Ăn Khế Trả Vàng

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Một lần lướt tiktok, thấy một clip hài khá vui, trong vai ông quan đang tra hỏi về việc "vàng có từ chim thần". Nên mình viết bộ này, theo thể loại trinh thám (lần đầu theo thể loại này)
Các tác phẩm cũ của mình
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Mợ Cả

List chương:
Chương 1 (1)
Chương 1 (2)
Chương 2 (1)
Chương 2 (2)
Chương 3 (1)
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9 (1)
Chương 9 (2)
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13 (1)
Chương 13 (2)
Chương 14 (1)
Chương 14 (2)
Chương 15 (1)
Chương 15 (2)
Chương 16 END (1)
Chương 16 END (2)

DONE bộ này
An Khe Tra Vang-0aaa1.webp
 
Sửa lần cuối:
Càng ngày càng bánh cuốn. Ở vách đá con chim không vỗ cánh khả năng là Mộc diên của Lỗ Ban rồi. Khầy Hiếu 5 năm trên kinh thành không lo ôn thi mà đi học nghề thợ đục.
Em cũng đoán thế, con chim này là con chim dạng dù lượn thôi, không đập cánh được.
Tuy nhiên như vậy cũng chưa đủ giải thích cái uẩn khúc lông chim trong tay ông Tham, và cái túi vàng cầm ở tay.
Và nếu chỉ là con chim giả để lừa ông anh thì đâu cần phải bay lượn kiểu luyện tập ở cái vách đá nhiều như vậy? Thanh niên tay trái giỏi võ có liên quan gì đến câu chuyện không?
Bác thấy sao?
 
Em trai thì đi lên kinh không phải học văn mà học võ, tay phải cầm viết, tay trái cầm kiếm. Còn người vk câm thì mưu trí, xử bé Thắm, làm giả con chim...Còn ông quan xém bị chém chắc liên quan tới mối thù của người vk câm ah ta?
 
Em trai thì đi lên kinh không phải học văn mà học võ, tay phải cầm viết, tay trái cầm kiếm. Còn người vk câm thì mưu trí, xử bé Thắm, làm giả con chim...Còn ông quan xém bị chém chắc liên quan tới mối thù của người vk câm ah ta?
Hướng này khá hợp lý, em nghĩ ông thích khách chính là anh trai hoặc em trai của Sen, bà này bị xử oan nên gia đình ly tán cả -> việc thịt con Thắm có liên quan đến Sen như em dự đoán ban đầu, chắc do mâu thuẫn tình ái (hoặc do nó biết bí mật)
Con chim là giả do thầy Hiếu tạo ra, mấy năm thầy Hiếu đi xa có học được 1 số ngón nghề, làm giả con chim, cần 1 người võ công thâm hậu để điều khiển nó -> là tay võ sĩ kia.
Thủ phạm thịt ông Tham cũng có thể là tay võ sĩ, chỉ còn lăn tăn chỗ túi vàng ông Tham cầm, và số tiền thầy Hiếu kiếm được ở đâu
 
Mọi người có nghĩ cu Tí nói láo không?
Còn chùm lông với thỏi vàng kia, Phan Tiên Sinh đang là người “hiểu” được bí mật :3.
Tầm 4-5 chap nữa là end nhé :v
Không nhé bác, có thể nó mô tả không đúng vì đêm trông gà hoá cuốc, chứ nó không nói láo đâu.
Em vẫn tin vụ này có đồng phạm, nghi can là sen, thầy hiếu và tên sát thủ kia :v
Cố đều tay nhé bác, anh em nóng ruột lắm rồi
 

Chương 9 (1)​


Đêm đã về khuya, vầng trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên đỉnh trời, tỏa xuống vách đá Vọng Nguyệt một thứ ánh vàng nhưng lạnh lẽo như sương khói. Gió biển đêm nay thổi mạnh một cách bất thường, rít qua những khe đá tai mèo sắc nhọn tạo thành những âm thanh u u, nỉ non. Sóng biển đen ngòm bên dưới vực sâu cuộn lên, đập ầm ầm vào chân núi, tung bọt trắng xóa như những móng vuốt.

Đoàn người của quan huyện Nguyễn Duy lầm lũi tiến bước trên con đường đất dẫn ra phía mỏm núi. Đoạn đường này vẫn còn khá bằng phẳng, một bên là cánh rừng phi lao rì rào trong đêm, một bên là biển cả mênh mông đen thẫm. Tuy nhiên, càng tiến gần về phía chân vách đá Vọng Nguyệt, cây cối càng thưa thớt dần, nhường chỗ cho những tảng đá lô nhô, và gió biển cũng bắt đầu thổi mạnh hơn, giật từng cơn phần phật vào tà áo. Ánh đuốc trên tay đám lính lệ chao đảo liên hồi, chực chờ tắt ngấm trước sức gió ngày một cuồng nộ.

Khác với vẻ hào hứng bệnh hoạn thường ngày khi nhìn thấy xác chết, Phan Tiên Sinh hôm nay im lặng một cách đáng sợ. Y lầm lũi bước đi ngay sau lưng Nguyễn Duy như một bóng ma vật vờ trôi giữa đêm tối. Hai tay y ôm khư khư chiếc hòm gỗ mun đựng đồ nghề trước ngực. Đôi mắt y mở to, không chớp, nhìn trân trân vào khoảng không vô định phía trước, hơi thở khò khè phát ra từ lồng ngực gầy guộc nghe rợn người trong tiếng gió.

Đám lính lệ đi bên cạnh thi thoảng lại lén liếc nhìn Phan Tiên Sinh rồi rùng mình, nổi da gà. Với họ, cái dáng vẻ "người chết biết đi", lạnh lẽo và vô hồn của vị ngỗ tác này còn đáng sợ hơn cả cái lạnh buốt giá của gió biển hay độ cao chóng mặt của vách đá.

Có tên lính không nén nổi tò mò lẫn sợ hãi, đánh bạo tiến lên sát Nguyễn Duy, lí nhí hỏi thầm: "Bẩm quan... đêm hôm đi tìm hiểu chỗ vách đá, sao ngài lại mời cả Phan Tiên Sinh đi cùng ạ? Nhìn ngài ấy... con thấy rợn người quá."

Nguyễn Duy nghe vậy cũng chỉ im lặng không đáp, chàng đi đầu, nhưng chốc chốc lại phải quay đầu kiểm tra, chỉ sợ cơn gió mạnh bất ngờ thốc tới sẽ thổi bay người bạn gầy gò của mình.

Đang đi, một tên lính trẻ bỗng khựng lại, chân như đeo đá không dám bước tiếp. Mặt hắn tái mét dưới ánh đuốc chập chờn, tay run rẩy kéo nhẹ vạt áo người đồng đội đi bên cạnh, thì thào: "Tao... tao sợ quá... Chỗ này... nghe đâu có ma..."

Tiếng thì thầm lọt vào tai Nguyễn Duy. Chàng quay phắt lại, ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng vào tên lính, giọng nghiêm nghị át cả tiếng gió: "Ma quỷ gì? Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng thế này mà ngươi dám tung tin nhảm sao? Tin đồn ra sao? Nói ngay!"

Tên lính trẻ giật bắn mình, vội vàng quỳ sụp xuống, giọng run rẩy bẩm báo: "Dạ... dạ bẩm quan lớn tha tội! Con không dám bịa đặt. Chẳng là... tầm nửa tháng trước, một dân chài đi đánh cá đêm kể lại rằng, lúc ông ta nhìn vào vách đá Vọng Nguyệt này, họ thấy có một đốm lửa lập lòe cháy sáng giữa hư không, treo lơ lửng trên vách đá dựng đứng."

Hắn nuốt nước bọt, mắt láo liên nhìn ra bóng tối xung quanh như sợ có ai nghe thấy: "Nhưng kỳ lạ lắm quan ạ. Đốm lửa ấy chỉ sáng lên một lúc, rực rỡ như đèn lồng, rồi đột nhiên vụt tắt ngấm, đen kịt, không để lại chút dấu vết khói lửa nào. Dân làng bảo đó là 'ma trơi' dẫn lối cho những oan hồn chết đuối tìm đường về nhập xác, hoặc là oan hồn của những kẻ tự tử trên vách đá này hiện về đòi mạng. Nên từ đó, không ai dám bén mảng tới gần khu vực này nữa ạ."

Nguyễn Duy nghe xong, đôi mày phượng khẽ nhíu lại. Chàng không mắng tên lính nữa mà đứng lặng yên suy nghĩ.

"Đốm lửa lập lòe? Vụt tắt ngấm?"

Trong đầu vị quan trẻ, những suy luận lý tính bắt đầu xuất hiện. Ma trơi thường là những đốm lửa xanh lét, lạnh lẽo trôi nổi nơi bãi tha ma, không thể nào "rực rỡ" như đuốc lớn rồi tắt ngấm đột ngột như thế được. Hay là gã dân chài đó đêm hôm say rượu quá chén, mắt mũi kèm nhèm nhìn gà hóa cuốc rồi về đồn bậy chăng?

Đoàn người tiếp tục leo lên. Khi vừa đặt chân lên đến đỉnh vách đá bằng phẳng, một luồng gió thốc mạnh tưởng chừng như muốn hất tung tất cả xuống biển.

Lúc này, Phan Tiên Sinh bỗng dừng lại. Y buông thõng hai tay, chiếc hòm gỗ mun đập nhẹ vào chân. Đôi mắt lờ đờ, vô hồn của y bỗng nhiên sáng rực lên một vẻ thích thú bệnh hoạn đến kỳ lạ.

Thấy Phan có vẻ thích thú, Duy quay sang nói, giọng nửa đùa nửa thật để xua tan cái không khí âm u: "Biết Phan huynh thích ngắm trăng, nên ta mới mời huynh đi chung, để cùng 'Vọng nguyệt'. Đúng thật vậy, từ vách đá này, ngắm trăng rất đẹp."

Duy nói vậy, nhưng trong đầu chàng lại nghĩ khác. Một ngỗ tác lừng danh kinh thành, đi chung chuyến này biết đâu huynh ấy sẽ có phát hiện gì chăng? Dù tính tình dị thường, nhưng kiến thức huynh ấy rất giỏi, nhất là con mắt nhìn ra những thứ người thường không thấy.

Y bước ra sát mép vực, không hề sợ hãi, hít một hơi thật sâu căng lồng ngực, như đang thưởng thức hương thơm của một loài hoa quý hiếm chứ không phải là gió biển mặn chát và mùi rêu mốc.

"Chà..." Phan Tiên Sinh cất tiếng, giọng khàn đặc nhưng đầy hưng phấn. "Chỗ này... h-hiểm trở thật... Gió độc... đá nhọn như chông... T-Tử khí vượng quá... Một nơi lý tưởng để... c-chết."

Y quay sang nhìn Nguyễn Duy, nụ cười méo mó hiện lên trên khuôn mặt trắng bệch:

"Duy à... với cái địa thế này... chắc chắn phải có... x-xác chết ở đây... Ta ngửi thấy mùi của chúng rồi..."



