[Kinh dị] Mợ Cả

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Chào mọi người, mình là tác giả của 2 bộ từng đăng, là
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Trong lúc lên idea cho Quyển 3, mình xin up lại bộ truyện cũ mình thực hiện cùng 1 bạn tên Thanh Tuyền. Tên là Mợ Cả, với bối cảnh là miền quê Nam Bộ thời Pháp Thuộc.

Chương 1: Nhà Hội Đồng Quyền (có update đánh dấu vàng)​

Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng

Chương 3: Vòng Lặp

Chương 4: Âm mưu của mợ Cả

Chương 5: Hàm oan

Chương 6: Thầy Bảy (1)

Chương 6: Thầy Bảy (2)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (1)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (2)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (1)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (1)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (3)

Chương 10: Ả Phù Dung (1) (Đã có chỉnh sửa đoạn "uống sữa")

Chương 10: Ả Phù Dung (2)

Chương 10: Ả Phù Dung (3)

Chương 11: Nhân quả (1)

Chương 11: Nhân quả (2)

Chương 11: Nhân quả (3)

Chương 12: Đền tội (1)

Chương 12: Đền tội (2)

Chương 12: Đền tội (3)

Chương 12: Đền tội (4)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (1)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (2)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (3)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (4) - END

Phụ lục: Cô Hai Kim


Bia-01.webp
 
Sửa lần cuối:

Chương 1: Nhà Hội Đồng Quyền​

Vào cuối mùa nước nổi, khi nước bắt đầu rút một cách chậm chạp, ruộng đồng Vĩnh Long còn lại cái mùi ẩm ngai ngái, cái mùi như bùn đất phèn trộn với rơm rạ mục nát, người dân ở đây dù đã quen nhưng mỗi lần ngửi thấy thì sống lưng vẫn cứ lành lạnh.

Xứ đó người ta tin vía, tin số, tin có những thứ không thuộc về cõi dương. Bởi vậy, nhắc tới nhà ông Hội đồng Quyền, người dân cũng phải né tránh, đang kể chuyện cũng lảng sang chuyện khác. Nhà ông như một cái bóng phủ ngang cả vùng.

Ông nổi tiếng ngang tàng, thế lực, độc ác. Ruộng đất của ông cò bay thẳng cánh, mà tiếng đồn về ông cũng nhiều không kém. Người ta rỉ tai nhau rằng ông từng cho bọn tay sai đánh chết vài tá điền vì dám cãi lời, rồi nhờ quen quan trên nên rốt cuộc cũng chẳng ai làm gì được ông. Lại còn có lời đồn ghê hơn nữa, rằng ông từng chôn xác một thiếu nữ còn trinh ở một góc đất để làm quỷ giữ của. Chuyện thực hư không ai dám chắc, vì ai mà lỡ miệng nhắc tới, nếu tới tai ông, thì chỉ vài bữa sau thế nào cũng thấy người đó bị bọn tay sai của ông tìm bắt rồi đánh đập.

Nhà ông là tòa nhà ngói ba gian bề thế, mái ngói dày, cột kèo to, phía ngoài có hàng rào sắt và cái cổng sắt nặng trịch. Đối diện, sát bờ sông Cổ Chiên là lò gạch của ông, đỏ lửa quanh năm. Ban ngày ghe lái buôn đi ngang thấy khói lững lờ trên mặt nước thì cũng chỉ liếc nhanh rồi chèo tiếp, ít ai muốn đứng lâu trước cơ ngơi của nhà đó.

Trong sân, cây trái trồng thẳng hàng. Một bên sapoche với măng cụt, một bên ổi với quýt đường. Lối vô cửa cái bày chậu kiểng hai hàng, sứ, kim quýt, bạch mai, gốc nào cũng lớn, nhánh nào cũng uốn kỹ. Giữa sân là cái hồ xi măng đắp non bộ nuôi cá, nước chảy róc rách suốt ngày.

Bước vô trong nhà, bàn ghế gỗ lớn được đánh dầu bóng loáng. Trên nhà trên lúc nào cũng có mùi nhang, mùi trà nóng, lẫn mùi thuốc rê, trộn lại thành cái mùi riêng của nhà giàu có quyền.

Ông Hội đồng Quyền thường ngồi ngay bộ ván đó. Người bự, bụng phệ, râu ria tỉa gọn, áo the sậm hoặc áo dài gấm, ngón tay đeo nhẫn vàng. Ông hay cầm theo cây ba toong đầu bọc sắt, không phải để chống, mà để cầm cho ra vẻ có uy quyền. Ông ít nói, ai đứng trước mặt ông cũng phải cúi đầu, lưng tự nhiên khom xuống như phản xạ. Lâu lâu mới dám ngước một cái, chỉ để đoán ý ông đang vui hay đang khó chịu. Mà hễ nghe tiếng ngón tay ông gõ cộc cộc lên mặt bàn, là trong nhà tự động im phăng phắc.

Bà Hội đồng thì đẫy đà, tóc vấn gọn, mặc lụa, trên người lúc nào cũng thoang thoảng mùi dầu dừa lẫn hoa lài. Bà hay lẽo đẽo theo ông suốt ngày, đi từ nhà trên ra sân, từ sân xuống lò gạch, rồi vòng lại coi người làm, coi sổ sách. Người ngoài tưởng bà sốt sắng lo toan, nhưng trong nhà ai cũng biết, bà theo vậy một phần để giữ thế nhà, một phần vì sợ ông lén phén với đứa nào khác.

Ông bà có hai đứa con. Cô Hai Kim mười bảy tuổi, da trắng, người mảnh, nói năng nhỏ nhẹ mà dễ nghe, gặp người làm cũng không nạt nộ. Có bữa cô đi ngang bếp còn dừng lại hỏi chị bếp nồi canh mặn lạt ra sao, nhắc chừa phần cho mấy người làm ngoài lò gạch. Thấy ai ho sù sụ, cô hỏi có uống thuốc chưa, rồi lẳng lặng kêu người lấy ít đường phèn, ít gừng. Cô không quen cái kiểu doạ nạt như cha mẹ, thành ra trong cái nhà này, cô là người hiếm hoi khiến người ta không cảm thấy ngột ngạt khi nói chuyện.

Cậu Ba Nghĩa nhỏ hơn chị Hai Kim một tuổi. Cậu được ông Hội đồng cho đi học chữ Tây đàng hoàng, nhưng cậu lại không thích học, ở trường thì lơ đễnh, về nhà thì tụ năm tụ bảy, mê đi coi hát, mê nhậu nhẹt. Thi tú tài rớt cũng vì vậy.

Bữa nghe tin rớt, cậu bực tới mức không nuốt nổi cơm. Cậu đi vòng vòng trong nhà, mặt sầm như trời sắp mưa. Rồi cậu đem cái tức xuống lò gạch, gặp mấy anh thợ đang làm là bắt đầu kiếm chuyện. Chỗ nào cũng chê, việc nào cũng bới, miệng chửi như tát nước. Có người lỡ bê đồ mạnh tay cũng bị cậu bắt bẻ, cậu còn vung tay đánh mấy cái cho hả dạ. Đám thợ cúi đầu chịu trận, không ai dám nói một lời, vì nói ra là tự rước hoạ vào thân.

Ông Hội đồng nghe chuyện, không những không trách, lại còn tỏ ý khen. Bà Hội đồng vừa nói vừa đưa mắt nhìn chồng như hỏi ý: "Nó không ham học thì thôi. Cho ở nhà nối nghiệp ông, rồi tiếp quản cái lò gạch với ruộng đất. Làm chủ phải ra dáng chủ với đám người ăn kẻ ở, chứ hiền quá là tụi nó leo lên đầu mình. Đừng có như con Hai Kim, suốt ngày cười nói với đám thợ."

Ông Hội đồng chỉ cười khẽ, gật gù mấy cái, coi như cũng đồng ý.

Từ đó ông không ép cậu Ba đi học nữa. Mỗi lần đi thâu góp, coi ruộng, coi sổ, coi người, ông hay kêu cậu đi theo, để cậu đứng bên cạnh mà học.

Cái giàu nhà ông không chỉ nằm ở ruộng với lò gạch. Nó còn nằm trong mấy cuốn sổ nợ dày cộm để ngay trên bàn. Giáp hạt, người ta thiếu gạo thiếu tiền, chạy tới vay tạm vài đồng vài giạ, trả lãi thôi cũng đã muốn đứt hơi, vì nhà Hội đồng lấy lời cao cắt cổ.

Ở nơi khác, thường thì chủ nợ phải lặn lội đi đòi từng con nợ. Còn ở xứ này, nhà ông Hội đồng Quyền thì ngược lại. Như thường lệ mỗi tháng, hôm nay là ngày rằm, sân nhà ông Hội đồng đông như chợ trời. Cổng sắt mở hé từ sớm, cái bản lề kêu rin rít một tiếng là người ngoài đường cũng giật mình. Dân trong xóm, tá điền ở mấy miệt ruộng xa, ai nợ thì biết đường mà tới. Người tay xách thúng gạo, kẻ ôm con vịt, có người cột mấy trái dừa khô vô đầu đòn gánh, có người lật đật mang theo cái túi vải đựng vài đồng bạc lẻ. Đi vô tới sân là tự động cúi đầu, không ai dám nói lớn.

Ngay ở cổng sắt, thằng cai đang đứng chặn ngang như cái then cửa. Nó mặc áo sơ mi trắng đóng thùng, cổ tay đeo cái đồng hồ dây da. Tay nó cầm cây gậy mây ngắn để người ta nhìn thấy rồi tự biết sợ.

Nó chỉ liếc một vòng rồi hất cằm: "Đứng thẳng hàng. Tới trước đứng trước. Không chen lấn. Ai bị gọi thì bước lên."

Có người lỡ nhích lên lệch ra ngoài nửa bước, nó gõ cán gậy cộc một cái xuống nền gạch. Đám người đang xôn xao tự động dạt ra, xếp lại ngay ngắn.

Trên nhà trên, ông bà Hội đồng ngồi ngay bộ ván. Trước mặt là mấy cuốn sổ nợ dày cộm, giấy đã ố cạnh, mùi mực cũ ngai ngái. Ông Hội đồng không vội, lật sổ chậm rãi, mắt nhìn xuống đám con nợ như đang soi hàng hoá. Bà Hội đồng ngồi kế bên, cũng cầm một cuốn, thỉnh thoảng liếc qua liếc lại để dò ý, tay lật trang nghe sột soạt. Người đứng dưới sân nhìn lên mà nuốt nước bọt, chỉ chờ một tiếng gõ cộc cộc là biết mình phải nói gì, hoặc phải chịu gì.

Thằng cai khi thấy đám con nợ đã vào hàng thẳng lối, không còn chen lấn, nó mới nhoẻn miệng cười khoái chí. Rồi nó nói: “Rằm rồi nghen. Thiếu đồng nào khai đồng đó. Ông bà Hội đồng không thích nghe vòng vo."

Bà Hội đồng cúi nhìn sổ, lật một trang, rồi kêu lên một tiếng, không lớn mà ai cũng nghe rõ: "Tư Ất, miệt Cái Nhum."

Đám người dưới sân rụt cổ, tự động dạt ra. Một ông già lưng còng lật đật bước ra khỏi hàng, tay ôm cái thúng, tới gần bộ ván thì quỳ xuống, chắp tay, mắt không dám ngước lên.

Ông Hội đồng ngồi trên bộ ván, tay đặt hờ lên cây ba toong, mắt nhìn xuống, gõ ngón tay cộc cộc lên mặt ván. Thằng cai đứng dưới sân như hiểu ý, liền hỏi: "Ông già, đem được nhiêu"

Ông già run run đáp: "Dạ thưa, con có bốn giạ rưỡi."

Bà Hội đồng nhìn xuống quyển sổ, rồi nhíu mày: "Tư Ất, trong sổ ghi tám giạ. Thiếu ba giạ rưỡi."

Ông già chắp tay, trán gần chạm nền: "Dạ ông bà thương, cho con thiếu. Con xin hẹn ít bữa."

Ông Hội đồng Quyền nghe xong, mặt không đổi. Ông nhấc cây ba toong lên, dộng xuống sàn một cái rầm. Cả sân đều giật mình, mấy cái thúng gạo trong tay người ta cũng khẽ rung theo.

Ông mới lớn tiếng: "Hẹn hò gì. Thiếu một tiền thì đánh một roi. Luật nhà này vậy."

Tên cai đưa mắt nhìn ông Hội đồng. Ông Hội đồng cười khẽ, gật gù, coi như cho phép. Hai thằng cai khác liền lôi ông già ra giữa sân. Cây roi mây quất xuống nghe chát chúa. Ông già oằn người, vẫn cố năn nỉ, tiếng khàn đi: "Dạ ông bà thương, con già rồi, con xin..."

Đánh tới một hồi, ông già mềm nhũn như cái áo rách. Mấy thằng cai bắt đầu chần chừ, không phải vì thương, mà vì sợ lỡ tay đánh chết ông già thì rắc rối.

Đúng lúc đó, ngoài cổng sắt bỗng có tiếng chân chạy thình thịch. Một anh thanh niên lao vào, tóc bết mồ hôi, áo bà ba dính đầy bụi đất với bùn, tay còn run như vừa chạy một quãng dài không kịp thở. Anh quỳ phập ngay giữa sân, chắp tay hướng lên bộ ván, giọng đứt quãng. "Ông bà đừng đánh ba con nữa. Nợ nần gì con xin chịu hết. Con làm con trả. Xin ông bà thương."

Ông Hội đồng Quyền nheo mắt, nhìn anh thanh niên một hồi, như cố lục trong trí nhớ cái mặt quen quen đó. Ông hất cằm hỏi: "Mày là ai? Con của thằng Tư Ất à?"

Thằng cai đứng ngay cổng vội bước lên nửa bước, cúi đầu.

"Dạ thưa ông, nó là Tí. Trong đội thợ gốm nhà mình. Thằng này hay ở lò, làm khuôn".

Nghe tới đó, trong nhà trên lại có tiếng dép lẹp kẹp vội vã. Cô Hai Kim chạy ra, mặt tái đi. Cô nhìn ông già Tư Ất rồi nhìn Tí, mắt đỏ lên như sắp khóc. Cô quỳ xuống trước bộ ván, nói nhanh.

"Thưa ba, xin ba tha cho ổng một bữa. Ổng già lắm rồi, lỡ có chuyện gì..."

Bà Hội đồng đang cầm sổ, thoáng thấy cảnh đó thì khựng lại. Cái nhìn của bà không còn là liếc xéo nữa, mà như ghim thẳng vô mặt con gái. Bà kéo nhẹ tay áo ông Hội đồng, nói nhỏ, đủ để ông nghe. "Ông coi kìa. Con Hai nó sốt sắng quá. Hôm bữa tôi nghe đám người làm bàn tán, nói nó có tình tứ với một thằng thợ gốm. Tôi hồi đó còn không tin..."

Ông Hội đồng nghe xong, mặt tái đi một chút như bị ai tạt nước lạnh. Ông nhấc cây ba toong lên, dộng mạnh xuống sàn thêm một cái rầm.

Ông chỉ thẳng xuống sân, giọng lớn hơn: "Đánh. Đánh cho đủ nợ lẫn lãi. Cả thằng con lẫn thằng cha."

Rồi ông quay sang cô Hai Kim, mắt lạnh ngắt. "Con Hai, mày là con gái, phận ở sau bếp. Không có tới lượt mày lo chuyện nhà."

Ông hất tay như đuổi một người làm. "Đi vô trong."

Cô Hai Kim đứng chựng, môi mím lại, nhưng cuối cùng cũng phải lùi bước. Cô vừa quay lưng thì vẫn ngoái nhìn về phía Tí. Anh Tí bị lôi ra giữa sân, roi mây quất xuống lưng nghe chát chúa, anh cắn răng không kêu lớn, chỉ co người chịu đòn. Ông già Tư Ất thì hai thằng cai nhỏ ban đầu còn ngần ngại, thấy ông già mềm nhũn quá, sợ lỡ tay thì chết. Nhưng tiếng ông Hội đồng lại dội xuống như cái búa: "Đánh cho đủ."

