt thở nổ ra ngay trong gian phòng chật hẹp. Đồ đạc bị hất tung, bàn ghế gãy nát.
Tuy nhiên, càng đánh, Trần Hùng càng cảm thấy có điều gì đó cực kỳ bất thường và khó chịu. Vốn là một võ sĩ dày dạn kinh nghiệm, Hùng đã quen thuộc với mọi đường đi nước bước của các kiếm khách thông thường. Theo lẽ thường, đa số người dùng kiếm đều thuận tay phải, đường kiếm tấn công sẽ đi từ phía bên phải của họ sang bên trái của đối thủ. Phản xạ phòng thủ của Hùng đã được trui rèn nhiều năm nay để đối phó với hướng tấn công đó.
Nhưng kẻ này lại khác. Hắn cầm đoản đao bằng tay trái.
Mọi quy tắc, mọi thói quen chiến đấu của Hùng bỗng chốc bị đảo lộn tùng phèo. Khi Hùng vung kiếm chém vào sườn trái của đối phương, nơi thường là điểm yếu của người thuận tay phải thì lại bị thanh đao bên tay trái của hắn chặn đứng một cách dễ dàng và uy lực. Ngược lại, những cú chém của hắn lại bổ xuống từ những góc độ "nghịch", những góc chết mà Hùng hiếm khi phải đề phòng.
Lưỡi dao của hắn lướt đi như con rắn độc, luồn lách qua những kẽ hở trong thế thủ của Hùng. Thay vì chém chéo từ vai trái xuống, hắn chém ngược từ hông phải lên, buộc Hùng phải vặn người đỡ đòn trong tư thế vô cùng gượng gạo.
"Keng! Keng! Keng!"
Ba chiêu liên tiếp, Hùng đều bị đẩy lùi. Cánh tay phải cầm kiếm của anh tê dại, bị thương vì phải đỡ những cú bổ cực mạnh từ tay thuận của đối thủ. Thế nhưng, trong cái ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, bản lĩnh của một viên đội trưởng dày dạn kinh nghiệm bắt đầu trỗi dậy.
Hùng nheo mắt, bình thản hít một hơi sâu, bắt đầu đọc thấu cái nhịp thở và quy luật của đối phương. Anh nhận ra rằng, dù là "nghịch" hay "thuận", mỗi kiếm khách đều có một kẽ hở không thể che giấu khi dồn toàn lực vào một đòn kết liễu.
Khi tên sát thủ vung một chiêu đoản đao cực hiểm nhắm thẳng vào màng sườn, Hùng không né theo bản năng cũ. Thay vào đó, anh chủ động nhích người vào sát kình lực đối phương, xoay cán kiếm một vòng điệu nghệ để mượn lực phản chấn.
"Xoẹt!"
Lưỡi kiếm sắc lẹm xé toạc không trung. Bằng một kỹ thuật phản công, Hùng đã bắt bài được hướng đao, chém trúng vào bắp tay trái của kẻ lạ mặt. Máu tươi bắn ra, nhuộm đỏ tay áo đen. Tên sát thủ khẽ hừ lên một tiếng đau đớn, lùi lại vài bước ôm lấy vết thương, ánh mắt lộ rõ vẻ kinh ngạc xen lẫn kiêng dè trước sự chuyển biến bất ngờ của đối thủ.
Bị thương bất ngờ cộng thêm việc không gian trong phòng quá chật hẹp làm hạn chế những chiêu thức quái dị của tả kiếm, kẻ lạ mặt bất ngờ tung một cước đá văng cánh cửa sổ, mượn đà phi thân lao vút ra ngoài sân gạch. Trần Hùng không chút chần chừ, cũng nhún mình phóng theo, tà áo bào bay phần phật trong gió đêm.