Đứng trên đỉnh vách đá Vọng Nguyệt, gió thốc vào mặt rát buốt. Nguyễn Duy không dừng lại ở khoảng đất bằng phẳng an toàn ấy. Chàng bước ra sát mép vực, nheo mắt nhìn xuống màn đêm đen ngòm thăm thẳm bên dưới, nơi tiếng sóng biển đang gầm gào đập vào chân núi đá dựng đứng.

Trong đầu chàng văng vẳng lời kể ngây ngô của thằng bé Tí: "Con chim ấy to lắm... nó bay vút lên từ dưới vực..."

Nguyễn Duy quay lại, chỉ tay thẳng xuống vực sâu hun hút, giọng nói quả quyết át cả tiếng gió rít: "Chúng ta không thể chỉ tìm ở trên này. Từ phía bên kia vách đá, chính là nơi mà thằng nhóc Tí đã nhìn thấy con chim bay lên. Biết đâu, cái tổ của nó... đang nằm ở dưới kia?"

Đám lính lệ nghe quan lớn nói vậy thì mặt cắt không còn giọt máu. Họ nhìn xuống vách đá trơn trượt dựng đứng, lại nhìn những con sóng bạc đầu đang chồm lên như muốn nuốt chửng mọi thứ, ai nấy đều run rẩy can ngăn: "Bẩm quan! Xin người suy xét lại! Vách đá này trơn như bôi mỡ, gió lại to thế này, sẩy chân một cái là tan xương nát thịt, làm mồi cho hà bá ngay ạ!"

Ngay cả Phan Tiên Sinh, người vốn chẳng biết sợ xác chết là gì, lúc này cũng phải nhíu mày ái ngại. Y ôm chặt cái hòm gỗ, lùi lại một bước: "Duy... mạng người... c-chỉ có một thôi đấy..."

Nhưng Nguyễn Duy không bỏ cuộc. Trực giác của một người phá án mách bảo chàng rằng bí mật không bao giờ nằm ở nơi dễ thấy. Chàng quay lại, nghiêm giọng ra lệnh cho đám lính lệ: "Các ngươi tản ra tìm kiếm xung quanh ngay! Vạch từng bụi cây, soi từng kẽ đá cho ta. Tuyệt đối không được bỏ sót bất cứ dấu hiệu nào!"

Đám lính dù sợ hãi nhưng không dám trái lệnh, đành run rẩy chia nhau ra dò dẫm. Bản thân Duy cũng không đứng nhìn, chàng tự mình lần mò dọc theo mép vực, dùng mũi kiếm vạch từng bụi cây dại gai góc để tìm kiếm dấu vết.

Và rồi, sự kiên trì của chàng đã được đền đáp.

"Ở đây!" Duy reo lên.

Sau một tảng đá lớn bị rêu phong phủ kín, chàng phát hiện ra một lối mòn nhỏ xíu, hẹp chỉ vừa đủ một người lách qua, chạy ngoằn ngoèo men theo sườn núi dẫn xuống phía dưới. Lối đi này được ngụy trang cực kỳ khéo léo, nếu không quan sát kỹ sẽ tưởng chỉ là vệt nứt của đá núi.

"Các ngươi theo ta!"

Nguyễn Duy dứt khoát bước xuống trước. Đám lính lệ nhìn nhau, nuốt nước bọt ừng ực rồi đành cắn răng bám theo sau, tay chân run lẩy bẩy bám chặt vào vách đá.

Kỳ lạ thay, con đường mòn nhìn từ trên cao tưởng chừng như treo leo hiểm trở, là cửa tử, nhưng khi đặt chân xuống mới thấy nó dễ đi hơn mọi người tưởng rất nhiều. Những tảng đá nhô ra được sắp xếp một cách khéo léo, tạo thành những bậc thang tự nhiên khá vững chãi và vừa vặn sải chân. Hơn nữa, vách núi lồi ra lõm vào vô tình tạo thành một bức tường chắn gió, khiến cho đoạn đường này không bị gió biển quật thẳng vào người như trên đỉnh. Dù vẫn phải dò dẫm trong đêm tối, nhưng rõ ràng đây là một lối đi đã được ai đó thường xuyên sử dụng.

Đoàn người dò dẫm từng bước một, men theo con đường xuống chừng mươi trượng. Bất chợt, tầm nhìn mở ra một khoảng đất rộng rãi kỳ lạ nằm lọt thỏm giữa vách núi.

Hiện ra trước mắt họ là một ngôi nhà gỗ nhỏ, lụp xụp, nằm nép mình vào hốc đá ở vị trí cực kỳ khuất tầm nhìn. Căn nhà được dựng bằng gỗ mun đen trũi, mái lợp bằng tranh đã xám màu, tiệp hẳn với màu đá núi xung quanh khiến từ xa rất khó phát hiện.

Nhưng điều khiến Nguyễn Duy chú ý ngay lập tức là hiện trạng kỳ dị của ngôi nhà. Phía mặt tường gỗ hướng ra biển bị cháy xém nham nhở, nhiều chỗ than hóa đen sì, trơ trọi như vừa trải qua một trận hỏa hoạn dữ dội. Trong khi đó, sóng biển ở độ cao này vẫn đánh lên rất mạnh, những cột nước bạc đầu thi thoảng bắn tung tóe lên bờ, làm ướt sũng cả một góc nhà cháy đen.

Nguyễn Duy nhìn xuống phía dưới chân bãi đất. Khu vực biển bên dưới lởm chởm những tảng đá ngầm sắc nhọn như chông, sóng cuộn xoáy dữ dội.

"Một vùng chết..." Nguyễn Duy lẩm bẩm. "Tàu bè không thể cập bến, đường bộ thì khó tìm ra. Kẻ nào lại chọn cái chốn 'tuyệt địa' này để dựng nhà? Và tại sao nó lại bị cháy một nửa thế kia?"

Cánh cửa ngôi nhà mở toang, bản lề rỉ sét kêu kẽo kẹt trong gió như tiếng mời gọi của tử thần. Ngay khi đoàn người bước tới gần, một mùi hôi thối nồng nặc, đặc trưng của thịt rữa lâu ngày xộc thẳng ra ngoài, khiến đám lính lệ không kịp phòng bị phải bịt mũi nôn ọe thốc tháo, không dám bước tiếp.

Nguyễn Duy nhăn mặt, rút khăn tay che mũi, ra hiệu cho Phan Tiên Sinh cùng tiến vào.

Bên trong căn nhà phủ một lớp bụi mỏng, mạng nhện giăng đầy các góc tối tăm. Khung cảnh hiện ra bừa bộn như một bãi chiến trường: bàn ghế gãy đổ ngổn ngang, mảnh bát đĩa vỡ vụn vương vãi khắp nơi.

Trên chiếc bàn gỗ mục nát giữa nhà, một mâm cỗ vẫn còn bày biện dở dang. Đĩa gà luộc nguyên con giờ chỉ còn là bộ xương khô khốc mốc xanh mốc đỏ, đĩa xôi gấc đã cứng như đá và bị chuột bọ gặm nham nhở.

Nhưng kinh khủng hơn cả là hai cái xác to lớn nằm gục giữa đống hỗn độn ấy.

Hai thi thể nam giới mặc đồ vải thô nằm sóng soài trên sàn nhà ướt át, đã trương phình và bắt đầu phân hủy mạnh, da thịt chuyển sang màu xanh đen lốm đốm, giòi bọ lúc nhúc trong các hốc mắt, tai và miệng. Một kẻ nằm sấp, một kẻ nằm ngửa, nhưng cả hai đều trong tư thế co quắp, tay vẫn còn nắm chặt hung khí. Kẻ nằm sấp tay lăm lăm một con dao phay rỉ sét, kẻ nằm ngửa tay nắm chặt cán một con dao găm. Quần áo của chúng rách bươm, lộ ra những vết thương sâu hoắm, thịt da bầy nhầy.

Xung quanh hai cái xác, trên vách tường gỗ, trên mặt bàn, và cả trên những chiếc cột nhà cháy dở, đâu đâu cũng in hằn những vết chém, vết đâm ngang dọc, sâu hoắm vào thớ gỗ. Máu đã khô két lại thành những mảng đen kịt, bắn tung tóe lên tường, lên trần nhà, tạo nên một bức tranh kinh hoàng về một cuộc tàn sát đẫm máu.

Đám lính lệ đứng ngoài cửa ghé mắt nhìn vào, thấy cảnh tượng ấy liền tái mặt, run rẩy thì thầm: "Khiếp quá! Nhìn cảnh này thì chắc chắn hai gã này ăn uống no say, rượu vào lời ra rồi lao vào chém giết nhau một trận kinh hoàng đến chết đây mà. Vết chém nát cả nhà cửa thế kia cơ mà!"

Nguyễn Duy không vội kết luận. Chàng cầm ngọn đuốc, bước qua những vũng dịch lỏng đen ngòm dưới sàn, tiến lại gần quan sát kỹ hơn. Trong ánh lửa chập chờn, đôi mắt chàng ánh lên vẻ nghi hoặc khi nhìn vào cả ngôi nhà đang tang hoang.
 
Chương 9 (2)

Nghe đám lính xì xào bàn tán về việc say rượu chém giết, Nguyễn Duy không vội kết luận. Chàng không bị cuốn vào sự kinh dị của những vết thương hở miệng hay cái mùi tử khí nồng nặc, mà điềm tĩnh cầm ngọn đèn dầu, bước thật chậm vào giữa đống hỗn độn, nơi bát đĩa và thức ăn bị hất tung tóe khắp sàn nhà.

Ánh mắt sắc sảo của chàng như một chiếc lưới lọc, quét qua từng mảnh sành vỡ, từng vũng thức ăn khô két, cố gắng tìm ra trật tự trong sự hỗn loạn ấy. Chàng cúi xuống, dùng mũi giày gạt nhẹ một mảnh bát vỡ dưới chân một tử thi, rồi lại bước sang góc tường nhặt lên một mảnh chén sứt ném chỏng chơ.

"Khoan đã," Duy lên tiếng, giọng trầm nhưng đủ để dập tắt mọi lời bàn tán xôn xao. "Các ngươi bảo là hai gã này say rượu rồi chém nhau? Vậy hãy nhìn kỹ vào đống đổ nát này mà xem."

Đám lính ngơ ngác nhìn nhau. Một tên lính bạo gan đáp: "Bẩm quan, thì bát đĩa vỡ tan tành thế kia, chắc là do xô xát dữ dội ạ."

"Đúng là có vẻ như đã xô xát. Nhưng các ngươi hãy nhìn kỹ số lượng mảnh vỡ." Duy cầm ngọn đèn soi rọi từng khu vực. "Ta đã quan sát kỹ phần trôn bát và chân chén vương vãi khắp nơi. Tại chỗ ngồi của hai cái xác này, có mảnh vỡ tập trung của hai bộ bát đĩa. Nhưng hãy nhìn về phía đối diện kia."

Duy bước tới, chỉ vào một góc khuất gần chân tường: "Ở đó có mảnh vỡ của chiếc bát thứ ba bị hất tung, và đặc biệt là một chiếc chén bị ném mạnh vỡ vụn dính chặt vào kẽ vách. Cộng với số đũa vương vãi trên sàn, ta đếm được chính xác có ba đôi."