Đúng lúc đó, từ phía nhà ngang có tiếng dép lệt xệt mà gấp. Cậu Ba Nghĩa bước ra, áo còn chưa thẳng nếp, mắt đỏ ngầu không rõ vì đang tức hay thiếu ngủ. Cậu nhìn cảnh hai thằng cai đứng chần chừ, liền bật cười khẩy. "Tụi bây không dám đánh hả. Để tao."

Cậu giật phắt cây roi mây khỏi tay một thằng, vung lên không cần lấy đà. Roi quất xuống lưng ông Tư Ất nghe một tiếng chát khô, rồi thêm cái nữa, cái nữa. Ông già chỉ kịp rên hừ hừ, tay chân mềm như bún, đầu gục xuống, miệng lắp bắp không ra lời. Cậu Ba càng đánh càng hăng, như trút hết cái bực của bữa thi rớt lên tấm lưng già nua đó.

Tới một lúc, ông Tư Ất không còn đứng nổi, ngã lăn ra nền gạch, người giật giật mấy cái rồi nằm im như khúc cây.

Tí thấy vậy thì thét lên, giọng vỡ ra: "Ba ơi. Trời ơi ba ơi. Đừng đánh nữa. Con lạy ông bà. Con lạy cậu."

Bà Hội đồng lúc này mới tái mặt. Bà liếc nhanh ra cổng, liếc qua đám người đang đứng câm như hến dưới sân, rồi quay phắt lại, giọng gắt mà có phần hốt hoảng. "Thôi, dừng lại. Dừng lại cho tao."

Bà đưa tay chận lại, rồi nói lớn: "Lần này tao cho khất. Hai cha con mày lo mà trả cho tháng sau. Nếu tới rằm tới mà vẫn thiếu, đừng có trách."

Rồi bà hất hàm về phía cổng. "Thằng cai, lôi hai cha con nó ra ngoài. Đứng đây chướng mắt."

Trên bộ ván, ông Hội đồng nheo mắt nhìn con trai. Ông không nói gì, chỉ cười khẽ, gật gù một cái, cái gật vừa đủ để người ta biết ông đang hài lòng.

Ngay lúc thằng cai kéo Tí với ông Tư Ất ra khỏi sân, ông Hội đồng nghiêng người nói nhỏ với bà vợ: "Bà coi tìm mối nào cho con Hai lẹ lẹ đi. Lỡ nó mà có gì là mang tiếng cả dòng họ."

Bà Hội đồng giật mình, bèn hỏi lại: "Ý ông là bị gì. Không lẽ...."

Bà nói tới đó thì khựng lại. Bà nhìn về phía cửa nhà ngang, nơi cô Hai Kim vừa bị đuổi vào, rồi nhìn ra sân, chỗ Tí và ông Tư Ất bị kéo đi, mặt bà tái đi thấy rõ. Trong đầu bà hiện lên cái điều mà bà luôn sợ nhất: lỡ cô Hai Kim chửa hoang thì sao, lại còn với một thằng thợ khố rách áo ôm trong lò.

Ông Hội đồng Quyền vẫn không đổi sắc mặt. Ông nói tiếp: "Còn hai cha con nhà nó, tôi có cách lo."

Nói rồi ông đưa mắt nhìn thẳng về phía thằng cai. Dù ông không nói tiếp lời nào, nhưng đủ làm bà Hội đồng thấy như trong đầu ông vừa có xong một tính toán.

Ngoài sân, tiếng khóc của Tí bị nhỏ dần sau cổng sắt. Bà con đứng chờ tới lượt ai nấy lại cúi đầu, xếp hàng ngay ngắn. Buổi thu nợ rồi cũng tiếp tục, đều đều, như thể chuyện vừa rồi chưa hề xảy ra.

Trưa hôm đó, sau khi buổi thu nợ đã dứt, sân trước trả lại cái yên lặng như mọi ngày. Ông bà Hội đồng vẫn ngồi trên bộ ván, trước mặt là xấp bạc lẻ, bạc đồng, mấy gói tiền buộc dây, cùng cuốn sổ nợ còn đang mở. Ông Hội đồng đếm chậm rãi, thỉnh thoảng liếc xuống trang giấy để đối chiếu.

"Hôm nay coi bộ đủ nha bà". Ông nói trầm giọng, không ngước lên. "Chỉ thiếu mấy khoản nhỏ thôi".

Bà Hội đồng rà lại từng dòng, lật qua lật lại cuốn sổ, môi mím chặt nhưng khó giấu được vẻ hí hửng. "Thiếu thì thiếu, nhưng vẫn lời. Mấy nhà trả gạo, trả vịt, quy ra cũng không hụt bao nhiêu. Tháng này khỏi phải đi chợ nhiều, trong chuồng lại thêm được mấy con."

Ông Hội đồng khẽ hừ một tiếng, kéo xấp bạc lại gần. "Là nhờ tôi với bà nắm cổ tụi nó. Chứ không là tụi nó quen thói."

Bà Hội đồng gật đầu, tay dừng lại ở một trang giấy. "Tháng này lò gạch coi bộ lời hơn tháng trước. Tiền cứ vô đều đều nè ông."

Ông Hội đồng mỉm cười, cái cười mỏng mà đắc ý. "Ừ, đúng rồi, cả vùng này chỉ có một cái lò gạch nhà mình, thách đứa nào dám chen vô mà cạnh tranh. Tháng trước tôi vừa nhận thầu gạch cho ông Tỉnh lý. Công trình đó mà xong, cái nhà này lại có thêm của ăn của để." Ông xếp gọn xấp bạc, cột lại bằng sợi dây bố, đặt ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ.

Dưới nhà dưới, đám người làm chia nhau kiểm lại những thứ dân đem tới trừ nợ như thúng gạo, con vịt, mớ dừa khô, vài món lặt vặt khác, vừa đếm vừa ghi lại, tiếng lách cách vang đều, nghe như kéo dài cái dư âm của buổi thu nợ vừa rồi.

Cô Hai Kim khẽ từ trong phòng bước ra. Áo bà ba màu nhạt, tóc bới gọn, mặt còn vương chút căng thẳng của chuyện khi sáng. Cô ghé lại bên bộ ván, hạ giọng xin phép, như sợ làm phiền ông bà Hội đồng. "Dạ thưa ba má, chiều nay con rủ Nhàng qua chơi..."

Ông Hội đồng Quyền đang đếm tiền nghe con gái xin phép thì ngước lên nhìn con gái, ôg hừ một tiếng rồi lại cúi xuống.

Bà Hội đồng thì nhìn chằm chằm vô cô Hai Kim, lên giọng: "Qua thì qua. Mà tụi bây con gái con đứa, ra đường phải biết giữ ý tứ. Đi tới nơi về tới chốn, đừng để người ta có cớ nói vô nói ra..."

Hai Kim cúi đầu, đáp dạ gọn. "Dạ. Con qua rủ Nhàng, rồi tụi con làm bánh thôi má."

Ông Hội đồng lúc đó mới lên tiếng. Ông không hỏi thêm, chỉ lên giọng: "Thằng Sửu."

Một thằng người làm từ ngoài hiên chạy vô, đứng nép mé cột. "Dạ, thưa ông."

Ông Hội đồng gật nhẹ về phía cửa. "Mày đưa cô Hai qua nhà thầy Ký Lục, rồi chở cô Hai với cô Nhàng về lại đây."

Bà Hội đồng nghe tới đó thì liếc qua chồng một cái. Cái nhìn vừa đủ để hiểu ý của chồng, rồi lại cúi xuống sổ như không có chuyện gì.

Ở gần đó, cậu Ba Nghĩa đang đứng tựa cột, tay vọc vọc cái nắp ấm trà. Nghe tới tên Nhàng, cậu khựng lại một nhịp, rồi làm như không có gì, quay ra ngó hồ cá.

Ông Hội đồng Quyền ngồi im một lúc, rồi hỏi cậu Ba. "Thằng Ba, mày có tính đi học nữa không?"

Cậu Ba giật mình, vội đáp. "Dạ, thôi, con đi học thấy chán lắm"

Ông Hội đồng cười khẽ. Giọng ông trầm, tỉnh bơ: "Mày không ham học nữa thì thôi. Giờ cứ đi theo tao ra ruộng, xuống lò. Làm chủ thì ra dáng làm chủ, học chữ Tây cho biết đọc là cũng đủ rồi."

Ông hừ một tiếng rồi nói với vợ mình: "Bà cũng lo tính đi. Thằng Ba phải có vợ thì nó mới chịu yên ổn, rồi mới biết mà tập trung mà làm ăn."

Bà Hội đồng hùa theo: "Phải đó ông. Nó mà cưới vợ, có người kè kè bên cạnh thì mới bớt la cà, bớt tụ năm tụ bảy được".

Ông Hội đồng gật gù, nhưng nói ngay, không cần suy nghĩ. "Mà khoan, giờ lo con Hai trước đi. Con gái lớn mà cứ để trong nhà hoài, để mai mốt lên tỉnh, tôi hỏi dò mấy ông bạn coi chỗ nào được. Tống nó đi ngày nào hay ngày đó."

Ông ngừng một chút, rồi nói tiếp. "Còn bà phải lo dạy nó thêu thùa, bếp núc. Rồi dạy thêm vài chữ Nho cho biết lễ nghĩa là đủ. Chứ cho học ba cái chữ Tây làm gì cho uổng tiền."

Bà Hội đồng nghe tới đó thì gật đầu cái rụp, mặt bà thoáng tái đi. Trong bụng bà nghĩ tới chuyện cô Hai Kim với thằng Tí ngoài lò gốm, rồi bà nghĩ tới cái việc mà bà sợ nhất, là con gái bà có chửa hoang.

Còn ông Hội đồng xếp lại xấp bạc, đứng dậy, gọi thằng cai ra bằng một cái hất cằm. Hai người đi vòng ra vườn sau, chỗ khuất gió, sát dãy kho và lối xuống lò gạch.

Thằng cai đứng nép một bên, cúi đầu nghe ông dặn dò, miệng vâng dạ liên hồi. Cây ba toong trong tay ông Hội đồng gõ cộc một cái xuống nền, coi như đã dặn dò xong.

Thằng cai gật đầu lia lịa, miệng nhoẻn cười khoái chí. Nó quay phắt ra ngoài, bước nhanh mất hút qua lối xuống lò gạch.

Ông Hội đồng trở vô nhà trên cùng vợ, khóe miệng ông mỉm cười, như cái vui của người vừa mua được món hời với giá rẻ mạt. Ông leo trở lên bộ ván quen thuộc, kéo cây ba toong lại sát bên, rồi ung dung cầm cuốn sổ lên, tiếp tục lật từng trang, coi lại những khoản tiền vừa thu được.

---

Chiều xuống, xe kéo của thằng Sửu lăn cót két ngoài đường rồi dừng trước cổng sắt. Cô Hai Kim bước xuống trước, vén nhẹ vạt áo, quay lại đỡ Nhàng bước xuống cho khỏi vấp. Hai người vốn bằng tuổi nhau, nhưng Hai Kim sinh đầu năm, Nhàng sinh cuối năm, nên nhìn Hai Kim có phần chững chạc hơn, lúc nào cũng xưng chị, gọi Nhàng là em cho phải lẽ. Chuyện Nhàng qua nhà ông Hội đồng Quyền chơi là chuyện thường ngày, người làm thấy cũng chỉ liếc một cái rồi ai lo việc nấy, quen mắt từ hồi nào chẳng hay. Nhàng đẹp theo kiểu không cần phấn son. Da trắng hồng, môi ửng đỏ, mắt sáng hiền. Dáng cao vừa, người đầy đặn vừa đủ.

Hai cô vô bếp làm bánh như mọi lần. Mùi trứng, mùi sữa, mùi dừa thơm ngọt làm tâm trạng của Hai Kim bớt nặng nề hơn. Hai Kim vừa rây bột vừa kể lại chuyện hồi sáng với giọng run run, gương mặt buồn rười rượi. Kể tới đoạn ông Tư Ất bị đánh, Tí quỳ xin giữa sân, giọng cô nhỏ dần, như sợ mấy có người nghe thấy.

Một hồi, Hai Kim thở dài, buông cái rây xuống, nói khẽ như tự nói với mình: "Chị cũng không biết rồi chuyện của chị với ảnh sẽ ra sao nữa. Nhà ảnh thì nghèo, lại mồ côi mẹ… không biết ba má chị có chịu ưng không."

Nhàng nghe tới đó thì khựng tay, quay sang nhìn bạn. Cô đưa tay chạm nhẹ vai Hai Kim, vuốt một cái thật khẽ, như an ủi. Một lúc sau Nhàng mới nói nhỏ: "Em thấy… ảnh thương chị thiệt. Còn chuyện ba má chị, từ từ rồi tính."

Hai Kim cúi đầu, mím môi, không đáp. Tiếng than trong lò bếp lép bép nghe rõ hơn, như thay cho những điều cô không dám nói ra.

Đúng lúc đó, cậu Ba Nghĩa lò dò bước vô bếp. Hai Kim đang nói tới giữa chừng thì khựng lại, như bị ai bóp ngang cổ. Cô giật mình, mắt chớp liền mấy cái, rồi lập tức lảng qua chuyện khác, hỏi Nhàng bánh này thêm dừa được không, lò than có đủ nóng không, như thể nãy giờ chỉ đang nói chuyện vê việc làm bánh.

Cậu Ba giả bộ ngó nghiêng, hỏi chuyện lung tung mà mắt thì liếc hoài về phía Nhàng. Cô Hai Kim gắt nhẹ: "Ba Nghĩa, em ra chỗ khác đi, đứng đây hoài làm gì."

Cậu Ba cười gượng: "Thì... em coi mấy chị làm bánh thôi."

"Coi gì mà coi. Lo lên phụ ba má đi."

Cậu đi ra, nhưng không đi quá xa. Cậu đứng khuất ở hành lang, chỗ có cột gỗ che bóng, tiếp tục dõi theo căn bếp.

Trong lúc làm bánh lá mít, Hai Kim hấp tấp làm đổ chén nước cốt dừa lên áo xuyến xanh da trời của Nhàng. Hai Kim hốt hoảng: "Trời ơi, chị vụng quá. Thôi em vô phòng chị thay cái áo khác đi."

Nhàng ngại: "Thôi... Em sợ làm dơ phòng chị."

Hai Kim kéo tay: "Dơ gì. Chị em mà."

Nhàng theo vô phòng. Hai Kim quay lại bếp. Cậu Ba Nghĩa lúc đó lặng lẽ đi theo hành lang, bước chân khẽ tới mức con mèo nằm ở góc hiên cũng không buồn ngước.

Cậu đứng nép sau cột gỗ, mắt liếc về cánh cửa vừa khép lại. Từ trong phòng vọng ra tiếng sột soạt của người cởi đồ. Cậu Ba nuốt nước bọt, rồi tự dưng thấy mặt nóng ran. Cậu đưa tay định gõ, nhưng ngón tay vừa chạm vô khung cửa đã rụt lại liền.

Cậu đứng nép sau cột, rồi lén tìm một khe hở nhìn vô, trong khe hở ấy, cậu bắt gặp Nhàng đang thay áo, dáng người chập chờn qua khe cửa, đủ để đầu óc cậu nóng lên, tim đập thình thịch như đang làm chuyện có tội. Cậu đứng chết trân ngoài khe hở, vừa ham muốn vừa sợ, rồi tự dưng rùng mình như cả hồn vía mình cũng bị kéo theo vào trong phòng. Cậu quay phắt đi, bước lẹ về phòng, cố đi cho nhanh như sợ chỉ cần chậm một chút thôi là sẽ bị bắt gặp ngay tại chỗ.

Từ lâu rồi, hình bóng Nhàng đã lẩn quẩn trong đầu cậu Ba. Cứ hễ nghe tiếng xe kéo lăn cót két ngoài cổng, biết chị Hai rước Nhàng qua, là ruột gan cậu lại không chịu yên. Cậu chỉ dám lảng vảng quanh hiên, giả bộ hỏi chuyện cái này cái kia, để kiếm một câu nói với Nhàng cho lòng cậu đỡ bứt rứt.