Dưới ánh trăng bàng bạc, giữa khoảng sân rộng thênh thang của huyện đường, cuộc quyết đấu càng trở nên khốc liệt. Hai bóng đen lao vào nhau như hai cơn lốc, tiếng binh khí va chạm "keng keng" chát chúa vang dội cả một vùng. Lối đánh của kẻ tay trái khi có không gian rộng rãi càng trở nên biến hóa, mỗi đường đao vung ra đều mang theo kình lực xé gió, ép Trần Hùng phải vận hết mười phần công lực để chống đỡ.
Lúc này, nghe tiếng động lớn, lính lệ cầm đuốc từ các phía rầm rập kéo đến, tiếng hô hoán "Có thích khách! Có thích khách!" vang lên náo loạn cả một vùng. Vòng vây quân lính với giáo dài và đuốc sáng rực ngày càng khép chặt.
Biết mình đã bị thương và không thể dây dưa lâu vì lính canh đang kéo tới càng lúc càng đông, kẻ lạ mặt bất ngờ rút từ trong người ra một quả cầu nhỏ, ném mạnh xuống đất.
"Bùm!"
Khói trắng bốc lên mù mịt, cay xè mắt mũi. Trần Hùng ho sặc sụa, cố gắng xua tan làn khói để truy đuổi nhưng khi tầm nhìn trở lại, bóng đen kia đã phi thân qua tường bao, biến mất vào màn sương đêm dày đặc. Từ trong bóng tối vọng lại tiếng nói lạnh lẽo, đầy vẻ đe dọa: "Các người không thể bảo vệ tên mập ấy mãi đâu!"
—
Một lát sau, khi khói đã tan và trật tự được vãn hồi, Nguyễn Duy đứng giữa căn phòng bừa bộn như bãi chiến trường. Bàn ghế gãy đổ ngổn ngang, mảnh gốm vỡ vụn vương vãi khắp sàn. Thầy lang Cuội vẫn nằm mê man ở góc phòng sau cú đánh trời giáng, còn Lê Khắc Cẩn thì ngồi co ro trên sập, mặt cắt không còn giọt máu, quần ướt sũng một mảng lớn vì sợ hãi.
Nguyễn Duy bước lại gần Cẩn, giọng nghiêm nghị nhưng không giấu được sự lo lắng: "Lê huynh, huynh bình tĩnh lại. Hắn đã đi rồi. Lúc nãy hắn có nói gì với huynh không? Tại sao hắn lại muốn giết huynh?"
Cẩn run lẩy bẩy, lắp bắp mãi mới thành tiếng: "Hắn... hắn bảo hắn đến để đòi nợ máu. Hắn nhắc đến... một vụ án oan sai cách đây hai năm. Hắn nói ta đã xử ép, hại chết cả gia đình hắn..."
"Vụ án nào? Hai năm trước huynh đi tuần thú ở đâu?" Duy gặng hỏi.
Cẩn ôm đầu, vẻ mặt đau khổ pha lẫn hoang mang: "Ta... ta làm sao mà nhớ nổi! Hai năm trước ta đi qua bao nhiêu phủ huyện, xử cả trăm vụ án. Vụ nào dân đen chẳng kêu oan? Ta cứ tưởng chúng nó kêu cho có lệ, ai ngờ... ai ngờ có kẻ lại mang thù sâu đến thế..."
Nguyễn Duy thở dài, lắc đầu ngao ngán. Với cách làm quan của Cẩn, việc gây thù chuốc oán là điều dễ hiểu, nhưng một kẻ thù nguy hiểm đến mức dám xông vào huyện đường ám sát quan triều đình thì không thể xem thường.
Chàng quay sang Trần Hùng đang băng bó vết thương trên tay, hỏi kỹ: "Trần Hùng, ngươi giao đấu với hắn, ngươi thấy võ công hắn thế nào?"
"Bẩm quan, hắn rất mạnh, không phải là trộm cướp tầm thường," Trần Hùng vừa nói vừa nhăn mặt vì đau. "Võ nghệ cao cường, thân pháp quỷ dị. Nhưng điều đáng sợ nhất là cánh tay trái của hắn. Lực chém của tay trái mạnh đến mức có thể chẻ đôi tảng đá, uy lực gấp bội tay phải. Hắn dùng tay trái điêu luyện, thuần thục. Đối đầu với hắn, thuộc hạ cảm giác mọi đường kiếm của mình đều bị hắn bắt bài và khắc chế dễ dàng."