Vừa nói, Nguyễn Duy vừa ngồi xuống, tay nhặt những thanh gỗ gãy nát vương vãi dưới sàn lên. Chàng tỉ mỉ sắp xếp, ghép nối lại từng mảnh gỗ gãy vụn. Chỉ một thoáng sau, từ đống gỗ vụn tưởng chừng vô nghĩa ấy, hình hài của chiếc ghế thứ ba dần hiện ra rõ rệt, nằm chỏng chơ bên cạnh hai chiếc ghế còn lại. "Và nhìn xem, quanh bàn này thực chất có đúng ba chiếc ghế."

Chàng đứng thẳng dậy, chắp tay sau lưng, ánh mắt kiên định xâu chuỗi lại toàn bộ khung cảnh: "Bữa tiệc này gồm ba người. Kẻ thứ ba là người quen, thậm chí là người rất thân cận, đã ngồi ăn uống vui vẻ, cụng ly với hai nạn nhân trước khi thảm kịch xảy ra. Nhưng giờ đây chỉ có hai cái xác xô xát nhau mà chết, vậy kẻ còn lại đâu?"

Trong khi Duy đang dựng lại hiện trường, thì Phan Tiên Sinh bắt đầu lại gần hơn với những xác chết. Y phớt lờ hoàn toàn những lời bàn tán xung quanh, bước qua vũng dịch lỏng đen ngòm, tiến đến bên cái xác trương phình.

Gương mặt y lạnh tanh, không chút cảm xúc. Y ngồi xổm xuống, đeo găng tay lụa, dùng kẹp bạc gắp một con giòi béo múp từ vết thương trên cổ nạn nhân đưa lên trước mặt Nguyễn Duy.

"H-Hai... t-tuần." Phan buông một câu cộc lốc, giọng khàn đặc.

Đám lính ngơ ngác nhìn nhau không hiểu. Phan Tiên Sinh vẫn cắm cúi nhìn con giòi, chậm rãi giải thích từng tiếng một: "N-Nhìn... v-vòng đời... ấu trùng... k-kén đã... h-hóa nhộng... cộng với... mức độ... r-rữa nát... của t-tạng phủ... h-hai kẻ này... đ-đã chết... ít nhất là... n-nửa tháng rồi."


Phan Tiên Sinh thả con giòi xuống, dùng ngón tay ấn mạnh vào mép vết thương toác hoác trên vai cái xác, rồi nhìn chằm chằm vào phần xương trắng hếu bên dưới. Phan lẳng lặng rút con dao mổ sắc lẹm từ trong hòm ra. Y rạch một đường dứt khoát ngay tại mép vết chém sâu hoắm, lật lớp thịt bên trong ra cho mọi người thấy.

"N-Nhìn này..." Phan chỉ mũi dao vào thớ thịt trắng bệch, nhợt nhạt bên trong vết rạch. "Người sống... tim đập... máu chảy... Chém vào... máu sẽ t-thấm đỏ lòm vào thịt... sưng tấy lên."

Y gõ nhẹ sống dao vào vết xương gãy khô khốc: "Kẻ này... tim đã ngừng... máu đã đông... nên khi bị chém... thịt bên trong c-chỉ có màu trắng... khô queo... k-không có máu tụ."

Đám lính vẫn ngơ ngác, Duy bèn bước tới giải thích thêm cho dễ hiểu: "Các ngươi cứ tưởng tượng như khi cắt tiết gà vậy. Con gà còn sống, cắt tiết máu mới phun ra, thịt chỗ đó mới đỏ bầm. Còn con gà đã chết cứng rồi, các ngươi có chém ngàn nhát thì thịt bên trong vẫn trắng bệch, không có máu chảy ra thấm vào thớ thịt được. Cái xác này cũng vậy."

"Nghĩa là... chúng đã chết rồi mới bị người ta chém?" Một tên lính run rẩy hỏi, mặt cắt không còn giọt máu khi hiểu ra sự tàn độc của hung thủ.

"Phải," Nguyễn Duy gật đầu, ánh mắt đanh lại. "Kẻ thủ ác đã chém nát cái xác vô tri cũng như vật dụng trong nhà, để dựng lên màn kịch huynh đệ tương tàn này, hòng qua mắt chúng ta."

Phan Tiên Sinh không để tâm đến cuộc đối thoại, y tiếp tục công việc. Y cạy hàm răng cứng đờ của tử thi, mũi khịt khịt hít ngửi. Sau đó, y rút cây kim châm cứu bằng bạc, châm sâu vào vòm họng tử thi rồi rút ra.

Mũi kim bạc đen kịt. Phan giơ cây kim lên, ánh mắt lờ đờ nhìn Duy, môi mấp máy khó khăn: "Đ-Độc... Hình như là Đ-Đoạn Trường... Thảo."

"Đoạn Trường Thảo sao?" Nguyễn Duy rùng mình. "Ý Phan huynh, là Đoạn Trường Thảo, một loại kịch độc của vùng rừng núi?"

Một tên lính trẻ đứng gần đó, mắt trân trân nhìn cây kim đen sì trên tay Phan Tiên Sinh, run rẩy hỏi: "Dạ... bẩm quan... cây kim đó... sao tự dưng lại đen thui lui như vậy ạ?"

Duy cầm lấy cây kim từ tay Phan, giơ lên cao cho mọi người thấy rõ: "Đây là kim bằng bạc ròng. Bạc vốn có tính kỵ độc rất mạnh. Khi tiếp xúc với các loại độc tố như thạch tín hay nước lá ngón, bạc sẽ lập tức phản ứng và biến thành màu đen. Màu đen càng đậm chứng tỏ độc tính càng mạnh."

Giải thích xong, Duy cẩn trọng đưa trả cây kim lại cho Phan Tiên Sinh. Phan đón lấy, không bỏ chung vào bao kim cũ mà cất riêng nó vào một hộp gỗ nhỏ trong hòm đồ nghề để tránh lẫn lộn. Sau đó, y rút ra một cây kim bạc khác, sáng loáng.

Phan lẳng lặng tiến lại bàn ăn, lần lượt châm kim vào từng món: đĩa gà, đĩa xôi... nhưng cây kim bạc vẫn không thay đổi. Cuối cùng, y bước đến chỗ vò rượu bị vỡ, mảnh sành vương vãi, chỉ còn sót lại một chút rượu đọng dưới đáy. Y nhúng mũi kim vào đó.

Ngay lập tức, màu đen kịt lan nhanh trên mũi kim.

"R-Rượu..." Phan ngước lên nhìn Duy. "C-Có độc."

Duy gật đầu, chỉ tay vào vò rượu vỡ, giọng đanh thép kết luận: "Kẻ thứ ba... hắn đã mời rượu. Rượu độc uống vào khiến hai tên này chết ngay tại chỗ, không kịp giãy giụa. Sau đó hắn mới dùng dao chém nát xác họ."

Không khí trong căn nhà gỗ càng trở nên nặng nề sau kết luận về chất độc của Phan Tiên Sinh. Đúng lúc đó, một người lính già trong đoàn của Trần Hùng, tên là Hợi, rụt rè cầm cây đuốc tiến lại gần hai cái xác đang trương phình. Lão nheo đôi mắt kèm nhèm vì khói, soi kỹ vào khuôn mặt biến dạng của tử thi nằm ngửa.

Bất chợt, lão giật mình thảng thốt, lùi lại mấy bước suýt nữa thì đánh rơi cả cây đuốc trên tay, miệng lắp bắp kinh hoàng:

"Trời đất ơi! Đây là... đây là thằng Hổ và thằng Báo! Hai đứa bạn nhậu của con mà!"

Nguyễn Duy quay phắt lại, ánh mắt sắc sảo nhìn lão lính già: "Lão nhận ra chúng sao? Chúng là người phương nào?"

Lão Hợi run rẩy chắp tay bẩm báo: "Dạ bẩm quan... Hai gã này không phải người làng ta. Chúng tuy sống biệt lập trên núi nhưng thỉnh thoảng vẫn xuống chân núi, ghé vào quán đầu làng mua rượu thịt. Con vài lần đi tuần gặp gỡ, thấy chúng cũng hào sảng, hợp tính nên đã cùng ngồi nhậu vài chén rượu."

Lão nuốt nước bọt, cố nhớ lại: "Họ rất kín tiếng về công việc, hỏi gì cũng chỉ cười trừ hoặc nói qua loa là làm nghề mộc, xây nhà, sống tạm ở trong rừng để tìm gỗ quý cho chủ. Con cứ ngỡ họ là dân ngụ cư hiền lành, tính tình hơi dị biệt thôi, ai ngờ lại trốn chui trốn lủi trên vách đá hiểm trở này."

"Chúng đến đây bao lâu rồi?" Nguyễn Duy gặng hỏi.

"Dạ... hai gã này xuất hiện tại làng ta tầm… tầm khoảng hai năm trước ạ." Lão Hợi khẳng định chắc nịch.

"Hai năm..." Nguyễn Duy lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên.

Để kiểm chứng lời lão Hợi, Nguyễn Duy ra hiệu cho lính lệ lục soát kỹ lại căn phòng hỗn loạn một lần nữa. Trong góc tối bị ám khói trên cao, họ phát hiện một bàn thờ nhỏ làm bằng gỗ mộc, đơn sơ nhưng được chạm khắc rất khéo léo, treo trên vách. Bên trên có bài vị ghi danh hiệu "Lỗ Ban Tiên Sư", ông tổ của nghề mộc và xây dựng.

Dưới sàn nhà, lẫn trong đống bát đĩa vỡ nát và những vũng rượu đã khô két, mũi giày của Duy chợt đá phải một vật cứng phát ra tiếng kêu cộp khác lạ. Chàng cúi xuống, dùng tay gạt đi lớp bụi bẩn và mảnh sành, nhặt lên một vật dài hình chữ nhật. Đó là một cây thước làm bằng gỗ mun đen bóng, loại thước cổ chuyên dùng trong phong thủy xây dựng. Trên mặt thước mòn vẹt vì thời gian, vẫn còn nhìn rõ những vạch khắc chi chít phân định các cung đỏ đen, đo lường cát hung, họa phúc, đó vật bất ly thân của những người thợ cả lành nghề.

Nguyễn Duy gật đầu, quay sang lão Hợi: "Lão nói không sai. Việc thờ cúng tổ nghề Lỗ Ban và có cây thước Lỗ Ban tại nơi ở chứng tỏ hai kẻ này là thợ mộc, thợ xây dựng rất lành nghề và sùng tín. Nhưng lại xuất hiện một câu hỏi lớn hơn, hai tên thợ mộc giỏi sống ở đây 2 năm, vậy công trình của chúng đâu? Và tại sao trong nhà lại không có lấy một cái bào, cái đục hay phôi gỗ nào?

Nguyễn Duy bước về phía cuối căn nhà, nơi bức tường gỗ hướng ra biển đã bị ngọn lửa thiêu rụi gần hết, để lộ ra khoảng không đen ngòm nhìn thẳng xuống vực sâu thăm thẳm. Chàng đứng lặng người bên mép sàn gỗ cháy xém, quan sát tàn tích còn sót lại. Bức tường này bị cháy xém nham nhở, than đen phủ kín một mảng lớn, đối lập hoàn toàn với phần còn lại của ngôi nhà.

Bất ngờ, một con sóng lớn từ dưới vực chồm lên, đập mạnh vào vách đá, tung bọt trắng xóa phủ trùm lên cả mép ngôi nhà. Nước biển lạnh buốt tạt ướt đẫm nửa thân dưới của Nguyễn Duy, khiến chàng rùng mình lùi lại.