Nhưng lần nào cũng vậy, chị Hai Kim kè kè bên Nhàng như một cái bóng, thành ra cậu chỉ còn cách nhìn lén từ xa, nhìn một cái rồi lại vội quay đi. Đêm nào cũng vậy, nằm nghe nước non bộ róc rách ngoài sân, nghe gió lùa qua vách, cậu cứ nghĩ bâng quơ: "Ra giêng, mình cứ nói với ba má một tiếng, xin cưới chị Nhàng cho xong".

Nghĩ tới đó, khoé miệng cậu tự dưng muốn cười, rồi lại vội quay mặt vào bóng tối, như sợ chính mình cũng nghe thấy.

---

Rồi một bữa tối, khi cả nhà ông Hội đồng ngồi trong phòng ăn. Người làm bưng từng món lên, đặt xuống bộ ván lớn cho ngay ngắn rồi lặng lẽ lui ra, đứng nép sát vách chờ sai bảo. Chén bát sứ trắng xếp thẳng hàng, nồi canh còn bốc hơi, mùi cá kho, mùi mỡ hành quyện với mùi cơm nóng làm căn phòng dịu xuống sau một ngày nặng nề. Ông Hội đồng ngồi đầu mâm, tay cầm đũa nhưng chưa đụng tới. Bà Hội đồng, cô Hai Kim và cậu Ba đều ngồi yên, không ai dám gắp trước. Phải đợi tới khi ông gắp miếng đầu tiên, mấy người kia mới lần lượt cầm đũa.

Cậu Ba nhìn ông bà Hội đồng, nhìn chị Hai Kim rồi nói: "Ba má, con muốn cưới vợ."

Cô Hai Kim bật cười vì bất ngờ: "Trời đất, em Ba muốn cưới ai, nói nghe coi."

Bà Hội đồng liếc con trai một cái: "Ừ, tao với ba mày cũng đang tính chuyện đó cho mày đây."

Ông Hội đồng đang định ăn cơm thì đặt chén xuống, giọng không cao không thấp: "Mày tính cưới ai."

Cậu Ba nuốt nước bọt, nói: "Con không thích đi học nữa. Con sẽ theo ba ra ruộng, xuống lò, ở nhà nối nghiệp. Nhưng con muốn có vợ cho yên thân... với lại con thích người này..."

Bà Hội đồng nghe vậy thì cười nhẹ: "Cái thằng, nói chuyện nghe gọn hơ, đúng ý tao đó".

Ông Hội đồng gật đầu một cái rất khẽ, coi như chấp nhận yêu cầu của cậu Ba. Rồi ông hỏi tiếp: "Đừng có vòng vo, mày nhắm con nào."

"Con muốn cưới Nhàng."

Trong mâm cơm tự nhiên lặng đi. Ngoài sân, tiếng nước trong hồ non bộ róc rách nghe rõ mồn một. Cô Hai Kim ngẩng lên, hơi sững người lại rồi hỏi: "Là... Nhàng đó hả."

Bà Hội đồng nhíu mày: "Con nhỏ đó là con thầy Ký Lục, gia cảnh cũng đàng hoàng, nhưng lớn hơn mày, lại thân với chị mày nữa, mày coi ổn không?"

Ông Hội đồng chống tay lên mặt bàn, suy nghĩ một chút rồi nói, giọng chậm rãi: "Ừ, nhà thầy Ký Lục cũng là chỗ qua lại với nhà mình từ đời trước. Nhà đó biết điều, không phải hạng lộn xộn. Thôi thì cũng được, cưới về để trong nhà cũng yên tâm."

Cậu Ba vội nói: "Dạ, thì con chỉ cần vậy thôi."

Bà Hội đồng quay qua nhìn chồng, thấy ông không từ chối, bà cũng dịu xuống: "Rồi, miễn nó biết giữ nết, ở trong nhà lo cho chồng là được."

Cô Hai Kim lúc này mới lên tiếng, giọng chậm rãi hơn, như đã nghĩ kỹ: "Dạ, ba má, con với Nhàng cũng thân nhau từ nhỏ. Nó hiền, có nó ở chung nhà, con cũng có người bầu bạn, tâm sự."

Ông Hội đồng nghe xong thì hừ nhẹ một tiếng trong mũi. Ông nhìn con gái một cái rồi nói, giọng trầm mà dứt khoát: "Tao cũng đang tính đường cho mày. Con gái lớn rồi, đâu có giữ hoài trong nhà được."

Cô Hai Kim hơi giật mình. Cô mím môi, định lên tiếng, trong đầu đã loáng thoáng nghĩ tới chuyện của mình với Tí, định thưa ra cho ba má biết.

Nhưng ông Hội đồng đã cắt ngang, giọng nặng hẳn xuống: "Chuyện này để tao với má mày tính. Phải môn đăng hộ đối, làm sao cho nở mặt nở mày dòng họ. Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó. Cấm có cãi."

Mấy chữ cuối ông nói chậm, rõ, từng chữ như đè xuống bàn ăn. Cô Hai Kim nghe mà tim thót lại, người cứng ra như bị ai chạm trúng chỗ hiểm. Cô cúi đầu xuống, không dám thưa thêm tiếng nào nữa.

Ông Hội đồng đứng dậy, nhìn ra hồ cá ngoài sân. Ông đứng nhìn mặt nước rung nhẹ một hồi rồi quay vào mà nói: "Bà à, mai mốt kêu bà mai qua hỏi nhà thầy Ký Lục thử."

Cậu Ba Nghĩa thở ra một hơi dài, như trút được một gánh trong lòng. Cả nhà khi đó mới lặng lẽ cầm đũa, bữa cơm bắt đầu trong cái yên lặng nặng nề. Chỉ có cô Hai Kim là ngồi cúi mặt, trong lòng cô nặng trĩu vì những điều chưa kịp nói, cũng không dám nói ra.

---

Bên xóm Cái Nhum, nhà ông Tư Ất nằm tách hẳn ra khỏi khu dân cư, lọt thỏm trong một khoảng đất thấp sát mé sông. Con nước lớn ròng lên xuống ngay trước nhà, ban đêm có thể nghe rõ tiếng nước vỗ bờ ì oạp. Vách lá đã mục, mái tôn lủng lỗ chỗ, mưa lớn là nước dột xuống như có người lấy gáo tạt. Cái nghèo ở nhà đó thì ai cũng biết, nhìn quanh chỉ có cái bàn thờ bà vợ quá cố đặt sát vách, lư nhang cũ, hai cây đèn dầu lúc tỏ lúc mờ.

Trưa hôm ấy, Tí dìu được ông Tư Ất về tới nhà thì ông đã kiệt sức, người rũ ra như tàu lá héo. Anh và con Mùi vừa khóc vừa đỡ tía nằm lên bộ ván tre, chạy ngược chạy xuôi cầu cứu. May có ông thầy thuốc già trong xóm thương tình, bốc cho mấy thang thuốc bổ cho uống cầm hơi. Nhưng sức tàn lực kiệt, ông Tư Ất uống được vài hớp thì lịm dần, nằm liệt giường, hơi thở đứt quãng.

Suốt mấy ngày ông Tư Ất nằm đó, Tí vẫn phải cắn răng lê thân ra lò gạch làm lụng kiếm tiền. Ở nhà, chỉ còn con Mùi thui thủi sắc thuốc, châm đèn, canh chừng từng nhịp thở yếu ớt của ông. Ông Tư Ất vốn lấy vợ muộn, cực khổ cả đời mới có được hai mụn con thì vợ lại bỏ mình mà đi. Từ đó, ông vừa làm cha vừa làm mẹ, còng lưng ngoài ruộng rồi lại vùi mình trong lò gạch để trả nợ trả lời, như con dã tràng xe cát, chẳng thấy ngày nào được ngơi nghỉ.

Tối hôm ấy, Tí vừa đi làm về, bước chân tới cửa đã nghe tiếng khóc xé lòng từ trong phòng vọng ra. Con Mùi nằm ôm lấy ông Tư Ất trên bộ ván, người run lên bần bật. Ông đã sớm cứng đờ, hai tay buông thõng, đôi mắt trừng trừng nhìn lên mái tôn thủng lỗ chỗ như đang uất hận điều gì đó. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ vợ ông chập chờn, khói nhang mỏng tang, căn nhà lạnh lẽo đến rợn người.

Mùi thấy anh thì òa lên: "Anh Tí... tía chết rồi anh Tí ơi!"

Anh đứng sững, đôi bàn tay lấm lem đất sét run lên. Một khối nghẹn đắng chẹn ngang cổ họng. Nỗi đau chưa kịp thấm thì cơn uất hận đã trào dâng đỏ cả mắt. Anh nghiến răng, tiếng rít qua kẽ răng ken két: "Khốn nạn cái nhà ông Hội đồng! Tụi nó ăn trên xương máu, vắt kiệt sức người ta tới lúc chết vẫn không tha. Cái luật nợ lãi chó má..."

Mùi hoảng sợ, níu chặt vạt áo anh: "Anh Tí... thôi anh... đừng nói nữa..." Cô bé ngước mắt nhìn anh, giọng run rẩy: "Còn chuyện anh với cô Hai... giờ sao anh?"

Tí chưa kịp trả lời thì ngoài sân vang lên tiếng lá khô rên rỉ dưới gót giày. Lạt xạt... lạt xạt. Gió bất thần tạt mạnh, cánh cửa tre kêu cọt kẹt một hồi dài. Từ bóng tối đặc quánh, những bóng người trùm khăn kín mít lao vào như những con thú săn đêm. Tay đứa nào cũng lấp loáng gậy gộc, dao ngắn, búa tạ.

Chưa kịp hiểu chuyện gì, Mùi đã bị một bàn tay thô ráp quật ngã ra sau. Tí vừa định xông lên thì một cú búa từ bên hông giáng xuống đầu. Mắt Tí lóe trắng rồi sụp đổ vào bóng tối đặc. Anh đổ gục xuống nền đất, tai ù đặc. Những bàn tay hộ pháp đè sấp anh xuống, dây thừng siết mạnh, trói quặt hai tay anh ra sau như trói một con vật. Chúng kéo anh lết trên nền đất, quăng xịch vào góc nhà nhẹ tênh như quẳng một bao lúa lép.

Một tên cúi sát giường, liếc qua xác ông Tư Ất rồi cười khàn khàn: "Ông già nghẻo rồi." Kẻ đang giữ Mùi hất hàm, giọng đầy tà ý: "Con nhỏ này cũng ngon ghê tụi bây." Hắn cười khẩy, cái cười khô khốc không chút tính người.

Tên chỉ huy đứng trong bóng tối khoát tay, giọng lạnh tanh: "Làm cho lẹ đi. Ông dặn xử lý cả hai cha con. Thằng cha xong rồi, còn thằng con... lát quăng nó xuống sông."

Hắn bước tới gần Tí, mũi dao lấp loáng trước mắt anh. Hắn rít qua kẽ răng: "Mày là hạng đỉa đói mà dám mơ bám chân hạc hả con?".

Tí rên lên khi nhận ra giọng nói quen thuộc. Anh nghiến răng, hơi thở đứt quãng: "Là mày... thằng chó... tao giết mày..."

Từ phía buồng trong, tiếng kêu thất thanh của Mùi vang lên rồi đột ngột bị dập tắt bởi một bàn tay hộ pháp. Tí nằm ngoài sân, mắt trợn trừng, người giãy giụa trong sợi dây siết da thịt khi nghe tiếng vải vóc bị xé rách xoèn xoẹt.

Bên trong, Mùi bị quẳng xuống tấm phản gỗ . Ánh sáng từ ngọn đèn dầu lụi bớt, chỉ còn những bóng đen vây quanh cô bé như lũ kền kền rình mồi. Một tên có thân hình hộ pháp đè sụp lên người Mùi. Cô bé hoảng loạn, hai tay quào cấu vào không trung, đôi chân gầy guộc đạp loạn xạ nhưng tất cả đều trở nên vô vọng trước sức mạnh của những gã đàn ông thú tính.

Tiếng la thất thanh của Mùi từ trong buồng vọng ra, xé toạc cái không khí u uất của đám tang chưa kịp tiến hành. Tên chỉ huy vốn đang đứng dựa cột đầy vẻ lạnh lùng bỗng khựng lại. Nghe tiếng vùng vẫy và tiếng khóc nức nở của một thiếu nữ đang độ xuân thì, đôi mắt hắn dưới lớp băng bịt mặt chợt lóe lên một tia dục vọng tàn ác. Hắn liếm môi, cảm thấy một luồng hưng phấn kỳ quái chạy dọc sống lưng.

Không nói một lời, hắn hất tay đẩy hai tên đàn em đang đứng chắn lối, sầm sập bước vào trong buồng. Tí nằm ngoài sân, mắt trợn ngược, nghe thấy tiếng Mùi gào lên đau đớn rồi lịm đi sau một tiếng "chát" khô khốc của cú tát. Trong gian buồng chật chội, mùi đất ẩm và hơi thở dồn dập của tên chỉ huy quyện vào nhau. Hắn thô bạo vùi dập thân hình nhỏ bé của Mùi, bỏ mặc tiếng rên rỉ yếu ớt và đôi tay gầy guộc của cô bé đang cào cấu trong tuyệt vọng vào tấm phản gỗ mục.

Một lúc sau, hắn thong thả bước ra, tay thản nhiên cài lại vạt áo, miệng không ngừng cười hềnh hệch. Hắn đi thẳng tới chỗ Tí đang nằm co quắp, cúi thấp người xuống để anh nhìn rõ đôi mắt đầy vẻ thỏa mãn của mình. Hắn giơ tay, vỗ bộp bộp vào chỗ háng của mình một cách trơ trẽn, rồi rít qua kẽ răng bằng giọng đê tiện: "Mày nhìn cái gì? Tao nói cho mày biết, con em mày... 'ngon' lắm! Da dẻ mướt rượt, thảo nào mày giữ khư khư trong nhà."

Hắn nhổ một bãi nước bọt xuống nền đất ngay sát mặt Tí, rồi hất hàm ra hiệu cho đám lâu la đang đứng chầu chực bên ngoài: "Thằng cha chết rồi, thằng anh cũng sắp đi theo. Tụi bây vô đi, đứa nào muốn 'thử' thì lẹ tay lẹ chân. Coi như phần thưởng tao ban cho tối nay."

Đám đàn em nghe lệnh thì cười ồ lên như lũ quỷ đói. Chúng chen lấn, xô đẩy nhau xông vào gian buồng tối tăm nơi Mùi đang nằm bất động. Những tiếng cười hô hố, tiếng lột đồ sột soạt và tiếng rên rỉ xé lòng lại một lần nữa vang lên, chồng chéo lên nhau. Tí nằm đó, toàn thân rung lên bần bật vì uất nghẹn, máu từ vết thương trên đầu chảy xuống mắt cay xè. Anh muốn gào lên, muốn xé xác tất cả bọn chúng, nhưng sợi dây thừng và nỗi bất lực bóp nghẹt lấy hơi thở cuối cùng của anh.

Một lúc sau, tiếng cười hô hố phía trong buồng đột ngột tắt lịm, thay vào đó là những tiếng xì xào hốt hoảng. Một tên mặt cắt không còn giọt máu, vừa chạy ra vừa thở dốc, giọng run rẩy: "Anh ơi... chết rồi... con nhỏ chết rồi!"

Tên chỉ huy nghe vậy liền văng ra một câu chửi thề thô tục. Hắn không hề mảy may hối hận về mạng người vừa nằm xuống, chỉ bực dọc vì cuộc vui kết thúc quá sớm. Đôi mắt hắn đảo quanh gian nhà rách nát, rồi dừng lại ở mấy hũ rượu thuốc ngâm rễ cây đặt ở góc nhà. Khóe miệng hắn nhếch lên một nụ cười hiểm độc.

Tí nằm dưới sàn, nghe tin em chết thì như người hóa dại. Anh gào lên, âm thanh khàn đặc, vỡ nát như bị ai cầm dao xẻ dọc cổ họng. Đôi mắt anh sòng sọc đỏ, nhìn bọn chúng bằng sự uất hận thấu trời xanh. Tên chỉ huy không nói một lời, hắn lẳng lặng bước tới, tay nắm chặt cán búa gỗ. Hắn vung tay, giáng thêm một cú chí mạng vào ngay thái dương Tí.