Nguyễn Duy đứng lặng, chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong phòng. Đôi mày phượng của chàng nhíu chặt lại thành một đường thẳng, tâm trí căng ra như dây đàn để xâu chuỗi những manh mối rời rạc.
"Tay trái..." Duy lẩm bẩm, ánh mắt nhìn xa xăm vào màn đêm đen kịt ngoài cửa sổ.
"Thầy Đề," Duy quay sang người thư lại già đang đứng nép ở góc phòng, giọng trầm xuống phân tích. "Thầy hãy nhớ lại hiện trường vụ án con Thắm. Cái nút thắt thòng lọng treo cổ nạn nhân là nút thắt ngược, đặc trưng của người thuận tay trái. Đó là manh mối đầu tiên khiến chúng ta chú ý."
"Dạ bẩm, đúng ạ."
"Thế nhưng," Duy tiếp tục, giọng đanh lại. "Hung thủ vụ đó lại phải dùng đến một cái bẫy phức tạp: dùng mỡ lợn bôi trơn xà nhà để giảm ma sát, dùng dây thừng vắt qua xà làm đòn bẩy ròng rọc để kéo xác nạn nhân lên. Điều đó chứng tỏ điều gì? Chứng tỏ hung thủ là kẻ yếu sức, không đủ khả năng nhấc bổng một người chết lên cao bằng tay không, nên phải dùng mưu mẹo để hỗ trợ."
Duy chỉ tay ra cửa sổ, nơi tên sát thủ vừa tẩu thoát: "Còn kẻ sát thủ đêm nay, hắn cũng thuận tay trái. Nhưng hắn lại sở hữu sức mạnh kinh hồn, một đao có thể đẩy lùi Trần Hùng, một cước có thể phá nát cửa sổ. Một kẻ có sức vóc và võ nghệ thượng thừa như thế, nếu muốn giết một con hầu gái yếu ớt như con Thắm, hắn chỉ cần một cái búng tay là xong. Hắn việc gì phải tốn công tìm mỡ lợn, tính toán đòn bẩy, dây dợ lằng nhằng làm gì cho mất thời gian và để lại dấu vết?"
"Vô lý! Quá vô lý!" Duy thốt lên, giọng day dứt.
"Bẩm quan..." Thầy Đề rụt rè lên tiếng. "Vậy ý quan là..."
Ánh mắt Nguyễn Duy sắc sảo lóe lên trong đêm tối: "Chúng ta chưa thể khẳng định vụ ám sát này có liên quan đến cái chết của con Thắm hay không. Nhưng sự trùng hợp về tay trái thật đáng ngờ. Kẻ đêm nay là sát thủ tay trái, mang mối thù hận từ quá khứ với Lê huynh, võ nghệ cao cường. Còn kẻ giết con Thắm là hành động âm thầm, dùng mưu mẹo. Nếu chúng là hai kẻ khác nhau, thì tại sao lại cùng xuất hiện vào lúc này?"
Bức màn bí mật chưa kịp vén lên đã lại bị phủ thêm một lớp sương mù dày đặc. Những mảnh ghép cứ ngỡ đã khớp lại bỗng chốc vỡ vụn, đảo lộn.
"Trần Hùng, ngươi bị thương rồi, ở lại đây tăng cường canh gác cho Lê huynh và trông chừng gã Cuội này. Tuyệt đối không được để ai tiếp cận họ nữa, cũng không được để họ rời đi nửa bước. Thầy Đề, trời cũng đã khuya rồi, thầy hãy về phòng nghỉ ngơi đi. Trần Hùng, ngươi nhớ cắt cử người canh chừng phòng của thầy Đề cho cẩn mật. Còn ta, ta sẽ mời Phan huynh cùng bốn lính lệ tinh nhuệ đi cùng ta đến vách đá Vọng Nguyệt."