Phan Tiên Sinh, nãy giờ vẫn đứng im lìm quan sát, bỗng lặng lẽ bước tới gần khiến Nguyễn Duy giật mình. Y ghé cái mũi thính nhạy của mình sát vào lớp than đen ướt nhẹp, hít hít vài cái rồi nhăn mặt: "Có mùi... d-dầu hỏa.."

Nguyễn Duy vắt vạt áo ướt sũng, nhìn xuống vực biển đang gầm gào, ánh mắt sáng lên như vừa tìm ra lời giải: "Sóng biển đánh lên lớn thế này, hèn chi có thể dập tắt được cả đám cháy lớn. Hắn muốn biến nơi này thành một vụ hỏa hoạn. Nhưng hắn không tính được rằng đêm đó có cơn giông bất chợt. Những con sóng lớn đã đánh trùm lên, dập tắt ngọn lửa khi nó mới chỉ kịp thiêu rụi một nửa."

Một tia sáng lóe lên trong đầu Duy khi chàng nhớ lại lời kể của tên lính trẻ lúc đi đường.

"Vậy đốm lửa mà người dân thấy cách đây nửa tháng, rồi vụt tắt ngấm... không phải là ma trơi." Duy nói lớn, giọng đầy phấn khích. "Đó chính là ánh lửa của vụ phóng hỏa này! Nó bùng lên dữ dội trong đêm tối rồi bị sóng biển dập tắt đột ngột, khiến người nhìn từ xa ngỡ là hiện tượng siêu nhiên."

Nhưng ngay lập tức, vẻ mặt Duy chùng xuống, trở nên nghiêm trọng hơn. Chàng quay lại nhìn vào bên trong căn nhà, nơi hai cái xác đang nằm với con dao trên tay.

"Khoan đã..." Nguyễn Duy tự vấn. "Có mâu thuẫn ở đây. Nếu hắn đã tốn công sắp đặt hiện trường giả là hai huynh đệ tương tàn bằng cách nhét dao vào tay, tạo vết chém, thì tại sao cuối cùng lại phải đốt nhà?"

Chàng đi lại vài bước, phân tích: "Nếu nhà cháy rụi, thì ai còn thấy cái cảnh tượng dao găm, dao phay trên tay tử thi nữa? Công sức dàn dựng hiện trường giả coi như bỏ bể."

Nguyễn Duy dừng lại, ánh mắt sắc như dao nhìn chằm chằm vào vách tường cháy dở.

"Không lẽ… hắn đốt nhà không phải để phi tang xác chết, mà là để phi tang chính ngôi nhà này! Có cái gì đó nằm trong của ngôi nhà mà hắn bắt buộc phải hủy đi, không được để ai nhìn thấy, kể cả khi hai gã kia đã chết."

Nguyễn Duy quay lại quát lớn đám lính đang đứng ngây ra đó: "Còn đứng đó làm gì? Tiếp tục tìm kiếm cho ta! Soi kỹ vào các bờ tường gỗ, lật từng tấm sàn gỗ lên! Kẻ đốt nhà chắc chắn muốn che giấu thứ gì đó nằm trong căn nhà này! Nhanh tay lên!"



"Rắc... Rắc..."

Tiếng gỗ mục gãy vụn vang lên liên hồi. Khi một tấm ván sàn gỗ lim dày bị cháy dở được nạy tung lên, một hốc tối hình chữ nhật lộ ra, được đào sâu xuống lòng đất dưới nền nhà. Nằm lọt thỏm bên trong hốc đất tối tăm đó là một chiếc rương gỗ nhỏ làm bằng gỗ sưa đỏ, các góc được bịt đồng chắc chắn.

Nguyễn Duy cẩn trọng nhấc chiếc rương ra, đặt lên chiếc bàn gỗ mục nát giữa nhà. Chiếc rương không khóa, nhưng nắp rương đóng chặt.

"Không biết trong này chứa cái gì mà phải chôn giấu kỹ thế? Chắc là bí kíp gia truyền hay đồ nghề quý hiếm của hai gã thợ mộc này chăng?" Một tên lính trẻ thì thào, mắt không rời khỏi chiếc rương, nuốt nước bọt ừng ực vì tò mò.

Nguyễn Duy hít một hơi sâu, rồi dứt khoát bật nắp rương lên.

"Ơ..."

Ánh mắt của đám lính lệ đang sáng rực bỗng vụt tắt. Những tiếng thở dài thườn thượt vang lên đầy thất vọng. Bên trong rương trống huơ trống hoác.

"Trống rỗng ư?" Lão Hợi thốt lên, giọng tiu nghỉu.

Chỉ có vài quyển sổ bìa da cũ nát nằm chỏng chơ dưới đáy rương.

Tuy nhiên, đôi mắt sắc sảo của Nguyễn Duy lại dừng lại ở một chi tiết nhỏ nằm ngay sát mép nắp rương. Tại một khe nứt nhỏ của thớ gỗ phía trên cao, gần nắp đậy, qua ánh lửa, lấp lánh trong khe hở là hai vật thể kim loại đang bị kẹt chặt vào đó.

Duy dùng móng tay cạy mạnh. "Keng! Keng!" Hai vật thể rơi xuống mặt bàn, lăn lóc vài vòng rồi nằm im lìm, phát ra ánh kim loại mê hoặc dưới ánh đèn dầu.

"Vàng! Là vàng thật kìa!"

Đám lính lệ ồ lên kinh ngạc, những đôi mắt vừa nãy còn thất vọng giờ lại sáng rực lên vì lòng tham. Họ chen lấn nhau nhướn cổ nhìn cho rõ.

"Trời ơi, nhìn cái màu vàng chóe kia kìa! Chắc chắn là vàng!" Một tên lính nuốt nước bọt đánh ực một cái.

"Hai cái nhẫn to thế kia, bán đi cũng đủ ăn cả đời!" Tên khác thì thầm đầy thèm thuồng.

Đó là hai chiếc nhẫn bằng vàng ròng, loại nhẫn trơn to bản thường được giới buôn bán dùng để tích trữ của cải.

"Rương rỗng, nhưng lại có nhẫn vàng kẹt ở khe gỗ?" Một tên lính gãi đầu thắc mắc.

Nguyễn Duy cầm chiếc nhẫn lên, ánh mắt đanh lại: "Không đâu. Chiếc rương này không hề rỗng. Ta nghĩ trước đây, nó đã từng được lấp đầy... đầy đến tận nắp!"

Chàng chỉ tay vào khe nứt trên thành rương: "Vàng bạc, châu báu trong này đã từng được chất cao gần đầy, chèn ép lẫn nhau. Hai chiếc nhẫn này bị sức ép của cả đống vàng bên dưới đẩy lên, kẹt cứng vào khe gỗ gần nắp rương nên mới còn sót lại. Kẻ lấy vàng đã vơ vét quá vội vàng, hoặc trong bóng tối hắn không nhìn thấy hai chiếc nhẫn nhỏ bé này."

Nguyễn Duy quay sang nhìn hai cái xác đang phân hủy, trăn trở: "Tại sao dưới căn nhà tồi tàn của hai gã thợ mộc này lại chôn giấu một rương vàng lớn đến thế? Và số vàng khổng lồ đó giờ ở đâu? Chẳng lẽ kẻ thứ ba đã lấy đi hết sao?"

Duy cầm lấy mấy cuốn sổ lên xem. Đó là những cuốn nhật ký kỹ thuật, nhưng tiếc thay, phần lớn các trang giấy đã bị xé rách nham nhở hoặc bị mối mọt ăn mất những đoạn quan trọng. Những trang còn sót lại chi chít những hình vẽ kỹ thuật khó hiểu: các khớp nối mộng gỗ, sơ đồ lực đòn bẩy, và những tính toán về hướng gió...

Trong khi Duy đang mải mê với những cuốn sổ, Phan Tiên Sinh vẫn lúi húi tìm kiếm dưới sàn nhà ướt sũng, nơi những vũng nước biển đọng lại đen ngòm. Bàn tay gầy guộc của y mò mẫm trong bùn đất, nhặt lên được một vài sợi dây kẽm nhỏ xoắn lại với nhau và những cọng lông màu đen cứng ngắc, to bản.

"Duy..." Phan giơ nắm vật chứng lên trước ánh đèn.

Nguyễn Duy bước tới, cầm lấy sợi lông đen.

"Đây là gì vậy Phan huynh?" Duy hỏi.

Phan Tiên Sinh lắc đầu, đôi mắt lờ đờ nhìn ra cửa sổ: "Ta c-chưa rõ... Dưới đuôi c-của chiếc l-lông này... d-dán bằng nhựa thông."

Ngừng một chút, Phan Tiên Sinh vẫy tay ra hiệu cho Duy lại gần chỗ hai cái xác đang nằm sóng soài: "Duy... còn m-một chuyện nữa... về hai k-kẻ này."

Phan Tiên Sinh cúi xuống, dùng tay gạt lớp áo vải thô rách nát trên lưng của cái xác nằm sấp sang một bên, để lộ phần bả vai trái tím tái. Sau đó, y tiếp tục lật ngửa cái xác còn lại, vạch trần phần vai trái tương tự.

"Nhìn... k-kỹ đi."

Dưới ánh đèn đuốc chập chờn, trên làn da đã bắt đầu biến đổi màu sắc của cả hai tử thi, hiện lên rõ mồn một hai hình xăm màu chàm giống hệt nhau. Đó là hình một con rồng uốn lượn dữ tợn, và bên cạnh là hai chữ Hán viết: "Thanh Long".

Nguyễn Duy nheo mắt: "Hình xăm Thanh Long? Đây là dấu hiệu của một tổ chức nào sao?"

"ẦM!"

Một âm thanh kinh thiên động địa vang lên, cắt ngang cuộc đối thoại, như thể cả vách núi đá vừa bị một búa tạ khổng lồ giáng xuống. Mặt đất dưới chân họ rung chuyển dữ dội.

Từ dưới vực sâu đen ngòm, một con sóng bạc đầu khổng lồ, cao như một bức tường thành dựng đứng, gầm gào chồm lên, nuốt chửng lấy mép vách đá. Nước biển lạnh buốt, mặn chát tạt ào ạt vào trong nhà qua mảng tường cháy xém, tựa như một cơn mưa đá trút xuống, làm ướt sũng cả đoàn người và dập tắt ngấm những ngọn đuốc trên tay lính lệ, nhấn chìm tất cả vào bóng tối hỗn loạn.

Gió biển rít gào mỗi lúc một dữ dội hơn, tiếng gió không còn là tiếng u u than khóc nữa mà đã chuyển thành tiếng gầm thét của quái thú. Căn nhà gỗ mun, vốn đã mục nát và cháy dở, nay rung lên bần bật, kêu răng rắc thảm thiết, chực chờ đổ sụp xuống vực thẳm bất cứ lúc nào.

Lão Hợi mặt cắt không còn giọt máu, tay run rẩy vuốt nước mặn chát trên mặt, cố gào lên thật to để át tiếng gió rít bên tai: "Quan lớn ơi! Không xong rồi! Đúng là 'giông rằm tháng 6'! Gió và sóng thế này thì đến đá tảng cũng vỡ, người trần mắt thịt chịu sao thấu!"