Một tiếng vang khô khốc dội lên. Cả người Tí giật nảy, bật người lên rồi đổ rạp xuống. Đôi bàn tay lấm lem đất sét co quật đành đạch trên nền đất lạnh, rồi dần dần lịm hẳn, đôi mắt vẫn mở trừng trừng nhìn về phía buồng trong, nơi em gái mình vừa chết.

Tên chỉ huy thản nhiên nhấc hũ rượu lên, dùng chân đá vỡ nắp rồi hắt thẳng thứ chất lỏng nồng nặc mùi cồn lên người Tí. Hắn xách hũ rượu đi vòng quanh, tưới loang lổ lên vách lá khô khốc, lên mái hiên, và cả bộ ván nơi xác ông Tư Ất đang nằm lạnh ngắt. Một mồi lửa được quẹt lên, nhỏ nhoi trong đêm tối nhưng đủ để bùng phát một thảm kịch.

Lửa bén vào rượu, liếm lấy vách nhà nhanh như hổ đói. Chỉ trong chớp mắt, ngọn lửa đỏ rực đã bao trùm lấy gian nhà tre nứa, hắt thứ ánh sáng quỷ dị lên những khuôn mặt bịt kín của lũ sát thủ. Bóng của chúng đổ dài trên nền đất, nhảy múa ngoằn ngoèo như lũ quỷ vừa hoàn thành buổi tế lễ.

Cả bọn lùi ra sân, đứng nhìn căn nhà chìm dần vào biển lửa. Tiếng tre nứa nổ lách tách, tiếng mái tôn bị nhiệt nung nóng đến quằn quại. Giữa làn khói đen kịt và hơi nóng hừng hực, tên chỉ huy từ từ kéo lớp vải bịt mặt xuống. Gương mặt thằng Mạnh nhà ông Hội đồng hiện ra, bình thản đến lạnh lùng. Dưới ánh lửa bập bùng, hắn ra lệnh: "Tụi bây nhớ cho kỹ: Đêm nay thằng Tí đi nhậu về say, đập phá rồi làm đổ đèn đốt nhà. Cả nhà nó chết cháy hết. Rõ chưa?"

Đám lâu la cúi đầu, vâng dạ lia lịa rồi tản ra, mất hút vào bóng tối mênh mông của cánh đồng đêm. Phía sau lưng chúng, căn nhà nhỏ của cha con ông Tư Ất cháy rực một góc trời, thiêu rụi cả xác người lẫn những bằng chứng về một tội ác không dung thứ.



Sáng hôm sau, khi những cột khói cuối cùng chỉ còn là những vệt xám ngoằn ngoèo ám vào bầu trời nhạt nắng, người ta mới dám mon men lại gần đống đổ nát. Căn nhà tranh vách lá giờ chỉ còn là một hố đen ngòm, tro than âm ỉ nóng. Dưới tầng tro xám xịt, người ta bới lên được hai thân hình cháy đen, co quắp lại như những rễ cây già bị nung trong lửa, chẳng còn chút nhân dạng.

Đám lính lệ cưỡi ngựa tới, dáng vẻ nghênh ngang nhưng ánh mắt đầy vẻ tránh né. Chúng xuống ngựa, đứng từ xa lấy khăn che mũi, dùng mũi giày gẩy gẩy vào đống tro tàn một cách chiếu lệ rồi ghi chép vài dòng nghệch ngoạc vào sổ tay. Quan phán một câu xanh rờn, rập khuôn đúng kịch bản đã được soạn sẵn từ trong dinh thự nhà ông Hội đồng: "Thằng Tí say rượu, đập phá lung tung làm đổ đèn dầu, dẫn đến hỏa hoạn cháy sạch cả nhà."

Tuyệt nhiên, chẳng một ai đủ can đảm để thắc mắc vì sao nhà có ba người mà chỉ thấy hai cái xác cháy. Bởi lẽ, cái gia đình ông Tư Ất nghèo khổ bấy lâu nay trong mắt người dân xứ này cũng chỉ như một cái bóng mờ bên lề xã hội.

Người ta bắt đầu râm ran, những tiếng xầm xì về mối tình dang dở của cô Hai Kim, về sự độc ác của nhà ông Hội đồng, nhưng rồi cũng như khói bếp, những lời ấy tan biến rất nhanh. Ở cái xứ này, chạm đến nhà ông Hội đồng chẳng khác nào chạm tay vào lưỡi hái tử thần. Câu chuyện về gia đình ông Tư Ất trôi vào quên lãng, như thể họ chưa từng tồn tại trên đời.
 
Sửa lần cuối:

Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng


Buổi chiều hôm đó, sau buổi dạy học trò trở về, thầy Ký Lục thay áo, rửa tay, rồi theo thói quen ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ cũ ngoài gian trước để uống trà.

Trà trong ấm đã rót ra được hai lượt, khói mỏng bay lên rồi tan mất giữa gian nhà rộng nhưng trống trải. Thầy ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, hai tay chắp hờ trước chén trà, dáng một người đã quen giữ lễ nghĩa cả đời. .

Phía sau nhà, trong gian bếp ám khói, vợ thầy – bà Bảy Lệ và Nhàng đang lo cơm chiều. Tiếng dao chạm thớt đều đều, mùi lửa rơm quyện mùi canh sôi nhè nhẹ, những âm thanh rất quen của một mái nhà bình thường. Thầy không ngoái nhìn ra sau, nhưng trong lòng biết rõ từng nhịp sinh hoạt ấy, như thể chỉ cần quay đầu lại là thấy vợ và con gái mình đang cúi mặt nhóm bếp.

Đôi mắt thầy nhìn xuống mặt trà, không nhìn ra ngoài sân, nơi nắng chiều đang tắt dần. Trong ánh mắt ấy có một nỗi lo âm ỉ, từ sáng đến giờ, lòng thầy đã không yên, như thể đang chờ một người sẽ đến, mang theo chuyện không vui mà thầy đã lờ mờ đoán trước.

Tiếng dép bước ngoài hiên vang lên khe khẽ. Bà Dậu, nổi tiếng với việc mai mối bước vào, dáng người gọn gàng, cách nói chuyện vừa mực của người quen đi lại giữa các nhà quyền thế. Bà dừng lại nơi ngưỡng cửa, cúi đầu chào cho phải lễ rồi mới cất giọng: “Thưa thầy Ký Lục, tôi qua đây theo lời nhờ của bên nhà ông hội đồng Quyền.”

Thầy Ký Lục khẽ khựng lại. Chén trà trên tay dừng giữa chừng, rồi được đặt xuống bàn thật nhẹ. Thầy ngẩng lên nhìn bà Dậu, ánh mắt vẫn ôn hòa, nhưng vẫn đề phòng rất kín kẽ.

“Bên đó nhờ bà qua, chắc không phải chuyện nhỏ” thầy nói chậm rãi.

Bà Dậu gật đầu, tiến thêm một bước rồi mới thưa tiếp: “Dạ, chuyện là cậu Ba Nghĩa, con trai độc nhất của ông bà hội đồng, có để mắt tới con gái thầy. Bên đó muốn tôi sang hỏi chuyện mai mối, xem ý nhà mình thế nào.”

Thầy Ký Lục đưa tay vuốt nhẹ mép chén trà, như giữ cho giọng mình khỏi run. Ông nói: “Thôi, mời bà Dậu vào nhà ngồi nói chuyện cho phải lẽ.”

Rồi ông ngẩng lên, cất giọng lớn hơn thường ngày, gọi vọng về phía sau bếp: “Bà nó ơi, có khách, mình lên đây tiếp chuyện cho phải phép. Con Nhàng pha cho ba ấm trà mới.”

Chỉ một lát sau, bà Bảy Lệ từ gian bếp bước lên. Bà thoáng giật mình khi thấy bà Dậu đã an tọa đối diện chồng mình, dáng ngồi thẳng thớm, tay đặt gọn trên đầu gối. Dù bất ngờ, bà vẫn giữ lễ, cúi đầu chào khách rồi lặng lẽ ngồi xuống bên thầy.

Nhàng theo sau, hai tay bưng khay trà mới pha, hương trà còn nghi ngút. Khi cô vừa đặt chén xuống, bà Dậu ngước lên nhìn Nhàng chằm chằm, ánh mắt dò xét không giấu giếm, khóe miệng nhếch lên một nụ cười, nửa như khen, nửa như đã tính toán xong điều gì đó.

Thầy Ký Lục thoáng liếc nhìn con gái, như đã hiểu ý. Ông hắng giọng, nói chậm rãi nhưng dứt khoát: “Con ra sau bếp lo cơm nước tiếp đi. Để ba với má ở đây tiếp bà Dậu.”

Nhàng khẽ cúi đầu dạ nhỏ một tiếng, rồi xoay người bước đi. Vừa bước về phía gian bếp, trong đầu cô chợt dấy lên một thắc mắc mơ hồ nhưng nhói buốt: vì sao bà Dậu lại đến nhà cô, lại nhìn cô bằng ánh mắt như vậy?

Thầy Ký Lục đợi vợ rót trà cho khách, rồi mới nói tiếp, giọng đã trầm lại: “Thưa bà, nhà tôi với nhà hội đồng, quả có quen biết từ đời trước. Ân tình cũ tôi không dám quên.”

Bà Dậu khẽ nghiêng người, tưởng như câu chuyện đã xuôi theo hướng mình được giao phó.

Nhưng ông nói tiếp, giọng vẫn đều: “Chỉ có điều, con Nhàng nhà tôi đã có đính ước từ lâu với cậu Vĩnh, con ông Hương Sư ở Âu Môn, Cần Thơ. Hai nhà đã hẹn là chờ cậu ấy học hành xong bên Tây, về nước rồi mới tính chuyện cưới hỏi.”

Bà Dậu hơi ngập ngừng, đưa tay nâng chén trà lên rồi lại đặt xuống, giọng hạ thấp nhưng từng chữ nghe rõ ràng: “Thưa thầy, tôi nói thật, nhà hội đồng Quyền xưa nay trong vùng muốn gì cũng được. Chuyện họ đã để mắt tới, e là không nên xem thường. Tôi chỉ sợ nhà mình… khó mà tránh khỏi phiền phức.”

Thầy Ký Lục ngước lên, ánh mắt điềm tĩnh nhưng đã có nét cứng cỏi. “Tôi hiểu ý bà. Nhưng hôn ước của con Nhàng với cậu Vĩnh đã định rồi. Hai nhà đã nói rõ với nhau, không thể thay đổi. Mong bà về nói lại với ông bà hội đồng, tìm mối khác cho cậu Ba.”

Bà Bảy Lệ ngồi bên cạnh khẽ tiếp lời, giọng nhỏ nhưng dứt khoát: “Dạ phải đó bà. Với lại cậu Ba nhỏ hơn con Nhàng một tuổi, hai đứa từ trước tới giờ chỉ xem nhau như chị em. Con Nhàng lại thân với cô Hai Kim, chuyện cưới xin kiểu này… e là không tiện.”

Bà Dậu nghe xong, khóe miệng lại nhếch lên nụ cười. Bà gật gù, nhưng giọng đã khác: “Tôi hiểu lòng của thầy. Chỉ là… chuyện này, sợ rằng nói một lần chưa chắc đã xong với ông bà Hội đồng.”

Thầy Ký Lục im lặng một lúc, như cân nhắc từng chữ. Rồi ông chậm rãi nói, giọng vẫn giữ đúng mực của người có học: “Việc hôn nhân cũng như trồng cây, gieo rồi thì phải chờ ngày ra trái. Giữa chừng mà nhổ đi, không những cây chết, mà đất cũng chẳng còn lành. Con Nhàng nhà tôi đã có nơi có chốn, chuyện này mong bà hiểu cho, xin phép cho nhà tôi được giữ trọn chữ tín. Từ xưa ông bà có dạy: nhân bất tín thì bất lập."

Nghe tới đó, sắc mặt bà Dậu đổi hẳn. Nụ cười ban nãy tắt đi, ánh mắt thoáng chùng xuống. Bà hiểu, lời đã nói tới mức này thì không còn đường xoay chuyển. Bà đặt chén trà xuống, đứng dậy chỉnh lại vạt áo, cúi đầu thưa: “Dạ, thầy đã nói vậy, tôi cũng không dám làm khó thêm. Thôi cho tôi xin phép về.”

Ra tới cửa, bà Dậu còn dừng lại, quay đầu nói thêm một câu, giọng không cao nhưng đủ nghe: “Tôi sẽ về bẩm lại đầy đủ với ông bà hội đồng Quyền. Chuyện sau này thế nào, tôi không biết.”

Khi bà Dậu vừa khuất bóng ngoài hiên, bà Bảy Lệ mới thực sự tái mặt. Bà quay sang chồng, giọng hạ thấp nhưng không giấu được lo lắng: “Chuyện này là sao vậy ông? Sao tự nhiên nhà đó lại để ý tới con Nhàng?”

Thầy Ký Lục thở ra một hơi dài, như thể từ nãy đến giờ mới được phép buông lỏng. Ông đưa tay xoa trán, giọng chậm lại: “Tôi đã nói với bà từ trước, đừng cho con Nhàng qua lại bên đó nhiều. Hồi xưa, thầy mẹ tôi có quen biết với nhà hội đồng Quyền, qua lại cũng không ít. Nhưng rồi từ khi xảy ra vài chuyện… thầy tôi trước lúc qua đời có dặn, nhà đó thì nên giữ khoảng cách, đừng thân quá.”

Bà Bảy Lệ sững người. “Có chuyện gì mà thầy của ông lại dặn như vậy?”

Thầy Ký Lục im lặng giây lát, rồi nói nhỏ hơn, như sợ chính lời mình cũng nghe thấy: “Tôi chỉ nghe truyền lại thôi. Người ta đồn rằng cái nhà đó… rồi sẽ phải gánh một thứ quả báo rất nặng.”

“Quả báo?” bà lặp lại, giọng khẽ run.

“Ừ. Chỉ là tin đồn, không ai dám nói ra miệng. Mấy năm nay bà cũng nghe đó thôi, quanh nhà hội đồng lúc nào cũng râm ran chuyện ma quỷ, lời nguyền. Nhưng trong vùng này, ai dám đem mấy chuyện đó ra mà nói với nhau".

Bà ngập ngừng một chút rồi tiếp: “Hôm qua tôi ra chợ, người ta còn xì xào chuyện nhà ông Tư Ất ở miệt Cái Nhum. Nghe đâu con trai nhà đó qua lại với cô Hai Kim, rồi chẳng hiểu sao cả nhà chết cháy trong một đêm…”

Chưa nói hết câu, thầy Ký Lục đã khoát tay ngăn lại. “Thôi, mấy chuyện đó bà đừng có đem ra nói nữa. Nói ra nói vô, lỡ tới tai nhà hội đồng thì chỉ rước họa vào thân.”

Nói rồi, thầy gọi lớn: “Nhàng, con lên đây cho ba hỏi chút.”

Nhàng từ gian bếp bước lên, còn vương mùi khói rơm trên áo. Thầy nhìn con gái một lúc, rồi hỏi nhẹ: “Mấy nay thư từ với cậu Vĩnh sao rồi con?”

Nhàng đáp nhỏ: “Dạ, tháng này con chưa thấy ảnh gửi thư. Lần trước ảnh có viết là đang lo học, mọi chuyện đều tốt.”

Thầy Ký Lục gật gù, nét mặt trầm ngâm. “Từ rày, con đừng qua lại bên nhà hội đồng nữa.”

Nhàng tròn mắt. “Dạ… sao vậy ba? Mấy bữa nay cô Hai Kim có chuyện buồn, khóc lên khóc xuống, con hay qua an ủi cô.”

Thầy nhìn con, giọng nghiêm lại: “Ba nói sao thì con nghe vậy đi. Xuống bếp lo cơm tiếp đi.”

Nhàng cúi đầu dạ nhỏ, rồi quay lưng bước đi. Thầy Ký Lục nhìn theo, đến khi bóng con khuất hẳn, mới quay sang vợ, nói chậm rãi: “Chuyện này tôi có linh cảm không hay. Chắc ngày mai tôi phải qua gặp gia đình ông Hương Sư, coi có cách nào làm cho chuyện của hai đứa nó sớm hơn được không.”