Không còn lựa chọn nào khác, cả nhóm dìu nhau, lảo đảo bước ra ngoài khoảng đất trống, cố gắng giữ thăng bằng trước sức gió đang giật từng cơn điên cuồng như muốn bốc cả người ném xuống biển. Căn nhà gỗ phía sau lưng họ phát ra những tiếng răng rắc ghê rợn, chao đảo như con thuyền nát trước cơn sóng dữ, chực chờ đổ sụp bất cứ lúc nào.

Mưa bắt đầu quất rát mặt, hòa cùng nước biển mặn chát khiến tầm nhìn trở nên mờ mịt. Giữa lúc hoảng loạn tìm chỗ trú thân, Nguyễn Duy vô tình quét qua một khe hở tối sẫm, nằm khuất sâu vào trong vách núi dựng đứng. Đó là một hốc đá tự nhiên, được che chắn khéo léo bởi một tảng đá tảng lớn nhô ra như mái hiên, nên bên trong vẫn còn giữ được sự khô ráo hiếm hoi giữa cơn bão táp.

"Mọi người vào đó! Mau lên!" Duy gào lên, tay chỉ thẳng vào hốc đá, ra lệnh át cả tiếng mưa gầm gào.

Cả nhóm dìu nhau, lảo đảo vượt qua màn mưa trắng xóa, chen chúc chui vào hốc đá chật hẹp. Bên trong, không khí khô ráo và tĩnh lặng hơn hẳn so với cơn bão tố đang hoành hành bên ngoài. Khi ánh đuốc còn sót lại le lói soi rọi vào tận cùng vách đá, họ sững sờ phát hiện ra một bãi vụn tro tàn đen kịt, chất đống nằm ngay giữa hang. Lớp tro dày, mịn, bốc lên mùi khét lẹt đặc trưng của than củi trộn lẫn với mùi dầu hoả.

Nguyễn Duy ngồi xuống, dùng kiếm bới đống tro tàn. Lẫn trong than bụi là những mẩu vụn gỗ cháy dở, những đoạn dây kẽm xoắn vặn vẹo vì nhiệt độ cao, và đặc biệt là rất nhiều những sợi lông đen nhỏ bị cháy xém... y hệt như những thứ Phan Tiên Sinh vừa tìm thấy trong nhà.

"Đây là gì thế này..." Duy lẩm bẩm, đang cố gắng xâu chuỗi tất cả lại.

Bên ngoài, sóng biển lại đánh to hơn, trùm lên cả khoảng đất trống, nước mặn chát bắn vào tận cửa hang. Nhìn sự hung dữ của biển cả, Duy không khỏi thắc mắc: "Lão Hợi! Lão nói hai gã kia là thợ mộc, thợ xây lành nghề. Tại sao họ lại ngu dốt đến mức cất nhà ngay chỗ sóng đánh dữ dội và nguy hiểm như thế này? Chỉ cần một cơn bão là cả người và nhà đều trôi xuống biển, làm sao mà sống và làm việc suốt 2 năm qua được?"

Lão Hợi co ro vì lạnh, chép miệng giải thích: "Bẩm quan, quan mới về nhậm chức nên không biết, mà có lẽ hai tên Hổ, Báo kia mới đến 2 năm nên cũng chủ quan. Cái giống 'giông rằm tháng 6' này cực kỳ hiếm, các cụ bô lão bảo là mười năm mới xuất hiện một lần. Chỉ vào đúng cái chu kỳ này, sóng mới to và đánh cao đến tận vách đá này ạ."

Nguyễn Duy nghe xong thì rùng mình.

"Mười năm một lần..." Chàng nhìn ra màn mưa gió đen kịt. "Vậy là kẻ thứ ba kia đã tính toán sai, hoặc hắn không ngờ rằng thiên nhiên lại nổi giận đúng vào lúc hắn định xóa sổ mọi thứ. Đợt giông 10 năm này đã dập tắt đám cháy trong nhà gỗ, giữ lại cho chúng ta hai cái xác và những manh mối quý giá này."

Lão Hợi nhớ lại căn nhà gỗ đang rung lên trong gió, nói thêm với vẻ thán phục pha lẫn sợ hãi: "Mà con cũng trộm nghĩ, dám chọn cái thế đất hiểm hóc, đá tai mèo lởm chởm sát mép nước thế này để dựng nhà, lại còn dựng được ngôi nhà gỗ mun chắc chắn thế kia trụ vững suốt hai năm qua, thì tay nghề của hai gã Hổ, Báo này cũng phải thuộc hàng quỷ khốc thần sầu, thợ thường không làm nổi đâu ạ."

Bỗng nhiên, một tia chớp rạch ngang bầu trời, soi rõ vách đá dựng đứng. Gió giật mạnh đến mức cây cối nghiêng ngả.

Lão Hợi hốt hoảng: "Quan lớn! Đi mau! Mưa gió vào đến trong hang rồi! Chậm chút nữa là chúng ta kẹt ở đây làm mồi cho hà bá đấy!"

Khi cả nhóm lảo đảo bước ra khỏi hang đá nhỏ để tìm đường rút lui, Nguyễn Duy dừng lại một chút giữa mảnh đất trống cheo leo đầy sỏi đá. Chàng ngước mắt nhìn lên vách đá dựng đứng sừng sững phía trên đầu, lòng đầy nghi hoặc.

Chàng lẩm bẩm, tiếng nói bị gió biển cuốn đi: "Từ chỗ này... chính là góc nhìn mà thằng Tí nói đã thấy con chim bay lên... Tại sao lại có một căn nhà lẻ loi nằm ngay tại đây??"

"Ầm... Ầm..."

Lại thêm tiếng sấm rền vang từ xa vọng lại, nghe như tiếng trống trận dồn dập. Mây đen kèm sấm sét từ phía chân trời cuồn cuộn kéo tới với tốc độ kinh hoàng, đen kịt và đặc quánh như một bầy quái thú khổng lồ đang há miệng nuốt chửng chút ánh trăng còn sót lại.

Lão Hợi mặt tái mét, cắt không còn giọt máu. Lão nhìn sắc trời vần vũ, hai tay run lẩy bẩy, hét lên trong tiếng gió rít chói tai: "Trời ơi! Nữa rồi! Cơn dông lớn lại đến rồi! Mau chạy thôi quan ơi! Sóng thần sắp đánh vào đây rồi! Chậm chút nữa là chết không có chỗ chôn đâu!"

Lời lão Hợi vừa dứt, một âm thanh kinh hoàng vang lên, át cả tiếng sấm.

"RẦM!!!"

Từ dưới vực sâu đen ngòm, một con sóng khổng lồ, cao như tòa nhà ba tầng, cuộn lên trắng xóa, hung hãn ầm ầm đổ ập vào vách đá.

Nước biển tràn vào mảnh đất trống như thác lũ, đánh tung cánh cửa ngôi nhà gỗ mục nát, cuốn phăng mọi thứ trên đường đi của nó. Cả đoàn người bị nước tạt ướt sũng, sức nước mạnh đến nỗi hất văng mấy tên lính lệ ngã dúi dụi, loạng choạng bám vào vách đá để không bị cuốn trôi xuống vực thẳm đang gào thét bên dưới.

Ngôi nhà gỗ phía sau rung lên bần bật, những tiếng rắc rắc của gỗ gãy vang lên thảm thiết. Nó như con thuyền nát trước cơn sóng dữ, chực chờ đổ sụp và tan biến vào lòng biển.

Không thể chần chừ thêm giây phút nào, Nguyễn Duy vuốt nước mặn chát trên mặt, hét lớn ra lệnh: "Rút lui! Tất cả rút lên trên ngay lập tức!"

Cả nhóm dìu nhau, hốt hoảng chạy ngược lại về phía con đường mòn nhỏ xíu và trơn trượt. Phan Tiên Sinh ôm chặt chiếc hòm gỗ mun, được hai tên lính xốc nách kéo đi. Họ bám chặt vào từng mỏm đá, từng rễ cây, nhích từng bước một trong nỗi kinh hoàng tột độ.

Phía sau lưng họ, ngôi nhà hoang đầy bí ẩn cùng hai cái xác đang phân hủy rung lên bần bật trước cơn thịnh nộ của biển khơi, dần dần chìm vào màn mưa trắng xóa và bóng tối vĩnh cửu. Những bí mật còn sót lại trong đó, có lẽ sẽ vĩnh viễn bị đại dương nuốt chửng sau đêm nay.
 

Chương 10


Mặt trời đã đứng bóng, nắng trưa gay gắt xuyên qua những tán lá đa cổ thụ, rọi những đốm sáng lốm đốm xuống sân gạch huyện đường. Sau một đêm dài vật lộn với sóng gió và những xác chết kinh hoàng, không gian nha môn trưa nay chìm vào một sự tĩnh lặng hiếm hoi, chỉ có tiếng ve sầu râm ran báo hiệu cái oi ả của ngày hè.

Trong phòng ngủ phía hậu đường, Quan huyện Nguyễn Duy vẫn đang chìm sâu vào giấc ngủ. Chàng nằm im lìm, hơi thở đều đặn nhưng đôi mày vẫn nhíu chặt, dường như ngay cả trong giấc mơ, những ám ảnh về vụ án nhà bà Mận, Hòn Mê, vách đá Vọng Nguyệt vẫn không buông tha chàng.

"Cạch... cạch..."

Tiếng gõ cửa nhẹ nhàng vang lên, kéo theo tiếng gọi khẽ khàng nhưng kiên trì của Thầy Đề Lĩnh: "Bẩm quan lớn... giờ Ngọ đã qua rồi ạ. Quan dậy dùng chút cơm trưa kẻo hại dạ dày. Đêm qua quan đã vất vả quá rồi..."

Nguyễn Duy giật mình, choàng tỉnh dậy, trán lấm tấm mồ hôi lạnh như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng. Chàng đưa tay dụi đôi mắt vẫn còn cay xè và nặng trĩu vì thiếu ngủ, phải mất một lúc lâu, chàng mới ngơ ngác nhìn quanh căn phòng quen thuộc, định thần lại được mình đang ở hậu đường huyện nha chứ không phải vách đá dựng đứng chênh vênh ngoài biển khơi. Cơn đau đầu như búa bổ ập đến khiến chàng hơi choáng váng, nhưng cái bụng đói cồn cào thì réo lên từng hồi.

"Ta dậy ngay đây, thầy Đề."

Nguyễn Duy vục hai tay vào thau đồng, vốc từng vốc nước lạnh buốt tạt mạnh lên mặt. Chàng dùng chiếc khăn mặt thô ráp chà mạnh lên hai gò má, cố gắng tìm lại sự tỉnh táo cần thiết để đối mặt với những rối ren còn đang dang dở. Sau khi soi mình vào mặt nước sóng sánh để chỉnh lại chiếc khăn xếp cho ngay ngắn và vuốt phẳng những nếp nhăn trên tà áo lụa, Duy hít một hơi sâu rồi bước ra khỏi phòng ngủ.

Dọc hành lang dẫn xuống phòng ăn, mũi chàng bắt gặp mùi thơm lừng của gà quay quyện với hương rượu nếp nồng nàn. Một dự cảm lạ lùng dấy lên trong lòng khiến chàng rảo bước nhanh hơn.