Hai vợ chồng không nói thêm gì nữa. Cả hai cùng nhìn ra ngoài vườn, nơi nắng chiều đang tắt dần, ánh sáng cuối ngày trải mỏng trên những tán cây im lìm, như báo hiệu một điều gì đó sắp sửa khép lại.

---

Bên nhà hội đồng Quyền, trời vừa sụp tối. Trong khi cả vùng xung quanh còn chìm dần vào bóng đèn dầu leo lét, riêng gian nhà lớn của hội đồng đã sáng rực ánh đèn điện. Thứ ánh sáng không lay động theo gió ấy làm căn nhà càng thêm lạnh lẽo và khác biệt, như một dấu hiệu rõ ràng của quyền thế mà không nhà nào trong vùng sánh kịp.

Mâm cơm tối được bày ngay ngắn trên chiếc bàn dài. Ông hội đồng Quyền ngồi đầu bàn, tay cầm đôi đũa gác hờ, chưa vội dùng bữa. Ông liếc sang chỗ trống bên cạnh, khẽ cau mày hỏi: “Mấy bữa rày sao không thấy con Hai đâu vậy bà? Nó làm cái gì mà cứ lánh mặt hoài vậy?”

Bà hội đồng đang xới cơm thì dừng tay lại, đáp chậm rãi: “Tôi có hỏi, thì nó nói là có chuyện buồn.”

Ông hội đồng hừ một tiếng, giọng lạnh mà khinh khỉnh: “Đẻ trong cái nhà này, sướng nhứt vùng rồi, còn buồn buồn cái gì nữa?”

Bà hội đồng thở ra, hạ giọng: “Buồn mà lạ lắm ông. Tôi gặng hoài nó cũng không nói. Hôm qua con Nhàng qua chơi, tôi hỏi con nhỏ thử, nó cũng cười trừ, không chịu hé miệng.”

Nghe tới tên Nhàng, cậu Ba Nghĩa ngẩng phắt đầu lên: “Vậy chớ chuyện con với Nhàng, ba má tính sao rồi?”

Bà hội đồng quay sang con trai, nói gọn lỏn: “Rồi. Tao kêu bà Dậu rồi đó. Bà mai mát tay nhứt vùng này, cho bả qua hỏi chuyện nhà thầy Ký Lục.”

Đúng lúc đó, thằng Mạnh ngoài cổng chạy vô, cúi rạp người thưa: “Bẩm ông bà, bà Dậu xin vô thưa chuyện gấp.”

Bà hội đồng giật mình: “Ủa, giờ này mà còn qua nữa hả? Không để mai hẵng nói được sao?”

Ông hội đồng Quyền chậm rãi đặt đũa xuống, nhấp ngụm trà, rồi nói tỉnh bơ: “Thôi, cho bả vô. Để coi bả nói cái gì.”

Bà Dậu bước vô, cúi đầu chào, ngồi nép mép ghế. Ông hội đồng nhìn thẳng, hỏi liền: “Bà Dậu, có chuyện chi? Bên nhà thầy Ký Lục nói sao?”

Bà Dậu làm bộ thở dài: “Thưa ông bà, tôi nói ra e cũng khó nghe, chớ nhà thầy Ký Lục coi bộ không có mặn mà gì với mối này.”

Bà hội đồng nhíu mày: “Không mặn mà là sao?”

“Dạ, thầy nói toàn chuyện chữ nghĩa không hà. Nào là con Nhàng đã có hôn ước với ông Hương Sư, nào là chờ cậu Vĩnh bên Tây về. Nghe ra là coi trọng bên kia hơn.”

Cậu Ba Nghĩa siết chặt đũa: “Ý bà nói là sao?”

Bà Dậu liếc cậu Ba, khóe miệng khẽ cong lên: “Thì thầy nói cậu Ba còn nhỏ tuổi, học hành chưa tới đâu, sợ không xứng với con Nhàng.”

“Chê hả?” ông hội đồng nói khẽ, môi nhếch cười. “Chê con trai nhà này hả?”

Bà Dậu cúi đầu: “Tôi chỉ thuật lại lời người ta nói, chớ thiệt bụng tôi đâu dám nói xấu ai.”

Cậu Ba bật dậy: “Họ tưởng họ là ai mà dám coi thường nhà này?”

Ông hội đồng giơ tay: “Mày ngồi xuống. Chuyện này không cần làm ồn.” Rồi ông quay sang bà Dậu: “Ngoài mấy lời đó, họ còn nói gì nữa không?”

“Dạ có. Thầy Ký Lục nói con gái nhà thầy quen học hành, quen nề nếp, sợ về bên mình không hợp.”

Bà Dậu ngập ngừng một chút, rồi nói tiếp, giọng như than mà cũng như xỏ: “Thầy còn giảng thêm mấy câu chữ nghĩa nghe nặng lắm. Thầy nói gì mà nhân bất tín thì bất lập. Nghe qua thì nói đạo lý, chớ tôi nghe sao giống như ý là ai không giữ chữ tín thì… không đáng làm người”

Bà hội đồng tức giận: “Trời đất, nói vậy là coi nhà mình ra cái giống gì?”

Ông hội đồng đặt chén trà xuống, giọng đều đều: “Được. Tao hiểu rồi.” Ông liếc sang cậu Ba: “Nghe chưa? Người ta coi mày không ra gì đó.”

Bà Dậu vội nịnh: “Thiệt tình, thưa ông bà, nhà thầy Ký Lục dại thiệt. Nhà ông vừa giàu vừa có thế, ai trong vùng mà không nể. Có phước vậy mà còn chê thì đúng là không biết điều.”

Ông hội đồng khoát tay: “Thôi được rồi. Bà về đi.” Ông quay sang thằng Cai: “Mạnh, lấy cho bả ít tiền.”

Thằng Mạnh dạ một tiếng, mang ra túi tiền. Ông hội đồng nói thêm: “Sau này chắc còn nhờ bà mấy bận nữa đó.”

Bà Dậu cầm túi tiền, cười mỉm rồi cúi đầu lui ra. Trước khi bước qua ngưỡng cửa, bà còn khẽ liếc lại một lần, ánh mắt lướt nhanh qua gian nhà sáng trưng, rồi mới quay lưng đi hẳn.

Ông hội đồng cầm đũa lên, thong thả ăn tiếp, nét mặt đã trở lại bình thường như chưa hề có cuộc nói chuyện nào vừa diễn ra. Ông gắp miếng cá, chấm nước mắm, nhai chậm rãi rồi nói, giọng tỉnh rụi: “Thôi, ăn cơm đi.”

Bà hội đồng vẫn còn tức, đặt chén xuống cái cộp, môi mím chặt. “Nói chuyện nghe tức thiệt. Nhà người ta vậy mà dám coi thường nhà mình.”

Cậu Ba Nghĩa ngồi thừ ra một lát, rồi nghiến răng nói: “Con không nuốt trôi chuyện này đâu. Họ dám chê con trước mặt bà mai như vậy…”

Ông hội đồng liếc qua hai người, ông đặt đũa xuống, chậm rãi nói: “Tôi đã nói rồi. Tôi sẽ có cách tính. Bà với thằng Ba đừng lo.”

Cậu Ba quay sang nhìn ba, còn định nói thêm gì đó, nhưng bắt gặp ánh mắt lạnh lùng và chắc chắn của ông hội đồng, đành nén lại, cúi đầu ăn tiếp. Bà hội đồng thở hắt ra một hơi, không nói thêm, chỉ lẳng lặng xới cơm.

Mâm cơm tối tiếp tục trong thứ ánh sáng đèn điện trắng đều, lạnh lẽo. Không ai nói thêm câu nào, nhưng trong gian nhà ấy, mọi người đều hiểu, một chuyện lớn đã được quyết xong. Và từ khoảnh khắc đó, số phận của nhà thầy Ký Lục coi như đã được định đoạt.

---

Sáng hôm sau, cậu Ba Nghĩa ra ngoài lò gạch từ sớm, lấy cớ là để coi đám thợ làm việc, tiện kiểm tra mấy mẻ gốm mới ra lò. Trời còn lành lạnh, khói lò gạch quyện với sương sớm tạo thành một mùi hăng hắc khó chịu, y như tâm trạng của cậu lúc này. Từ lúc bước chân tới nơi, cậu đã cau có, gặp ai cũng kiếm chuyện rầy la. Thợ chậm tay thì bị chửi, gốm sắp chưa ngay ngắn cũng bị hất hàm quát tháo.

Thằng Mạnh, cai lớn nhất của nhà hội đồng, thấy vậy thì mon men lại gần. Từ sau vụ đốt nhà ông Tư Ất, hắn được ông hội đồng thưởng tiền, lại cho đứng ra lo nhiều việc hơn trước, nên trong bụng cũng đâm ra tự đắc.

Hắn lại gần cậu Ba Nghĩa, cười cười giọng giả lả: “Sáng sớm mà cậu Ba nóng dữ vậy? Có chuyện gì không vừa ý hả cậu?”

Cậu Ba liếc xéo, ném cái nhìn đầy bực dọc về phía lò gạch đang đỏ lửa: “Không có gì. Tao chỉ bực đám người không biết điều, coi trời bằng vung.”

Thằng Mạnh biết ý, hạ giọng hỏi thêm: “Hay là… chuyện hôm qua bà Dậu qua thưa đó hả cậu?”

Cậu Ba im lặng một chút, rồi hừ mạnh một tiếng. “Chớ còn chuyện gì nữa. Nhà thầy Ký Lục đó, coi thường tao ra mặt. Nói tao học dốt, không bằng thằng Vĩnh học bên Tây, nên không chịu gả con Nhàng cho tao.”

Thằng Mạnh nghe tới đó thì bật cười khẽ, nụ cười nửa miệng quen thuộc. “Tưởng chuyện chi lớn lắm.” Nó nghiêng đầu, tiến sát lại gần hơn, rồi hạ giọng thì thầm vào tai cậu Ba mấy câu ngắn gọn.

Cậu Ba nghe xong, mặt đang cau có bỗng giãn ra. Ánh mắt lóe lên một vẻ thích thú khó giấu. “Thiệt hả?”. Cậu hỏi lại, giọng đã dịu đi thấy rõ.

Thằng Mạnh gật đầu, cười chắc nịch. “Cậu cứ tin con. Mấy chuyện này, con quen tay rồi.”

Cậu Ba vỗ mạnh lên vai nó một cái. “Được rồi. Tao giao chuyện này cho mày đó. Giờ mày đi đi. Nhớ làm cho gọn. Nếu thành công, tao thưởng cho mày lớn.”

Thằng Mạnh cười hề hề, cúi đầu dạ một tiếng, rồi quay lưng bỏ đi, dáng bước nhanh và chắc, như đã nắm trong tay phần thưởng sắp tới. Phía sau lưng nó, lò gạch vẫn đỏ lửa, khói cuộn lên từng đợt, báo hiệu một chuyện chẳng lành vừa được nhóm lên.

---

Chiều hôm đó, thầy Ký Lục vẫn theo thói quen ngồi uống trà ngoài hiên. Trời xế bóng, gió từ ngoài vườn thổi vào mang theo mùi lá khô ngai ngái. Trà trong chén đã nguội đi một nửa mà thầy vẫn chưa buồn châm thêm nước.

Vợ thầy từ trong buồng bước ra, nhìn chồng một lúc rồi hỏi, giọng có phần thắc mắc: “Hôm qua ông nói là hôm nay qua thưa chuyện với ông Hương Sư mà. Giờ gần tối rồi, sao tôi chưa thấy ông đi?”

Thầy Ký Lục đặt chén trà xuống, khẽ lắc đầu: “Tôi cũng định đi đó chứ. Mà từ trưa tới giờ trong người cứ nao nao sao đó. Đi được một đoạn thì tự nhiên đau chân, mỏi gối, cứ như có cái gì níu lại, không cho mình bước ra khỏi nhà.”

Vợ thầy nhìn ông, hơi cau mày: “Ông nói nghe lạ quá.”

Thầy cười nhẹ, nhưng nụ cười không giấu được vẻ bất an: “Tôi cũng thấy lạ. Cả đời tôi có tin mấy chuyện đó đâu. Vậy mà bữa nay trong lòng cứ không yên.”

Hai người còn đang nói chuyện thì ngoài ngõ đã có tiếng gọi vọng vào: “Thầy ơi, nhà thầy có thư.”

Thầy Ký Lục ngẩng lên. Một người đưa thư đứng ngoài hiên, áo quần xốc xếch, mặt mũi bầm tím thấy rõ. Thầy bước ra nhận thư, nhìn người thanh niên ấy một lượt rồi hỏi: “Ủa, bữa nay sao mặt mũi cậu ra nông nỗi này?”

Người đưa thư lúng túng, cúi đầu đáp nhỏ: “Dạ… dạ con đi đường trơn, té thôi thầy.” Nói xong, anh ta vội trao thư rồi quay lưng đi ngay, bước chân hấp tấp như sợ bị hỏi thêm.

Thầy Ký Lục cầm phong thư trên tay, liếc qua hàng chữ bên ngoài, rồi gọi lớn vào trong nhà: “Nhàng ơi, ra đây nhận thư nè con.”

Nhàng từ trong buồng bước ra, vừa thấy tên người gửi là Vĩnh thì mắt sáng hẳn lên. Cô cầm lấy thư, cúi đầu chào ba má rồi vội vàng vào phòng riêng.

Nhà thầy Ký Lục vốn mang tư tưởng mới, trong chuyện thư từ của con gái, ông bà chưa bao giờ tự tiện mở xem trước, khác hẳn nhiều nhà trong vùng. Vợ thầy chỉ liếc theo bóng con gái, rồi thở khẽ một hơi.

Trong phòng, Nhàng xé phong thư ra đọc. Nét chữ bên trong làm cô khựng lại. Chữ vẫn là chữ của Vĩnh, nhưng có vẻ cứng và gấp hơn thường ngày, lại có chỗ lem nhem mực. Nhàng thoáng nghĩ, chắc lúc đưa thư gặp mưa hay bị ướt nên mới vậy.

Nội dung thư làm tim cô đập rộn lên. Vĩnh viết rất rõ ràng, từng dòng ngắn mà gấp: “Nhàng à, tối nay đúng bảy giờ, em ra gốc cây đa đầu làng đợi anh. Anh chỉ về quê được đúng một ngày, sáng sớm mai phải lên Sài Gòn rồi đi Tây học tiếp. Anh không dám vô nhà thưa chuyện, sợ không kịp giờ, em cũng đừng nói cho ba má hay. Anh nhớ em nhiều lắm, chỉ mong được gặp em một chút, nhìn em một chút thôi cũng đủ.”

Nhàng đọc đi đọc lại lá thư, lòng vừa mừng vừa lo. Đến bữa cơm tối, cô ăn không thấy ngon, trong đầu chỉ nghĩ tới gốc cây đa đầu làng.

Sau bữa cơm, khi thấy thầy Ký Lục đang ngồi đọc sách trong buồng, Nhàng mạnh dạn xin mẹ: “Má ơi, cho con qua nhà con Hằng mượn bộ kim chỉ may đồ. Cây kim con bị gãy mất rồi.”

Bà Bảy Lệ nhìn con gái, ánh mắt nghi ngờ: “Thiệt không đó?”

Nhàng đứng khựng lại, hai tay vô thức đan vào nhau, đầu cúi xuống một chút như né ánh nhìn của mẹ. Cô ấp úng: “Dạ… dạ, anh Vĩnh có hẹn con gặp chút xíu hà má.”

Bà giật mình, nhưng chưa chịu buông, bà tiếp tục hỏi dồn, giọng thấp mà gắt hơn: “Cậu Vĩnh? Má mới thấy thư chiều nay mà? Hẹn hồi nào? Gặp ở đâu? Sao tự nhiên bữa nay lại hẹn, không vô nhà nói chuyện đàng hoàng?”

Nhàng bị hỏi liên tiếp, mặt cô đỏ lên, bàn tay siết chặt tà áo. Cô lúng túng đáp: “Dạ… ảnh nói về gấp, sợ không kịp thưa chuyện. Ảnh chỉ xin gặp con một chút thôi má, thiệt mà.”

Thấy mẹ vẫn nhìn chằm chằm, Nhàng cuống quýt thò tay vào túi áo, lấy ra lá thư đã được gấp kỹ, đưa sang như nắm lấy một chỗ dựa. “Ảnh có viết thư đây nè má. Ảnh hẹn con đúng bảy giờ tối, ra gốc cây đa đầu làng. Ảnh ghi rõ ràng trong này.”

Vợ thầy nhận lấy lá thư, không mở ra xem, chỉ nhìn qua nét chữ bên ngoài rồi thở khẽ. Bà trả lại cho con, giọng đã dịu hơn nhưng vẫn còn lo: “Ừ… có thư đàng hoàng thì cũng phải. Mà ba con kỹ tính lắm, trai gái tới lui mà không thưa trước là bị rầy liền.”

Bà ngập ngừng một chút rồi nói thêm: “Thôi, con đi lẹ rồi về sớm. Ra ngoài nhớ coi chừng, đừng có đứng lâu.”

Nói vậy, nhưng bà vẫn không giấu được vẻ lo lắng. Con gái đi gặp trai ban đêm, dù đã có hôn ước, trong lòng người làm mẹ sao mà yên cho được. Bà đứng nhìn theo bóng Nhàng chuẩn bị ra khỏi nhà, trong ngực dâng lên một cảm giác bất an mơ hồ, như thể sắp có chuyện gì đó không lành xảy ra.

---

Trời đêm xuống rất nhanh, như thể ai đó vừa úp một cái nắp đen khổng lồ lên cả xóm làng. Ánh trăng non nhàn nhạt, treo lơ lửng trên cao, không đủ sức soi rõ mặt người, chỉ đủ làm cho những bóng cây dưới đất thêm dài và méo mó. Gốc cây đa đầu làng hiện ra sừng sững trong màn đêm, thân cây xù xì, tán lá xòe rộng như một cái mái khổng lồ.

Nhàng đứng nép bên gốc cây, hai tay siết chặt vạt áo. Mỗi lần có tiếng bước chân từ xa vọng lại, tim cô lại đập mạnh lên một nhịp. Cô ngóng về con đường dẫn ra bến sông, nơi Vĩnh thường hay đi mỗi lần về làng. Trong đầu Nhàng, hình ảnh anh hiện ra rõ ràng, hiền lành và quen thuộc, như một chỗ dựa duy nhất giữa cơn rối ren đang bủa vây cô.

Một lúc sau, tiếng bước chân vang lên thật. Nhàng vội quay lại, khẽ gọi: “Anh Vĩnh…”

Nhưng người bước ra khỏi bóng tối không phải là Vĩnh. Dưới ánh trăng nhạt, gương mặt cậu Ba Nghĩa hiện ra, áo quần bảnh bao, dáng đi chậm rãi. Nhàng khựng lại, cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng cô.

“Ủa...” cô lắp bắp, “em Nghĩa… đi đâu mà giờ này còn ra đây?”

Cậu Ba dừng lại cách cô vài bước, ánh mắt soi mói. “Còn em? Em Nhàng đứng đây đợi ai mà lúc trời tối vậy?”

Nhàng hít sâu một hơi, cố giữ giọng bình tĩnh. “Nè, chị lớn hơn em đó Ba Nghĩa. Em nói chuyện cho phải phép.”

Cậu Ba khẽ cười nhạt. “Trước sau gì thì… em cũng là vợ của anh thôi.”

Nhàng cau mày, giọng gắt lên: “Em ăn nói cho đàng hoàng. Chị đứng đây đợi anh Vĩnh, chồng chưa cưới của chị.”

“Anh Vĩnh nào?” Cậu Ba nhún vai. “Chưa cưới thì chưa phải chồng. Anh không cần biết anh Vĩnh hay anh Vinh gì hết.”

Nhàng quay mặt đi, không muốn dây dưa. “Thôi, chuyện chị gặp ai không can hệ gì tới em. Lúc này chị không rảnh.”

Cậu Ba bật cười khẽ. “Không rảnh tiếp chuyện với anh, mà rảnh đứng đây đợi thằng khác, phải không?” Rồi giọng cậu trầm xuống, mang theo vẻ hằn học. “Anh ra đây chỉ muốn hỏi em một chuyện. Nhà anh đã cho người qua mai mối, vậy mà song thân của chị không chịu. Họ nói chuyện lương duyên không thể gượng ép. Còn em, vì cớ gì cũng không ưng? Hay là tại anh chưa đủ giỏi, chưa xứng với gia đình lễ giáo như nhà em?”

Nhàng nhìn thẳng vào cậu, giọng lạnh đi: “Chà, bữa nay em Ba ăn nói văn chương dữ ha. Nhưng chị không phải kẻ ham tiền bạc. Không phải ai giàu sang đem ra khoe mẽ là chị cũng xiêu lòng. Con người đáng trọng hay khinh ở tư cách, chớ đâu phải cậy tiền cậy thế mà mua được tình yêu.”

Cậu Ba đổi sắc mặt. “Em nói vậy mà không thấy hổ thẹn sao? Anh tưởng đâu em treo giá ngọc, dè đâu tối nay cũng ra đây hò hẹn với trai.”

“Em không được phép mỉa mai như vậy” Nhàng nói, giọng run lên vì giận. “Em không có quyền can dự vào chuyện này. Làm ơn biết điều lịch sự, chị mời em đi chỗ khác chơi.”

“Mời?” cậu Ba tiến thêm một bước. “Em mời hay là em đuổi? Đừng có vênh váo với thiên hạ.”

“Em đừng có vô lễ” Nhàng lùi lại, lưng chạm vào thân cây đa lạnh ngắt.

Cậu Ba cười nhạt. “Anh đâu có vô lễ. Anh chỉ tiếc cho em. Tưởng em là người có ăn học, biết so sánh cho xứng đáng, dè đâu mù quáng như vậy.”

Giọng cậu bỗng đổi, thấp và dồn dập hơn. “Nhàng à, lấy anh đi. Anh là con trai khẩn, con trai cầu. Lấy anh rồi, về nhà khỏi cần làm gì hết. Ba anh sẽ cất cho tụi mình một căn nhà ngói thiệt lớn, để hai đứa hưởng lạc thú của tuổi còn xuân.”

Nói tới đó, cậu Ba bất ngờ lao tới, ôm lấy vai của Nhàng.

Nhàng chưa kịp kêu lên, chưa kịp phản ứng, thì từ trong bụi rậm bên đường bỗng vang lên tiếng xôn xao. Bà Dậu cùng hai ba người đàn bà khác bất ngờ từ trong bóng tối lao ra.

“Trời đất ơi!” một người kêu lên. “Con gái nhà thầy Ký Lục kìa!”

Bà Dậu chống nạnh, giọng lanh lảnh: “Đi chợ đêm trên tỉnh về, ai dè bắt gặp cảnh này. Tối tăm tối mù mà đứng hò hẹn với trai ngoài đầu làng. Đẹp mặt nhà thầy Ký Lục chưa?”

Những lời xì xào, mỉa mai dội tới tấp. Nhàng đứng chết lặng dưới gốc cây đa, tai ù đi, cổ họng nghẹn cứng. Cô lắc đầu liên hồi, giọng run rẩy bật ra trong hoảng loạn: “Không… không phải vậy đâu. Con không có hẹn gặp ở đây… con chỉ đứng đợi…”

Một người đàn bà cười khẩy, kéo tay người bên cạnh: “Đợi gì mà đợi? Ôm ấp nhau giữa đêm dưới gốc đa vầy mà còn chối hả?”

“Phải đó” người khác hùa theo, giọng chua chát, “ban ngày làm bộ ngoan hiền, tối tới thì ra đây hẹn hò trai.”

Những lời xỉ vả ném tới dồn dập. Nhàng không chịu nổi nữa. Cô đưa hai tay ôm chặt lấy mặt, bật khóc, rồi quay phắt người bỏ chạy. Bước chân loạng choạng, váy áo vướng víu, cô chỉ biết cắm đầu chạy về phía con đường tối om trước mặt, mặc cho tiếng cười khúc khích và lời mỉa mai vẫn còn văng vẳng phía sau.

Trong lúc chạy, Nhàng bỗng hiểu rất rõ, rõ đến đau lòng: từ ngày mai thôi, những lời vừa nghe đây sẽ không còn nằm lại dưới gốc cây đa này nữa, mà sẽ theo miệng người, lan ra khắp làng trên xóm dưới.

Phía sau lưng, giữa tiếng xôn xao chưa dứt, giọng cậu Ba Nghĩa cất lên, kéo dài đầy khoái trá: “Nhớ lời anh nói hồi nãy nghe, em Nhàng… nhớ kỹ đó nhaaa…”

Sau khi đám đàn bà bỏ đi hết, con đường dưới gốc cây đa lại chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng côn trùng rả rích và hơi gió thổi qua tán lá, nghe lạnh lẽo hơn lúc nãy.

Từ phía xa, Mạnh – thằng cai thân tín của nhà hội đồng lững thững bước tới. Hắn liếc theo hướng Nhàng vừa chạy khuất, khóe miệng nhếch lên một nụ cười. Đến gần, hắn vỗ nhẹ lên vai cậu Ba Nghĩa một cái, giọng hạ thấp nhưng không giấu được vẻ khoái trá: “Coi bộ… trơn tru hơn mình tính đó cậu Ba.”

Cậu Ba Nghĩa vẫn đứng tựa gốc đa, đưa tay sửa lại cổ áo, ánh mắt còn vương chút hằn học lẫn thỏa mãn. Cậu cười khẽ, giọng nghe tỉnh rụi: “Ừ, cũng khác với kế hoạch ban đầu thiệt. Ai dè… tự dưng có bà Dậu với mấy mụ đó xuất hiện.” Cậu hừ nhẹ một tiếng. “Không là tao....”

Mạnh bật cười khục khặc, đưa tay xoa xoa cằm: “Thì con đã nói rồi mà. Cậu thấy con hay không? Con chỉ việc dằn mặt thằng đưa thư một chút. Nó sợ xanh mặt, kêu sao nghe vậy. Rồi bắt nó ngồi viết lại nét chữ y chang thằng Vĩnh. Hẹn đúng giờ, đúng chỗ là con nhỏ tin răm rắp.”

Cậu Ba nghe tới đó thì bật cười thành tiếng, tiếng cười khô khốc vang lên trong đêm.

Mạnh cười theo, giọng hả hê: “Thì con gái nhà nho, mà ai dè chữ nghĩa cũng có ngày hại thân.”

Trong ánh trăng lờ mờ, đôi mắt của cậu Ba và Mạnh bỗng ánh lên một màu đỏ lạ lùng, không rõ là do khoái cảm, hay do một thứ gì đó đang ngấm dần lớn dần trong lòng họ.

---

Tin đồn lan ra nhanh hơn cả gió chướng. Chỉ qua một đêm, chuyện cô Nhàng, con gái thầy Ký Lục bị bắt gặp hò hẹn với trai dưới gốc cây đa đã theo miệng người này chuyền sang tai người khác, mỗi lần qua một nhà lại thêm mắm thêm muối. Người nói cô đứng đợi trai từ lâu, kẻ nói cô ôm ấp giữa đêm, lại có người độc miệng hơn, bảo con gái nhà nho mà cũng chẳng ra gì.

Nhà ông Hương Sư ở Âu Môn vừa hay tin thì nổi giận. Ban đầu ông bà còn cho người dò hỏi, mong nghe được một lời cải chính cho rõ trắng đen. Nhưng càng hỏi, lời đồn lại càng dày thêm, hết người này tới người khác đều nói có thấy, có nghe. Không chờ thêm được nữa, ông bà Hương Sư đích thân sang tận nhà thầy Ký Lục mà chất vấn.

Hôm ấy, trong gian nhà nhỏ, lời qua tiếng lại nặng nề chưa từng có. Nhàng khóc lạy, một mực chối rằng mình không làm chuyện sai trái. Thầy Ký Lục cũng đem hết lễ nghĩa ra mà giải thích, nói rõ đầu đuôi câu chuyện, nói cả chuyện gốc cây đa, chuyện thư từ, mong bên nhà Hương Sư hiểu cho. Nhưng ngoài kia, nhân chứng đã có, lời đồn đã lan, mỗi câu nói của thầy lúc này nghe ra đều trở nên yếu ớt.

Ông Hương Sư ngồi lặng một hồi lâu, rồi chậm rãi đứng dậy. Vì giữ thể diện cho gia đình, vì danh dự của cậu Vĩnh đang ăn học bên Tây, nhà ông không thể để một mối hôn nhân mang theo điều tiếng tiếp tục tồn tại. Nói rồi, ông xin phép được huỷ hôn ước đã định, coi như hai nhà dừng lại ở đây.

Cũng từ lúc đó, nhà hội đồng Quyền bắt đầu ra tay không che giấu nữa. Trước tiên, họ cho người đi rỉ tai khắp xóm rằng thầy Ký Lục dạy học mà không biết dạy con, đạo đức trong nhà còn chẳng giữ được thì lấy tư cách gì mà dạy người khác. Cha mẹ học trò nghe vậy bắt đầu dao động. Có người còn đích thân tới nói thẳng với thầy, giọng nửa ái ngại nửa khinh miệt: “Thôi thầy ơi, tụi tôi cũng thương thầy lắm, nhưng để con theo học nữa, lỡ mang tiếng thì tội nó.”

Chỉ trong ít ngày, lớp học vốn vẫn đông đúc bỗng thưa dần. Bàn ghế trống không. Sân nhà vắng tiếng đọc bài. Người quen trong vùng đi ngang qua cổng cũng cúi mặt bước nhanh, không còn ai dám ghé thăm như trước.

Những đêm sau đó, đèn trong nhà thầy Ký Lục thường tắt rất sớm. Thầy ít nói hẳn. Có hôm, bà Bảy Lệ thấy chồng ngồi rất lâu trước bàn thờ gia tiên, hai tay đặt trên đầu gối, lưng thẳng nhưng vai khẽ run, như đang gồng gánh một thứ nặng nề không ai san sẻ được.

Rồi một buổi sáng, khi trời còn chưa kịp sáng hẳn, người ta phát hiện thầy Ký Lục đã treo cổ tự vẫn ngay trong gian nhà trước. Sợi dây thừng buộc vội, thân người thầy gầy guộc lặng lẽ đung đưa, gương mặt đã tím tái nhưng vẫn còn nét điềm tĩnh quen thuộc. Người trong xóm đứng nhìn từ xa, không ai dám lại gần, cũng không ai dám nói nhiều.

Đám tang của thầy Ký Lục diễn ra trong cảnh lạnh lẽo và nặng nề. Chưa kịp bày biện xong linh cữu thì thằng Mạnh đã dẫn theo đám đàn em đứng chặn ngay ngoài cổng. Chúng giả bộ dựa cột, hút thuốc, cười cợt, nhưng hễ ai định bước vào viếng là lập tức bị nhìn chòng chọc, có đứa còn buông giọng nửa đe dọa: “Nhà có chuyện, mấy người đi chỗ khác”

Cuối cùng, chỉ còn vài người họ hàng gần dám lén lút vào thắp nén nhang. Không kèn trống, không tiếng khóc đông người. Đám tang của một ông thầy cả đời giữ lễ nghĩa kết thúc trong lặng lẽ, như thể ông chưa từng tồn tại trong ngôi làng này.

Nhàng quỳ bên quan tài cha, nước mắt đã cạn khô. Cô không còn khóc thành tiếng nữa, chỉ cúi đầu thật thấp, trán gần chạm xuống nền đất lạnh. Trong khoảnh khắc ấy, Nhàng hiểu rất rõ, nếu cô còn tiếp tục chống cự, không chịu gả về nhà hội đồng, thì người phải gánh lấy hậu quả không chỉ có mình cô, mà còn là mẹ, là cậu em trai đang học trên tỉnh, những người duy nhất còn lại trong đời cô.

Giữa những ngày tang tóc ấy, cô Hai Kim cũng lặng lẽ qua thăm. Giọng cô nhỏ và buồn, như nói với Nhàng mà cũng như tự nói với mình: “Chị biết em uất ức lắm. Chị biết em đâu có sai. Nhưng… em coi đó, tới nước này rồi, nếu em còn gồng nữa, người khổ sẽ là má, là thằng em em. Ba chị… ổng dữ lắm, em cũng biết mà.”