Nhưng vừa đặt chân qua ngưỡng cửa, một cảnh tượng đập vào mắt khiến Nguyễn Duy khựng lại, đôi chân như bị đóng đinh xuống nền gạch bát tràng. Chàng dụi mắt lần nữa, ngỡ ngàng như không dám tin vào mắt của chính mình, cứ ngỡ mình vẫn đang còn mơ ngủ.

Trước mắt chàng, trên chiếc bàn tròn bằng gỗ lim bóng loáng, bày biện la liệt sơn hào hải vị: nào gà quay vàng ruộm bốc khói nghi ngút, nào nem công chả phượng xếp đầy đĩa sứ, rượu nếp cái hoa vàng sóng sánh trong bình ngọc tỏa hương ngào ngạt. Và ngồi chễm chệ ở vị trí chủ tọa, không ai khác chính là Quan Tri Phủ Lê Khắc Cẩn.

Kẻ mà đêm qua còn rên rỉ như sắp chết, thân thể bầm dập tím tái, nay lại đang ngồi vắt chân chữ ngũ, hai tay cầm chiếc đùi gà xối mỡ to tướng, miệng nhai nhồm nhoàm đầy vẻ khoái trá. Mỡ gà chảy tươm ra mép, bóng nhẫy dưới ánh nắng trưa. Sắc mặt hắn hồng hào, căng mọng, đôi mắt híp lại vì cười, cái bụng phệ rung lên bần bật theo từng tràng cười hô hố. Chẳng còn chút dấu hiệu tàn tạ nào của một kẻ vừa trải qua trận đòn đánh thừa sống thiếu chết hay vụ ám sát kinh hoàng đêm qua. Hắn cười nói oang oang, tiếng cười sảng khoái đến mức nước bọt bắn tung tóe sang cả người ngồi cạnh.

Ngồi kế bên hắn là thầy lang Cuội. Gã thầy lang hộ pháp này xem ra cũng thuộc hạng "phổi bò", đêm qua suýt mất mạng là thế mà nay đứng trước mâm cao cỗ đầy, cái tính phàm ăn đã đánh bật nỗi sợ hãi. Hắn ngồi ăn uống khí thế, tay bốc thịt, miệng nhai nhồm nhoàm không kém gì quan lớn, thi thoảng lại híp mắt cười hề hề, vẻ mặt đầy sự hưởng thụ và thản nhiên đến lạ.

Thấy bóng Duy bước vào, Cẩn đang ngồm ngoàm nhai vội nuốt ực miếng thịt xuống cổ họng, tay vẫy cái đùi gà bóng nhẫy dầu mỡ lia lịa, cười hô hố làm rung cả bộ hàm nọng: "Kìa! Hiền đệ dậy rồi đấy à? Ngủ kỹ thế! Vào đây, vào đây làm chén rượu cho giãn gân cốt."

Nguyễn Duy kéo ghế ngồi xuống, nhưng ánh mắt vẫn dán chặt vào Cẩn, đầy vẻ hoài nghi và kinh ngạc. Chàng nhớ lại hình ảnh thê thảm đêm qua, khi Cẩn rên rỉ vì đau đớn, vậy mà giờ đây hắn lại đang phừng phừng sức sống như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

"Lê huynh... huynh... huynh thực sự đã khỏe hẳn rồi sao?" Duy ngập ngừng hỏi, ánh mắt lướt qua tấm lưng to bè của Cẩn đang rung lên sau mỗi trận cười. "Vết thương đêm qua bầm tím là thế..."

Cẩn vỗ ngực cái "bộp" đầy tự mãn, cười khanh khách đến nỗi híp cả mắt lại: "Gớm! Nhằm nhò gì ba cái vết thương cỏn con ấy! Ta là ai chứ? Quan Tri Phủ mệnh lớn, phúc lớn, có quý nhân phù trợ, thần phật che chở thì làm sao mà chết yểu được? Với lại..."

Hắn liếc mắt sang phía Cuội, nháy mắt một cái đầy vẻ đắc ý: "Phải công nhận gã lang băm này trông cục súc thế mà thuốc thang cũng được việc phết. Đắp vào cái là mát rượi thấu tim gan, sáng dậy thấy người nhẹ bẫng, chẳng còn chút đau đớn nào."

Cuội nghe nhắc đến mình thì chẳng thèm ngẩng đầu lên khỏi đĩa thịt, hắn nốc cạn một chén rượu nếp rồi khà một tiếng đầy sảng khoái. Hắn dùng cái mu bàn tay thô kệch quệt ngang miệng đầy dầu mỡ, đôi mắt vằn tia máu liếc xéo Cẩn một cái đầy vẻ giễu cợt: "Dẫu sao thì cái mạng của ngài Quan Phủ đây vẫn còn đáng giá chán. Thuốc của ta là thuốc tiên cứu người, nhưng cũng là thuốc độc móc túi trọc phú. Ta định bụng cứ dây dưa thêm dăm bữa nửa tháng nữa, mỗi ngày một lạng bạc mà thu cho sướng tay, tội gì không hưởng?"

Hắn cười hắc hắc, nụ cười mang đậm chất ngang tàng của kẻ sống dựa vào rừng núi, rồi lại cầm một khúc xương gà lên gặm ngon lành: "Nhưng mà quan huyện Duy này, ta nói thật là ở gần ông Phủ đây sợ quá. Đêm qua suýt nữa thì ta mất trắng cái 'mỏ vàng' này rồi. Tên sát thủ đó ra tay gớm thật đấy, đoản đao tay trái quỷ khốc thần sầu, ta mà không có chút nghề rừng phòng thân thì giờ này chẳng còn ngồi đây mà nhai xương gà với các quan đâu."

Lê Khắc Cẩn bĩu môi, dùng cái khăn tay thêu thùa quệt qua loa mớ mỡ gà trên mép rồi cười hẩy một cái đầy vẻ khinh bỉ: "Gớm! Ngươi thì lại chả sợ quá. Đêm qua ta thấy có đứa vừa nhìn thấy cái bóng đen lướt qua cửa sổ đã lăn đùng ra ngất xỉu đầu tiên cơ mà. Gan thỏ đế thế mà cũng đòi khoe nghề rừng với chả săn cọp."

Cuội cũng chẳng vừa, hắn đặt khúc xương xuống đĩa sứ, cười hì hì, đôi mắt liếc nhìn xuống vùng háng của Cẩn đầy tinh quái: "Thì ta ngất là vì ta bị đánh lén. Thế còn ngài Quan Phủ đây, ai là người tối qua... tè cả ra quần đến mức sũng cả cái sập gụ nhà người ta thế nhỉ? Sát thủ chưa kịp chạm vào một sợi lông chân mà đã 'khai hoa' mất rồi, làm lính lệ phải đi thay chiếu mệt phờ râu."

Cả hai nhìn nhau một hồi rồi cùng phá lên cười sằng sặc, tiếng cười oang oang làm rung cả gian phòng ăn, chẳng màng đến lễ nghi hay cái chết vừa sượt qua kề cổ đêm qua. Cẩn vỗ đùi đánh đét một cái khoái trá, còn Cuội thì hỉ hả nốc thêm một chén rượu như thể họ là đôi bạn chí cốt lâu ngày gặp lại. Nguyễn Duy nhìn cảnh tượng tréo ngoe ấy, chỉ biết thở dài rồi lắc đầu ngao ngán trước sự vô tư và ngang tàng đến mức đáng sợ của hai kẻ này.

Cẩn quay sang Nguyễn Duy, giọng đầy vẻ trêu chọc và dạy đời: "Đấy, đệ thấy chưa? Ta đã bảo rồi, cứ đơn giản mà sống. Đêm qua đệ cứ lo bò trắng răng, nào là đi vách đá, nào là đội mưa đội gió ra biển... Kết quả là gì? Về đến nhà ướt như chuột lột, ngủ mệt phờ râu. Còn ta, cứ nằm đây dưỡng thương, ăn ngon ngủ kỹ, giờ lại khỏe re. Cứ theo cái cách của bản quan, chém phắt mụ Mận đi là xong chuyện, đỡ phải rách việc dầm mưa dãi nắng cho khổ thân."

Nguyễn Duy nhìn vẻ mặt phè phỡn của Cẩn, lòng thầm ngán ngẩm nhưng cũng nén giận, điềm tĩnh rót một chén trà nóng: "Huynh nói nghe nhẹ nhàng quá. Chuyện đêm qua, lưỡi dao kề tận cổ, huynh quên nhanh vậy sao?"

Nhắc đến chuyện lưỡi dao, nụ cười hơ hớ trên môi Cẩn bỗng tắt ngấm như bị tạt nước lạnh. Hắn đang định cắn miếng thịt thì khựng lại, đôi vai béo múp run nhẹ. Hắn nuốt khan một cái rõ to, bàn tay múp míp đưa lên vuốt ve cái cổ ngấn mỡ của mình theo bản năng: "Ờ thì... quên thì chưa quên hẳn... Nhớ lại cái luồng gió lạnh buốt từ lưỡi dao ấy... ta vẫn thấy lạnh toát cả cái sống lưng đây này. Nhưng mà... kệ nó đi! Có quan quân canh gác, nó vào là ta... ta cho lính chém chết ngay ấy mà!"

Nguyễn Duy đặt chén trà xuống bàn cái "cạch", tiếng động nhỏ nhưng làm Cẩn giật bắn mình. Nguyễn Duy nhìn thẳng vào mắt Cẩn, ánh mắt sắc sảo như muốn soi thấu sự ngu ngơ che đậy lòng tham của hắn: "Huynh còn nhớ hôm qua tại sao huynh lại bị dân làng vây đánh không? Huynh bảo huynh đi lấy vật chứng là một thỏi vàng. Thỏi vàng đó huynh lấy từ mái nhà của tên Sứa, là vàng rút từ cái túi của ông Tham, đúng không? Nhưng điều đệ thắc mắc là... làm sao huynh biết nhà hắn có vàng?"

Cẩn nghe nhắc đến vàng thì mắt bỗng sáng rực lên, quên tiệt nỗi sợ đêm qua. Hắn cười khẩy, ra vẻ đắc ý lắm, hất hàm nói bằng giọng lè nhè: "Hừ! Đệ cứ hay coi thường cái đầu của bản quan. Sáng hôm qua, ta đã dùng chút... ờ thì gọi là ngón nghề tra hỏi nhẹ nhàng một chút dưới hầm ngục ấy mà. Cái giống dân đen gian manh đó, đệ cứ nói đạo nghĩa thì chúng nó chỉ có 'dạ dạ vâng vâng' rồi giấu tiệt đi thôi. Ta chỉ cần dọa bẻ gãy mấy cái ngón tay bẩn thỉu của nó, nó đã sợ vãi linh hồn ra, khai ngay là có lén rút được một thỏi giấu trên mái nhà."

Hắn ghé sát vào tai Nguyễn Duy, hơi thở nồng nặc mùi gà quay và rượu, thầm thì với vẻ mặt cực kỳ ngu ngơ nhưng lại tưởng mình thông minh nhất thiên hạ: "Mà đệ tin ta đi, cái túi đó to tận mười gang, thằng Sứa nó tham như mõ ấy, làm gì có chuyện nó chỉ lấy một thỏi? Ta đồ rằng nó khai một thỏi là để lừa ta thôi, chắc chắn nó phải giấu cả một hũ to tướng dưới nền nhà hay xó nào đó. Tiếc là hôm qua đám dân ngu kia khuấy đảo làm ta lỡ việc, chứ không... ta đã đào tận gốc, trốc tận rễ cái ổ vàng ấy rồi!"

Nguyễn Duy nhíu mày, thực sự cảm thấy cạn lời trước lối suy nghĩ của Cẩn: "Lê huynh, huynh thực sự tin là có một hũ vàng sao? Và huynh liều mình đi lấy nó chỉ vì nghe lời khai của một kẻ đang bị tra tấn? Huynh có biết là hành động đó của huynh suýt chút nữa đã phá hỏng toàn bộ vụ án, và cả cái mạng của huynh nữa không?"

Cẩn xua tay, lại tiếp tục nhai nhồm nhoàm: "Phá hỏng gì mà phá hỏng? Đệ cứ mọt sách quá hóa rồ rồi. Vàng thật, tiền tươi, đó mới là chân lý của triều đình, hiểu chưa?"

Nguyễn Duy lắc đầu, giọng nghiêm nghị cắt ngang dòng suy nghĩ về vàng bạc của Cẩn: "Huynh cứ suy nghĩ về vàng, còn cái mạng của huynh thì sao? Huynh có nghĩ là tên sát thủ tay trái đêm qua sẽ quay lại không?"

Cẩn đang nhai dở một miếng sụn gà giòn sần sật, nghe đến hai chữ "quay lại" thì bỗng nhiên bị sặc. Hắn ho sù sụ, mặt đỏ tía tai, tay quờ quạng vớ lấy chén rượu nốc vội để thông cổ họng. Khi cái mặt đã bớt đỏ, hắn mới tái mét nhìn Duy, miếng thịt gà trong miệng bỗng trở nên nhạt nhẽo, đắng ngắt như nhai rễ cỏ.

Hắn lắp bắp, giọng run run không giấu nổi vẻ hèn nhát: "Q-Quay lại? Chắc... chắc không đâu nhỉ? Đệ đừng có dọa ta! Đêm qua Trần Hùng đánh hắn bị thương rồi mà, máu chảy ròng ròng thế kia thì chắc hắn lết về nhà cũng khó, nói gì đến chuyện mò lại đây. Với lại... ta là Quan Tri Phủ, là phụ mẫu chi dân, thằng nào to gan lớn mật mà dám giết cha mẹ mình lần nữa chứ?"

"Hắn bị thương, nhưng thù chưa trả xong." Nguyễn Duy nói, giọng lạnh lùng như tảng băng đang dần nứt vỡ. "Huynh hãy cố dùng cái đầu của huynh mà nhớ lại đi. Đêm qua kẻ đó nói huynh nợ máu hắn. Trong vòng 2 năm trở lại đây, huynh có nhớ ra mình đã gây thù chuốc oán, hay lỡ tay... xử ép một ai đó không?"

Cẩn nhăn trán, vẻ mặt ngu ngơ đến tội nghiệp. Hắn vỗ vỗ vào cái đầu bóng nhẫy dầu mỡ của mình, đôi mắt híp tịt lại cố lục lọi trong cái trí nhớ vốn chỉ chứa toàn thực đơn yến tiệc và hằng hà sa số các thỏi bạc.

"2 năm... 2 năm... Ta xử biết bao nhiêu vụ, làm sao mà nhớ hết được mặt mũi mấy cái lũ dân đen hôi hám ấy?" Cẩn lầm bầm, giọng đầy vẻ tự mãn nhưng rỗng tuếch. "Vả lại, ta làm quan thanh liêm chính trực, công minh lỗi lạc thế này, ai mà oán ta cho được? Kẻ bị ta phạt chắc chắn là kẻ có tội, mà đã có tội thì bị trừng trị là lẽ đương nhiên. Chúng nó phải cảm ơn ta vì đã cho cơ hội cải tà quy chính chứ lị!"

Nguyễn Duy nghe cái lối lý luận ngạo mạn của Cẩn mà chỉ muốn thở dài thườn thượt. Chàng cười nhạt, ánh mắt đầy vẻ châm biếm: "Thanh liêm chính trực? Lê huynh ạ, xử án kiểu nhìn mặt bắt hình dong, dùng nhục hình ép cung như huynh thì chỉ có gây thù chuốc oán chất chồng như núi thôi. Đệ nói thật lòng, với cái gia tài bạc vạn nhà huynh, ruộng vườn thẳng cánh cò bay, chi bằng huynh xin từ quan về quê mà an hưởng tuổi già, có phải sướng cái thân không? Cần gì phải bon chen chốn quan trường đầy rẫy hiểm họa này, để rồi đêm nằm còn phải lo lưỡi dao kề cổ?"

Thầy Đề Lĩnh đứng hầu trà bên cạnh, thấy không khí căng thẳng quá cũng bèn rụt rè đế thêm vào để làm dịu tình hình: "Dạ bẩm quan lớn, quan huyện Duy nói chí lý ạ. Quan Phủ giàu nứt đố đổ vách, về nhà ăn sung mặc sướng, có sợ thì chỉ sợ bọn trộm cướp lẻn vào dòm ngó thôi, chứ ở chốn quan trường này nhiều kẻ tiểu nhân ganh ghét, kẻ thù ẩn mình thì khó phòng lắm ạ."

Hai chữ "trộm cướp" của thầy Đề vừa thốt ra, Lê Khắc Cẩn bỗng khựng lại. Hắn đang định lùa miếng gân gà vào mồm thì cái miệng há hốc ra, mắt trợn ngược lên nhìn trần nhà, vẻ mặt trông đần độn đến lạ. Bất chợt, hắn đập bàn cái "rầm" khiến bát đũa nảy ngược lên loảng xoảng, một sợi gân gà rơi tọt xuống gấu áo lụa đắt tiền.

Hắn reo lên, giọng lè nhè đầy vẻ đắc ý: "A! Cướp! Nhớ rồi! Nhớ ra rồi! Đệ thấy ta chưa, cái đầu này đâu có để làm cảnh, nhắc một cái là nó mở ra ngay!"

Cẩn hào hứng kể, nước bọt bắn cả vào mặt Cuội ngồi cạnh. Lão thầy lang nhăn mặt, lén lấy tay áo quệt ngang trán. Cẩn vừa vung vẩy cái xương gà vừa nói: "Đúng là có một vụ... Cách đây đúng hai năm, hồi đó ta đang đi kinh lý qua huyện Hà Trung. Một vụ cướp của giết người rúng động cả vùng. Nhà họ Dương phú hộ giàu có nhất nhì vùng đó, buôn gỗ quý có tiếng, tiền bạc chất đầy kho. Một đêm mưa gió bão bùng, quân cướp xông vào giết sạch, từ ông bà chủ đến đám đầy tớ trai tráng đều bị chém chết, rồi bọn chúng còn phóng hỏa định thiêu rụi cả cơ nghiệp."

Cẩn húp một ngụm rượu, mắt lấp lánh vẻ tự hào: "Lúc ta dẫn lính đến hiện trường, khói vẫn còn bốc nghi ngút. Lính của ta bắt được một gia đình người làm của nhà ấy đang lén lút lẻn ra cổng sau, trên vai mỗi đứa đeo một cái tay nải nặng trịch. Ta nghĩ ngay trong bụng: 'Cái nhà này chết hết rồi, sao nhà thằng này còn sống nhăn? Lại còn mang theo đồ đạc bỏ chạy?' Thế là ta chẳng cần suy nghĩ nhiều cho mệt xác, ra lệnh tống ngục hết cả lũ cho xong chuyện!"

Nguyễn Duy nhíu mày, cảm thấy cái cách phá án này thực sự là một tai họa: "Huynh chỉ dựa vào việc họ còn sống mà kết tội sao? Chẳng lẽ huynh không hỏi xem trong cái tay nải kia có gì, hay tại sao họ lại chạy?"

Cẩn nhếch mép, cười một cách đần độn: "Hỏi chứ! Chúng nó chối phắt, một mực kêu oan, bảo là trong tay nải chỉ là mấy bộ quần áo cũ với ít tiền công dành dụm bấy lâu, đang định chạy khỏi cái nơi máu me chết chóc ấy thôi. Đệ coi, cái thói đời nó rành rành ra đấy, quân gian bao giờ chẳng mồm loa mép giải để chạy tội? Chủ chết rồi thì chúng nó không vơ vét mới là chuyện lạ, có khi chính chúng nó mở cổng cho giặc vào cướp rồi cũng nên! Ta cứ cho dùng kẹp ngón tay mà siết, đau quá hóa dại thì đứa nào chẳng phải gật đầu nhận tội. Thế là ta ký trát cho chém tuốt để dân làng hả dạ, vụ đó ta được quan trên khen thưởng vì phá án nhanh như chớp đấy!"

Nguyễn Duy nghe mà cảm thấy sống lưng lạnh toát, chàng ôm lấy trán, giọng nghẹn lại vì phẫn nộ trước sự càn rỡ: "Lê huynh... Huynh thật là... Vậy còn hung thủ thật sự??"

Cẩn gạt phắt đi, lại cầm đùi gà lên gặm tiếp. "Cái lẽ thường nó hiện ra trước mắt rồi, người sống cầm đồ chạy là kẻ cướp, đơn giản vậy thôi. Đệ cứ hay mọt sách, cứ thích đi tìm những thứ không đâu làm gì cho hại não."

Thầy Đề Lĩnh đứng bên cạnh nghe mà mặt tái mét, nhìn Nguyễn Duy đầy cảm thông rồi lại nhìn Cẩn với ánh mắt kinh hoàng. Một vị quan tri phủ mà xử án theo kiểu "tiện tay" như vậy, bảo sao thù hằn không chất chồng như núi.

Cẩn tặc lưỡi, nói tiếp với vẻ hơi bực dọc như thể mình là nạn nhân bị làm phiền: "Mà cái đám gia nhân ấy cũng lì lợm lắm cơ, đến tận lúc bị đưa ra pháp trường, đầu sắp lìa khỏi cổ rồi mà vẫn cứ gào lên kêu oan thấu tận trời xanh. Chúng nó một mực khai là có một băng cướp bịt mặt xông vào nhà, chúng nó chỉ là may mắn thoát được thôi. Ta nhớ chúng nó còn gọi tên băng cướp là cái gì mà... Thăng Bông... hay Thăng Long gì gì đó... Nghe phát mệt!"

"Thăng Long? Huynh chắc chắn chứ?" Nguyễn Duy hỏi dồn, giọng gấp gáp, ánh mắt như muốn lột trần ký ức của Cẩn. "Là Thăng Long, hay thực chất là Thanh Long?"

Cẩn ngẩn người ra, gãi đầu, vẻ mặt ngu ngơ: "Ờ... hình như là Thanh Long thì phải. Ta cũng chẳng nhớ rõ, 2 năm rồi còn gì, ai mà thèm để ý mấy cái tên nghe như phường tuồng ấy làm gì cho mệt óc. Mà đệ hỏi cái đó làm gì?"

"2 năm..." Duy lẩm bẩm, ánh mắt trở nên xa xăm và đầy lo ngại.