Nhàng không trả lời. Cô chỉ nhìn vào khoảng không trước mặt, nơi đặt linh cữu cha mình, ngực nặng như có đá đè. Hai Kim siết tay bạn thêm một lần nữa, giọng gần như van nài: “Thôi thì… coi như em vì người sống mà chịu một lần đi Nhàng. Về bên đó rồi, chị hứa, chị sẽ tìm cách đỡ đần cho em.”

---

Không lâu sau, tin con trai độc nhất của nhà ông hội đồng sắp lấy vợ bắt đầu râm ran khắp vùng. Người ta nói với nhau nhanh lắm, mới sáng còn thì thào, tới trưa đã thành chuyện ai cũng biết. Cái đám cưới được sắp đặt gấp gáp, rình rang, như thể nhà hội đồng muốn dùng tiếng chiêng trống để lấp đi mọi điều tiếng vừa xảy ra, cũng như muốn cho cả vùng thấy, chuyện của nhà họ không có gì phải chần chừ.

Trong nhà hội đồng, gia đinh giúp việc đông tới cả trăm người, ra vô không lúc nào ngớt. Người quay heo, kẻ làm vịt làm gà, lửa bếp đỏ suốt ngày không tắt. Ngoài sân, mâm quả lễ vật xếp dài thành hàng, trà rượu, trầu cau, nến tơ hồng được bà hội đồng đích thân coi ngó, chỉnh sửa từng chút một, sao cho thật đủ đầy, thật xứng với danh thế của nhà mình.

Vòng vàng bày kín trên mâm, xâu này chồng lên xâu kia, lấp lánh dưới ánh đèn, nhiều tới mức người ngoài nhìn vào chỉ biết trầm trồ. Khách mời toàn là những người có quyền có thế trong vùng: quan thống đốc, quan huyện, hội đồng, hương chức. Mỗi chiếc xe ngựa dừng trước cổng lại làm cho con đường nhỏ thêm phần náo động.

Tiếng trống, tiếng nhạc vang rền từ sáng sớm. Bà con đứng chật hai bên đường, vừa coi vừa bàn tán, ánh mắt tò mò dõi theo cô dâu được đưa vào nhà hội đồng trong bộ áo cưới đỏ thắm.

Suốt một ngày dài tiếp khách, Nhàng gần như không còn cảm giác gì nữa. Khi trời sụp tối, cô được đưa về phòng tân hôn trước, trong tiếng ồn ào vẫn còn vang vọng ngoài sân. Chỉ có cậu Ba Nghĩa là ở lại, tiếp tục hầu rượu các quan lớn, tiếng cười nói, chúc tụng kéo dài tới tận khuya.

Trong phòng tân hôn, Nhàng ngồi lặng trên chiếc bàn tròn đặt giữa phòng. Mệt rã rời, nhưng trong lòng cô lại dậy lên một cảm giác hồi hộp khó gọi tên. Căn phòng xa lạ, rộng rãi hơn căn buồng cũ ở nhà cha mẹ, nhưng trống trải đến lạnh lẽo. Trên giường, chiếc khăn trắng tinh được trải ngay ngắn, phẳng phiu đến lạ lùng, như một bài kiểm tra mà cô không dám nhìn lâu.

Cửa phòng chợt mở, làm Nhàng giật mình. Cô Hai Kim bước vào, tay bưng theo một ly nước ấm. Hai Kim ngồi xuống bên cạnh, nói vài câu nhẹ nhàng, dặn dò đôi điều cho phải phép. Giọng cô nhỏ, cố giữ bình thản, nhưng trong mắt vẫn lộ ra nét áy náy khó che giấu. Nói được một lúc, Hai Kim đứng dậy, quay về phòng mình, để lại Nhàng một mình giữa căn phòng im ắng.

Tới khuya, cậu Ba Nghĩa mới trở về. Men rượu đã thấm, làm bước chân cậu loạng choạng, hơi thở nồng mùi rượu. Cậu đẩy cửa bước vào, ánh mắt dừng lại nơi Nhàng, người con gái mà cậu đã mong mỏi từ lâu, lòng bỗng rạo rực khó kìm.

Dưới ánh đèn dầu leo lét, khung cảnh trong phòng trở nên chập chờn, ma mị. Khuôn mặt Nhàng vì mệt mỏi mà ửng hồng, đôi mắt cúi xuống tránh ánh nhìn của cậu Ba. Cậu đứng ngập ngừng một lát rồi cất giọng, vừa say vừa gượng:

“Mình… uống chút rượu nghe chị. À không, nghe mình. Uống vài ly cho có không khí.”

Nhàng khẽ gật đầu. Cô chưa từng biết mùi rượu ra sao, nhưng đêm nay, ở một nơi quen mà lạ thế này, lại bên cạnh một người cô không hề có tình cảm, vài ly rượu có lẽ sẽ giúp cô bớt căng thẳng hơn.

Cậu Ba với tay định rót rượu thì Nhàng khẽ gạt ra, ngập ngừng nói nhỏ: “Cậu… để em… em rót cho.”

Nhàng nâng bình rượu lên, tay run nhẹ. Một ly, rồi hai ly trôi qua trong lặng lẽ. Tới ly thứ ba, đầu cô bắt đầu quay cuồng. Ánh đèn trước mắt nhòe đi, tiếng động như xa dần, thân người mềm ra, không còn giữ được thăng bằng nữa.

Ba Nghĩa đỡ lấy thân người Nhàng, đặt cô xuống giường. Mọi chuyển động sau đó với cô đều rời rạc, như bị bọc trong một lớp sương dày. Ánh đèn dầu chập chờn bỗng tối sầm lại, tim đèn khẽ khụt xuống, rồi bùng lên một lần cuối, hắt lên trần nhà những hình ảnh dồn dập, méo mó.

Cô cố gọi tên ai đó, nhưng tiếng nói như bị chặn trong cổ họng. Chỉ còn cảm giác nặng nề của cậu Ba Nghĩa trùm xuống, từng đợt nối tiếp nhau, thô bạo như một con thú hoang dại không biết dừng. Hơi thở cô bị chặn lại, bật ra ngắt quãng; thân thể đau buốt khắp nơi, va đập liên hồi. Nhàng cắn chặt răng, không để bật ra một tiếng nào.

Trong cơn choáng váng ấy, cô thoáng thấy ở góc phòng một bóng người đứng im. Bóng ấy không tiến lại, cũng không rời đi, chỉ trơ trọi dõi theo, lạnh lẽo như một kẻ chứng giám. Rồi mọi thứ rơi vào khoảng tối đặc quánh.

Khi Nhàng tỉnh lại, đèn dầu đã gần tàn. Căn phòng im phăng phắc. Cô nằm bất động, nhìn trân trân lên trần nhà. Bên cạnh, Ba Nghĩa đã ngủ say, hơi thở đều, gương mặt yên ổn đến lạ, như thể đêm qua chỉ là một việc phải làm rồi thôi.

Trên giường, chiếc khăn trắng không còn giữ được sắc nguyên vẹn ban đầu. Nhàng quay mặt đi. Cô không khóc. Trong ngực chỉ còn lại một khoảng trống lạnh buốt, như vừa bị lấy mất thứ gì đó không thể gọi tên.

Sáng hôm sau, trong nhà hội đồng, mọi việc diễn ra trơn tru đến đáng sợ. Không ai hỏi, không ai nói. Bà Hội đồng chỉ liếc qua phòng tân hôn một lần, nhìn tấm khăn bị nhuốm đỏ mà gật gù. Từ khoảnh khắc ấy, Nhàng chính thức trở thành Mợ Cả nhà hội đồng Quyền.

Những ngày sau đó, Nhàng sống trong một nhịp điệu đều đặn và khép kín. Cô đối xử nhã nhặn với gia đinh, ra ngoài thì giữ lễ với tá điền, nhưng nụ cười hiếm khi chạm tới mắt. Ba Nghĩa vẫn tỏ ra chiều chuộng, sắm sửa đủ thứ, đưa cô đi khắp nơi, như để chứng minh một cuộc hôn nhân viên mãn.

Trong nhà, người duy nhất Nhàng có thể ngồi cạnh lâu hơn một chút là Hai Kim. Hai Kim hiểu Nhàng nên không hỏi nhiều. Có những buổi, hai người chỉ ngồi im bên nhau, nghe tiếng gió lùa qua vườn, tiếng lá cọ vào nhau khô khốc. Nhàng ngồi quay mặt ra khoảng tối ngoài hiên, ánh đèn trong nhà hắt ra không chạm tới được chỗ ấy. Đôi khi, cô khẽ mỉm cười rất nhẹ, nụ cười không dành cho ai cả, dường như chỉ để đáp lại điều gì đó đang đứng trong bóng đêm.
 

Chương 3: Vòng lặp

Một buổi sáng, trong nhà ông Hội đồng bỗng xuất hiện một mùi hôi lạ, không nồng gắt ngay, mà âm ỉ, quẩn quanh như bám vào từng kẽ gỗ. Gió từ ngoài sông thổi vô mang theo hơi nước lạnh, đẩy cái mùi đó len lỏi khắp sân sau. Bà Hội đồng đứng chống nạnh, sai đám người làm lật từng đống rơm, dỡ từng tấm ván chuồng để coi kỹ lại mấy con trâu mới chết từ sáng sớm, vừa làm vừa nhăn mặt.

“Tụi bây coi cho kỹ. Hồi sáng con Sáu nói thấy trâu lăn ra chết bất đắc kỳ tử, coi chừng có đứa bỏ thuốc.” Bà nói giọng gắt, tay chỉ trỏ liên hồi.

Một người làm ấp úng, mặt tái mét, giọng run run: “Dạ bẩm bà, con coi rồi mà không thấy vết gì hết. Trâu nằm cứng đơ, bụng trương phình, da tái xám, bốn chân co quắp lại như bị nước dìm lâu ngày. Miệng nó trào bọt trắng, mũi sùi bùn, mắt trợn ngược lên… nhìn giống hệt trâu chết trôi vớt lên vậy đó bà.”

Bà Hội đồng nghe tới đó thì rùng mình, chau mày gắt lại: “Nói bậy! Trâu trong chuồng, làm sao chết trôi được.” Bà nói cứng miệng vậy, nhưng chân vô thức lùi lại nửa bước, không dám nhìn thẳng về phía chuồng. Bà đưa tay khoát mạnh: “Thôi khỏi coi nữa. Đào hố chôn liền cho tao. Chôn sâu xuống rồi rắc thêm vôi, lấp cho kỹ.”

Đang nói thì một cô người làm từ gian trên chạy xuống, thở gấp: “Thưa bà, ông lớn kêu bà lên trên nhà nói chuyện gấp.”

Bà Hội đồng bực bội quay lại: “Giờ này còn chuyện gì nữa? Trâu bò chết mà ổng không lo, kêu tao lên làm chi?”

Miệng càu nhàu vậy, nhưng bà vẫn phủi tay, bước lên nhà trên. Trong gian trước, ông Hội đồng Quyền đang ngồi bên bàn, trước mặt là một phong thư còn nguyên dấu niêm sáp.

Bà vừa bước vô đã nói ngay, giọng chưa kịp hạ xuống: “Ngoài sau trâu bò chết mấy con, không biết có chuyện gì hay không. Tôi đang cho người coi lại…”

Ông Hội đồng đưa tay chặn ngang, giọng thấp mà dứt khoát: “Thôi, chuyện đó để sau. Giờ có chuyện này quan trọng hơn.”

Ông đẩy phong thư về phía bà. “Bà đọc đi.”

Bà Hội đồng cầm thư, còn lẩm bẩm: “Chuyện gì mà hơn cả trâu chết…” Nhưng vừa đọc được mấy dòng đầu, tay bà run lên. Mắt bà lướt nhanh rồi dừng sững lại.

“Cái gì đây?” Bà ngẩng phắt lên. “Nhà quan… hỏi cưới con Hai Kim? Mà… vợ thứ ba?”

Ông Hội đồng gật đầu: “Ừ. Là ý của ông Chánh Tham Biện trên tỉnh.”

“Không được.” Bà đặt mạnh lá thư xuống bàn. “Gả con gái người ta làm vợ ba là nhục nhã. Ông nghĩ sao mà nhận?”

Ông Hội đồng nhìn thẳng vào vợ: “Không phải chuyện nhận hay không. Là chuyện không có quyền từ chối.”

“Không có quyền?” Bà nói với giọng run rẩy. “Nhà mình thiếu ăn thiếu mặc hay sao mà phải đem con Hai ra lấp chỗ trống cho nhà người ta?”

Ông Hội đồng chậm rãi đáp: “Bà nói nghe nhẹ quá. Bà tưởng mấy vụ đất đai, kiện tụng mấy năm nay trôi êm là nhờ phước đức ông bà để lại hay sao? Không có cửa quan, nhà mình đứng vững tới giờ hả?”

“Nhưng đó là con mình!” Bà Hội đồng bật lên.

Ông Hội đồng nhìn thẳng, giọng lạnh đi: “Làm con trong nhà này thì phải biết phận. Áo mặc sao qua khỏi đầu. Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó. Từ xưa tới giờ vẫn vậy.”

Bà Hội đồng lắc đầu, nước mắt trào ra: “Ông nói vậy mà nghe được sao? Mấy nay con Hai nó buồn rầu thấy rõ, nó héo ruột héo gan vậy đó. Làm sao tôi dám ép nó thêm nữa…” Nói tới đó, bà cắn môi, trong đầu bà hiện lên rõ mồn một hình ảnh cô Hai Kim đau khổ ra sao lúc nghe tin cả nhà thằng Tí chết cháy.

Ông Hội đồng đập nhẹ tay xuống bàn, cắt ngang: “Thôi. Gọi con Hai ra đây.”

Bà Hội đồng giật mình: “Kêu nó ra làm gì?”

“Con Hai đâu, ra đây tao bảo.” Giọng ông không lớn hơn.

Bà Hội đồng quay về phía buồng trong, giọng nghẹn lại: “Hai Kim ơi… con lên đây cho ba má nói chuyện.”

Một lát sau, tấm màn buồng khẽ động. Hai Kim bước ra, dáng đi chậm, hai tay khép trước bụng. Cô cúi đầu chào: “Thưa ba má.” Gương mặt cô tái xanh, đôi môi nhợt nhạt như vừa qua một cơn sốt dài.

Ông Hội đồng nhìn con, giọng đã hạ xuống, nhưng từng chữ vẫn khô và rắn: “Tao gọi mày ra là để nói rõ cho mày biết. Nhà ông Chánh Tham Biện trên tỉnh trên tỉnh có lời. Mày sẽ về đó làm vợ thứ ba cho công tử nhà người ta.”

Hai Kim nghe tới đó thì khựng lại. Mặt cô tái hơn, hai chân như mềm ra, phải khẽ vịn tay vào thành ghế mới đứng vững. Cô không nói được liền.

Bà Hội đồng vội bước tới, đỡ lấy tay con: “Thôi ông, con nó còn yếu…”

Ông Hội đồng khoát tay: “Để nó nghe cho hết.” Rồi ông nói tiếp, chậm rãi: “Việc này không chỉ cho riêng mày. Là cho cả nhà. Có mối quan hệ này, đất đai, sổ sách, mọi chuyện sau này sẽ đều yên ổn.”

Hai Kim đứng im, mắt nhìn xuống nền gạch. Một lúc lâu sau, cô mới khẽ gật đầu. “Dạ… con hiểu.” Giọng cô nhỏ tới mức gần như tan vào không khí.

Cô cúi đầu thấp hơn: “Con xin nghe theo.”

Nói xong, Hai Kim lùi một bước, cúi chào lại rồi nói khẽ: “Con xin phép vô buồng.” Không chờ ai đáp, cô quay người đi thẳng, bước chân nhẹ mà đều. Cô không khóc hay ngoái đầu lại.

Khi Hai Kim đã khuất hẳn sau màn buồng, gian trước bỗng trở nên trống trải một cách khó chịu. Bà Hội đồng quay phắt lại phía ông, giọng vỡ ra, đứt quãng, vừa nói vừa nghẹn như nuốt không trôi từng chữ. Ông Hội đồng đáp lại ngay, không cao giọng, nhưng từng lời lạnh lẽo, sắc bén như lưỡi dao, cắt thẳng vào khoảng không giữa hai người.