Lại là con số 2 năm định mệnh. Thầy đồ Hiếu trở về làng Vọng Khê mang theo cô vợ câm cách đây 2 năm. Hai gã thợ mộc Hổ, Báo với hình xăm Thanh Long đến dựng nhà bí mật ở vách đá cũng cách đây 2 năm. Và vụ án oan sai đẫm máu mà Cẩn vừa kể cũng xảy ra đúng 2 năm trước.

Mọi thứ không còn là trùng hợp ngẫu nhiên nữa. Tất cả dường như là những sợi dây thòng lọng vô hình đang siết chặt lại quanh một âm mưu trả thù tàn khốc, một vở kịch lớn đã được lên kế hoạch tỉ mỉ từ rất lâu mà chính Lê Khắc Cẩn là một mắt xích oan nghiệt.

Cẩn thấy Nguyễn Duy trầm ngâm thì cười khẩy một tiếng đầy vẻ bề trên. Hắn cầm ly nước vối lên, ngửa cổ nốc ừng ực một hơi cạn sạch để trôi đi miếng thịt gà béo ngậy vừa nuốt. Hắn quệt mồm vào ống tay áo lụa bóng loáng, hắng giọng tiếp tục khoe khoang:

"Cái phủ của đệ có tên Trần Hùng võ nghệ giỏi thật đấy. Hay là đệ bảo hắn theo ta về kinh đi, ta sẽ cho hắn chức tước bổng lộc hậu hĩnh hơn. Có hắn đi theo, chắc chắn cái thằng sát thủ kia chẳng thể làm gì được ta đâu, ta tha hồ mà đi vi hành! Ha ha ha!"

Nguyễn Duy không đáp, chàng cảm thấy sự ngu ngốc của Cẩn đã đạt đến mức báo động. Không khí trong căn phòng ăn bỗng chốc đặc quánh lại, lạnh lẽo đến rợn người khi một cái bóng trắng lừ lừ xuất hiện nơi ngưỡng cửa.

Phan Tiên Sinh bước vào, gương mặt y trắng bệch như không có lấy một giọt máu, đôi mắt lờ đờ thiếu ngủ ghim chặt vào đống đồ ăn thừa trên bàn bằng một ánh nhìn sắc lạnh lạ thường.

Nguyễn Duy quay sang, giọng thoáng chút lo âu: "Phan huynh, huynh thấy trong người thế nào? Đêm qua dầm mưa gió..."

Phan Tiên Sinh không trả lời ngay. Y đứng lặng lẽ như một bóng ma, môi mấp máy khó nhọc, giọng khàn đặc và ngắt quãng: "Ta... hơi mệt... d-dầm mưa tối qua..., sức ta k-không bằng... sức vóc trâu bò... của... Lê h-huynh đây."

Lê Khắc Cẩn nghe thấy thế thì lại phá lên cười hô hố, chỉ tay vào Phan đầy vẻ giễu cợt: "Đấy! Thấy chưa Phan huynh? Ta đã bảo rồi, đi theo Duy đệ làm gì cho khổ thân, Phan huynh nhìn nhợt nhạt như cái xác trôi sông thế kia kìa! Cứ như ta đây này, ăn ngon ngủ kỹ, phúc đức đầy mình mới là thuốc tiên nhất!"

Cẩn quệt vệt mỡ gà còn sót lại trên cằm, như sực nhớ ra điều gì đó cực kỳ "thú vị" trong vụ án cũ, hắn nói tiếp với vẻ mặt đần độn nhưng lại đầy tự đắc: "À, mà nhắc chuyện cũ mới nhớ, cái nhà giàu Dương phú hộ bị cướp giết sạch ở Hà Trung kia, nghe đâu cuối cùng vẫn còn sót lại một mống. Đứa con gái duy nhất của nhà đó, lúc đó không biết trốn ở xó xỉnh nào nên thoát chết. Mà tội nghiệp thật, cái cô tiểu thư ấy sau cái đêm kinh hoàng chứng kiến cả gia đình bị chém giết, nhà cửa cháy rụi, nghe đâu sợ quá hóa rồ, rồi bị câm luôn... Chẳng biết giờ trôi dạt về phương nào, hay đã chết bờ chết bụi ở đâu rồi."

Nguyễn Duy đang gắp miếng đậu phụ, nghe đến chữ "câm" thì hai chiếc đũa bỗng khựng lại giữa không trung. Miếng đậu rơi tọp xuống bát nước mắm, bắn tung tóe những vệt nâu sẫm lên mặt bàn gỗ bóng loáng.

"Huynh nói sao? Câm ư?" Duy buông phắt đũa, chồm người hẳn về phía trước. Hai tay chàng nắm chặt lấy mép bàn gỗ lim đến mức khớp xương trắng hếu, gân xanh nổi lên cuồn cuộn trên mu bàn tay. Giọng chàng lạc hẳn đi, run rẩy vì một sự thật kinh hoàng đang dần lộ diện: "Lê huynh! Huynh nhớ kỹ lại đi! Cô gái ấy tên gì? Nhà đó rốt cuộc ở làng nào của huyện Hà Trung?"

Cẩn thấy Nguyễn Duy phản ứng thái quá thì nhăn mặt, hất tay Nguyễn Duy ra đầy vẻ khó chịu: "Gớm, làm gì mà đệ sồn sồn lên thế như bị ma đuổi vậy? Chuyện cũ rích từ đời tám hoánh nào rồi, nhắc lại làm gì cho dông cả bữa ăn... Để ta nhớ xem nào... Hình như con bé ấy tên là... tên là..."

Cẩn nheo mắt, vỗ vỗ vào cái trán hói bóng nhẫy mồ hôi, ra chiều suy nghĩ lung lắm. Hắn định nói tiếp, nhưng bất chợt, một tiếng "Khụ!" khô khốc vang lên từ cổ họng hắn.

Cẩn đưa tay lên che miệng, mặt bỗng nhăn nhó như vừa nuốt phải một hòn than nóng.

"Tên là gì huynh? Huynh nói mau lên!" Nguyễn Duy sốt ruột thúc giục, tim chàng đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Linh tính mách bảo một sự thật đen tối sắp được phơi bày.

"Khụ... khụ... khụ!!!"

Tiếng ho của Cẩn bỗng trở nên dữ dội lạ thường. Hắn định mở miệng nói tiếp nhưng cổ họng bỗng nghẹn ứ lại, không sao thốt nên lời. Mặt hắn từ hồng hào nhanh chóng chuyển sang đỏ gay rồi tím tái dần, gân cổ nổi lên cuồn cuộn. Đôi mắt híp của hắn trợn ngược lên, lòng trắng dã đầy vẻ hoảng loạn và đau đớn tột cùng.

Cẩn run rẩy buông bàn tay đang che miệng ra, cúi đầu nhìn xuống.

Trong lòng bàn tay trắng bệch, múp míp của hắn, một vũng máu đen ngòm, đặc quánh và lợn cợn vừa được ho ra, bốc lên một mùi tanh nồng nặc và hôi thối đến nôn mửa.

"Máu... Duy ơi... Máu..." Cẩn ú ớ, tiếng được tiếng mất như người đang hụt hơi. Máu đen trào ra khỏi khóe miệng hắn không ngừng, nhỏ tong tong xuống bộ quần áo lụa là màu mỡ gà, loang lổ thành những mảng lớn.

Bầu không khí trong phòng ăn nổ tung trong một sự hỗn loạn tàn khốc. Thầy lang Cuội đập mạnh tay xuống bàn, gân xanh trên cánh tay hộ pháp nổi cuồn cuộn, đôi mắt quắc lên sắc lẹm nhưng tuyệt nhiên không hề lộ vẻ sợ hãi. Hắn lao tới, một tay giữ chặt bả vai đang co giật của Cẩn, tay kia bóp mạnh cằm vị quan Phủ, mũi hít hít cái mùi hôi bốc ra từ vũng máu đen ngòm trên bàn.

"Mẹ kiếp! Là Đoạn Trường Thảo!" Cuội rít lên qua kẽ răng, giọng đầy ngang tàng và tức giận. "Thằng nào to gan dám ra tay hạ độc ngay dưới mũi ta?

Trong khi Cuội đang cố dùng ngón tay ấn vào huyệt đạo ở cổ Cẩn để ngăn máu trào ra, Phan Tiên Sinh vẫn lặng lẽ như một bóng ma, nhưng động tác lại nhanh như chớp. Y không nói một lời, bàn tay gầy guộc như gọng kìm sắt vươn tới chộp lấy chiếc ly nước vối mà Cẩn vừa nốc cạn ban nãy. Từ trong ống tay áo trắng toát, Phan rút ra một cây kim bạc dài mảnh, dứt khoát cắm sâu vào lớp nước còn đọng lại dưới đáy ly.

Tất cả ánh mắt đều đổ dồn vào cây kim. Mũi kim vừa chạm vào lớp nước vối đã lập tức hóa đen kịt như mực tàu, màu đen ấy loang nhanh lên tận thân kim, đồng thời sủi lên những bọt khí li ti đầy chết chóc.

Phan Tiên Sinh ngước nhìn Nguyễn Duy, đôi mắt vô hồn giờ đây lạnh lẽo như băng giá: "Độc... t-trong nước vối.

"Rầm!"

Lê Khắc Cẩn gục đầu xuống bàn ăn, làm đổ vỡ bát đĩa loảng xoảng, thức ăn vương vãi khắp nơi. Một tay hắn bấu chặt vào mép bàn đến mức móng tay bật máu, tay kia vẫn chỉ về phía Duy, ngón tay run rẩy bần bật như muốn cố sức trăng trối nốt cái tên của cô gái câm còn dang dở. Nhưng từ đôi môi tím tái, sưng phồng ấy, giờ chỉ còn sủi ra những bọt máu đen sì hôi hám.

Nguyễn Duy đứng chết lặng, nhìn người huynh đệ đồng môn gục ngã ngay trước mắt mình trong một cái chết tức tưởi. Trong đầu chàng, hình ảnh ba chiếc ghế gỗ mục nát trong căn nhà cháy dở ở vách đá Vọng Nguyệt hiện về thật rõ ràng.

"Đoạn Trường Thảo..." Duy lẩm bẩm, hơi thở chàng trở nên nặng nề. "Cùng một loại độc... cùng một phương thức hạ độc trong bữa ăn... Kẻ thứ ba tại vách đá Vọng Nguyệt... lại là hắn sao?!"

 
Sửa lần cuối:
Bắt đầu rõ ràng hơn rồi. Có vẻ nàng Sen chính là người duy nhất còn sống trong nhà bị cướp thật.
Nhóm cướp thanh long này có lẽ dính dáng tới khầy hiếu, biết làm con chim gỗ của Lỗ Ban, sau khi xong việc khầy định diệt khẩu và đốt con chim phi tang chăng?
Vàng thì có lẽ là từ nhóm cướp, khầy Hiếu chính là trùm giấu mặt, bắt nàng Sen về làm vợ.
Giờ ẩn số còn lại là con chim làm được gì? Động cơ của khầy là gì khi ra tay với ông Tham và con Thắm
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
whatever_we_are_loser,
Trả lời
235
Lượt xem
13.463
Quay lại
Lên đầu trang