Không khí trong nhà nặng nề. Bỗng một tiếng đập bàn nện xuống, mạnh và gọn, làm cả bộ trường kỷ rung lên. Chén trà bật khỏi tay ai đó, va vào thành bàn loảng xoảng rồi rơi xuống nền gạch, vỡ choang. Một cái ly khác lăn đi, đập nhẹ vào chân bàn, kêu lanh canh yếu ớt trước khi nằm im.

Đám người làm đứng túm lại phía sau vách, không ai dám thở mạnh. Có người vô thức bám chặt mép cột, có kẻ cúi gằm mặt xuống đất. Chưa bao giờ họ thấy ông Hội đồng Quyền nổi giận đến vậy, không gào thét hay chửi rủa, mà nặng nề và đáng sợ hơn nhiều.

---

Đêm hôm sau, gian buồng Hai Kim sáng đèn lâu hơn thường lệ. Ngọn đèn dầu đặt trên bàn thấp, tim đèn khẽ lay, ánh sáng vàng đục hắt lên vách gỗ, làm những bóng người in nghiêng ngả.

Nhàng đã qua ngồi phụ chị Hai Kim xếp lại khăn áo. Hai Kim gấp rất chậm, vuốt từng nếp vải cho thẳng, như thể chỉ cần làm nhanh tay một chút là cô sẽ về nhà chồng ngay lập tức. Nhàng nhìn mà thấy cổ họng mình nghèn nghẹn.

“Qua bên đó rồi… chắc chị sướng hơn ở đây ha?” Nhàng nói bâng quơ.

Hai Kim khẽ cười: “Sướng gì. Chỉ là đổi chỗ ngồi thôi em à.”

Nhàng im lặng, tay vô thức miết nhẹ lên mép rương gỗ. Một lát sau, cô Hai Kim mới thỏ thẻ, giọng nhỏ đi: “Hoàn cảnh của hai đứa mình cũng giống nhau hết em à. Con gái mười hai bến nước, hên thì gặp bến trong, xui thì phải bến đục. Có cái gì đâu mà buồn dữ vậy...”

Nhàng cúi đầu, đáp liền, như sợ chị chưa kịp yên lòng: “Chị cứ lo bên đó cho tốt. Em ở nhà chăm sóc ba má giúp cho chị. Chuyện đó, chị khỏi phải lo.”

Hai Kim khẽ gật đầu, mắt dịu lại: “Ừ… có em ở đây, chị cũng đỡ lo.” Rồi chị thở ra thật khẽ: “Cảm ơn em. Đời này có được một tri kỷ như em, chị cũng không dám trông mong gì hơn.”

Nhàng nghe vậy, tim nhói lên. Cô lắc đầu nhẹ, cố cười cho chị yên lòng: “Thôi chị, đừng nói vậy nữa. Mình hiểu nhau là được rồi.”

Hai Kim không đáp. Cô quay sang mở rương, lục một hồi rồi lấy ra hai sợi dây chuyền nhỏ. Mỗi sợi mang một viên đá xanh lá li ti, được bọc bằng khoen bạc mảnh. Hai viên đá đặt cạnh nhau trông như từng là một khối nguyên vẹn, nay bị bể ra làm đôi, đường nứt khớp đến lạ, như thể vốn sinh ra là để thuộc về nhau.

Nhàng vừa nhìn đã khựng lại: “Ủa… viên đá này chị hay đeo mà… sao lại bị bể ra làm đôi?”

Hai Kim gật đầu, giọng thấp xuống: “Nó nứt ra sau chuyện nhà anh Tí bị cháy. Sáng nay chị mới kêu người làm lại. Thành hai sợi, mỗi đứa một nửa.”

Chị đặt sợi còn lại vào tay Nhàng. Viên đá nằm gọn trong lòng bàn tay, lạnh buốt, cái lạnh không phải của kim loại mà giống như vừa vớt lên từ nước sâu.

Nhàng nắm lại theo phản xạ, khẽ rùng mình: “Sao… lạnh dữ vậy chị?”

Hai Kim nhìn viên đá, nói chậm rãi: “Hồi mấy năm trước chị nhặt được nó gần cái giếng sau nhà. Chị đeo lâu nay, thấy lòng yên bình hơn rất nhiều. Nhưng từ sau chuyện kia… tự dưng nó nứt ra..”

Cô ngước lên nhìn Nhàng: “Chị giữ một nửa. Nửa này cho em.”

Hai Kim đứng dậy, vòng tay qua sau cổ Nhàng để đeo dây. Khoen bạc chạm vào da gáy, Nhàng rùng mình mạnh hơn. Một luồng lạnh chạy dọc sống lưng, làm cô bất giác nín thở.

Trong khoảnh khắc đó, tai Nhàng nghe rất rõ tiếng lá ngoài vườn cọ vào nhau, sột soạt, đều đều. Rồi dưới cái tĩnh lặng ấy, cô bỗng nghe như có tiếng nước nhỏ giọt, như vọng lên từ đáy giếng.

“Nhàng nè, em thấy sao?” Hai Kim hỏi khẽ.

Nhàng nuốt khan: “Không biết nữa… tự dưng em thấy lạnh sống lưng.”

Hai Kim đặt tay lên vai em, giọng nửa dặn dò nửa cầu xin: “Em cứ đeo đi. Coi như chị gửi theo em… chút kỷ niệm của hai đứa mình.”

Khi nói tới đây, ánh mắt cô Hai Kim thoáng lướt về phía sau nhà, nơi cái giếng nằm khuất trong bóng tối. Nhàng cũng nhìn theo, dù không thấy gì, nhưng trong lòng bỗng dâng lên một cảm giác bị ai đó nhìn lại.

Đêm đó, Nhàng ở lại ngủ chung buồng với Hai Kim. Hai chị em nằm quay lưng vào nhau mà tâm sự, không ai ngủ được.

Cậu Ba Nghĩa thì đi tìm Nhàng không thấy, bèn gọi một người làm hỏi. Nghe nói cô qua buồng cô Hai Kim từ chiều, hắn chau mày, bước lại gần. Đứng ngoài hiên, thấy trong buồng vọng ra tiếng thì thầm khe khẽ, hắn đứng sững một lúc. Cuối cùng, Cậu Ba Nghĩa không bước vô, chỉ đưa tay khép cửa lại thật nhẹ, hắn thở dài một cái là hậm hực đi về phòng của mình.

---

Sáng rước dâu, trống chiêng nổi lên từ sớm, dồn dập mà nghe như thúc vào ngực người trong nhà. Bà Hội đồng đứng ở thềm, tay nắm chặt vạt áo, mắt không rời khỏi bóng con gái. Bà dù không đồng ý, trong lòng vẫn còn đau xót chưa kịp nguôi, nhưng cuối cùng cũng phải nghe theo chồng, như bao lần trước đó trong đời làm vợ.

Trong nhà này, ai cũng biết ông bà cưng cậu Ba hơn, con trai độc nhất, là niềm tự hào. Nhưng Hai Kim lại là đứa con đầu lòng. Với bà Hội đồng, nhìn con bước lên xe hoa lúc này, chẳng khác nào nhìn thấy lại chính mình thuở con gái, cũng từng đứng trước một ngả rẽ không được quyền chọn, cũng từng cúi đầu đi theo số phận đã sắp sẵn.

Hai Kim bước lên xe, lưng cô thẳng, mặt không ngoái lại. Bà Hội đồng muốn gọi một tiếng, muốn chạy theo nắm tay con, nhưng chân bà như bị đóng chặt xuống nền gạch lạnh. Tiếng trống chiêng át hết mọi âm thanh còn sót lại trong cổ họng bà.

Nhàng đứng trong sân, nhìn theo cho tới khi xe khuất hẳn. Trong lòng cô mở ra một khoảng trống lạnh, không chỉ vì mất đi người chị, mà còn vì cô vừa tận mắt thấy một con đường đã khép lại, cho Hai Kim… và cho cả chính mình.

Từ đó, Nhàng ít nói. Ban ngày cậu Ba Nghĩa vẫn tỏ vẻ chiều chuộng, ngọt ngào trước mặt người ngoài. Nhưng đêm về, cậu trở lại đúng bản chất của con người của mình: Hung tàn, thô bạo..

---

Vài tháng sau, Mợ Nhàng mang thai. Tin vừa lan ra trong nhà, gian trước đã rộn ràng hẳn lên. Ông Hội đồng cười nói nhiều hơn mọi ngày, sai người làm làm mâm cúng, còn bà Hội đồng thì mừng đến rơi nước mắt.

“Trời Phật thương rồi ông ơi,” bà vừa nói vừa chắp tay, giọng run run. “Mong sao cho mợ cả sinh thằng cháu trai, để nhà mình có người nối dõi.”

Từ đó, bà Hội đồng đi chùa liên miên. Hết rằm lại mồng một, hễ nghe đâu có thầy cao tay là bà tìm tới. Bà cầu xin đủ điều, từ sức khỏe cho mợ Cả, cho tới chuyện đứa bé trong bụng phải là con trai.

Một hôm, bà Hội đồng cùng Mợ Cả đi chùa từ sớm. Từ ngoài cổng tam quan nhìn vào, bà đã thấy một ông thầy bói mù lạ mặt ngồi nép bên gốc bồ đề, trước mặt chỉ trải tấm chiếu cũ. Áo ông sờn bạc, cây gậy tre đặt ngang đầu gối. Khách qua lại đông mà chẳng mấy ai dừng chân.

Bà Hội đồng chậm bước lại, trong lòng nửa tò mò nửa dè chừng. Chưa kịp mở lời thì ông thầy đã chống gậy đứng dậy, quay hẳn về phía bà, như thể nghe rất rõ từng nhịp dép trên nền gạch.

“Dạ bẩm, tôi là thầy tên Thiện Pháp, ở trên núi Linh Sơn. Tôi tu luyện trên đó đã bao năm, nay nhân duyên đưa đẩy, đi ngao du các cảnh chùa. Hôm nay có duyên ghé tới đây,” ông chắp tay, giọng lễ độ. “Nghe thấy bà và cô bước tới, biết ngay là người trong nhà có chuyện phải lo.”

Bà Hội đồng giật mình, liếc nhìn Mợ Cả rồi đáp lại, giọng vẫn giữ lễ: “Tôi là người nhà ông Hội đồng Quyền. Hôm nay đưa con dâu đi lễ Phật, tiện ghé coi thử thầy nói sao.”

Ông thầy mù khẽ gật đầu, nghiêng tai như lắng nghe điều gì đó rất xa: “Gia đạo nhà bà đang động. Trong nhà có hỷ mà cũng có hoạ."

Bà Hội đồng nghe vậy thì khựng lại, tay nắm chặt chuỗi tràng hạt: “Thầy coi giùm coi… chuyện trong nhà tôi sắp tới ra sao. Với lại… đứa cháu trong bụng mợ đây, không biết là trai hay gái?”

“Nhà bà âm khí quá nặng,” ông nói, giọng khàn mà rõ.

Bà Hội đồng giật mình, vội gắt lại: “Thầy coi lại cho kỹ. Nhà tôi làm gì mà có âm khí nặng?”.

Ông thầy mù khẽ lắc đầu: “Hỷ hay họa, ranh giới mỏng lắm. Mợ đang mang thai, phải sinh con gái thì nhà còn yên ổn. Nhưng nếu sinh con trai… tai họa giáng xuống, nhà bà sẽ có hoạ chết người.”

Ông thở ra một hơi dài, giọng chùng xuống: “Tiếc là thân tôi bất tài, tu hành chưa tới nơi tới chốn, không tường tận được căn nguyên vì sao âm khí tụ nặng như vậy. Tôi chỉ biết rằng trong nhà bà đang có một mối oán hận rất sâu”.

Bà Hội đồng tái mặt, giận dữ quát lên: “Nè, thầy nói gở vừa thôi! Con tôi mang thai, thầy lại trù ẻo vậy đó hả?”

Bà quay sang mấy người làm đi theo: “Tụi bây, đuổi ổng đi! Đừng để ổng nói bậy thêm nữa.”

Mấy người trong chùa xôn xao. Ông thầy mù không chống cự, cũng không nói thêm lời nào nữa. Ông chậm rãi cúi xuống, gấp lại tấm chiếu cũ, gom mấy món đồ lặt vặt bỏ vào túi vải sờn. Xong đâu đó, ông chống gậy đứng lên, quay mặt về phía bà Hội đồng, cúi đầu rất nhẹ, rồi buông câu sau cùng: “Tôi nói để bà biết mà chuẩn bị. Không tránh được đâu.”

Nói rồi, ông xoay người, lần từng bước ra khỏi sân chùa. Tiếng gậy tre gõ nhịp đều đều trên nền gạch vang lên một quãng, rồi nhỏ dần, khuất hẳn sau cổng tam quan.

Từ hôm đó trở về, bà Hội đồng ngoài mặt vẫn cứng cỏi, nói cười như không có chuyện gì, nhưng trong lòng thì rối bời. Đêm nào bà cũng chong đèn khuya, hay giật mình tỉnh giấc, bất giác hay quay nhìn về phía sau nhà, nơi cái giếng nằm khuất trong bóng tối.

---

Từ lúc Nhàng ở cữ, được sắp cho ở phòng riêng, cậu Ba Nghĩa lại hay lui tới hơn trước. Ban đầu là những lần ghé qua lấy cớ hỏi han, dặn dò, sau thì không giấu giếm được dục vọng nữa. Có đêm hắn bước vô buồng, đóng cửa lại, giọng hạ thấp: “Mình ở vậy hoài không buồn sao? Cậu qua cho đỡ lạnh.”

Nhàng ngồi tựa đầu giường, hai tay đặt lên bụng, gương mặt lạnh tanh. “Cậu về đi. Tôi mệt.”

Ba Nghĩa nhếch môi cười, bước lại gần hơn: “Mệt thì càng phải có người bên cạnh mà hầu hạ. Có thai chớ có phải bị bệnh đâu mà sợ.”

Nhàng quay mặt đi, giọng dứt khoát: “Tôi nói cậu về đi.”

Bị từ chối liên tiếp, mặt Ba Nghĩa sầm xuống. Hắn đứng yên một lúc, hàm răng nghiến nhẹ. “Nè, cô đừng có làm cao. Ở cái nhà này, cô nghĩ cô có quyền gì hả?”

Nhàng vẫn không nhìn hắn, chỉ nói khẽ nhưng rắn: “Cậu Ba, tôi đang có thai, tôi không tiếp ai hết.”

Ba Nghĩa hừ một tiếng, quay phắt ra cửa, đập mạnh đến rung cả vách gỗ. Từ đó, hắn càng bực bội, cáu gắt vô cớ. Hễ gặp Nhàng là cả hai mặt lạnh như tiền, còn trong đầu hắn, cơn bực tức âm ỉ mỗi ngày một dày hơn, như than hồng bị vùi sâu chờ lúc bùng lên dữ dội.

---

Trong một buổi xế trưa, Ba Nghĩa rủ theo thằng người ở ra bờ sông đi câu cho khuây khỏa. Nắng đứng bóng, mặt nước lấp lóa, gió thổi nhè nhẹ làm lòng hắn dịu đi phần nào. Đang ngồi gỡ mồi thì hắn chợt thấy bên kia sông có một cô gái trẻ bước ra giặt áo.

Cô mặc quần lãnh đen, áo xuyến nâu đã sờn vai, tóc búi gọn sau gáy. Dáng người mảnh mai, làn da trắng nổi bật giữa bãi bùn sẫm. Mỗi cử động đều nhẹ nhàng và kín đáo, vậy mà ánh nắng chiếu lên lại làm gương mặt cô sáng rỡ một cách lạ lùng.

Ba Nghĩa ngẩn ra một lúc lâu. Hắn nghiêng đầu hỏi thằng người ở: “Con nhỏ đó là ai vậy mậy?”

Thằng ở nhìn theo, đáp liền: “Dạ thưa cậu, đó là con Sinh. Con ông Chín Lành tá điền nhà mình, ở cái chòi sát mé sông đó.”

Ba Nghĩa nhíu mày. “Ủa, tao sống ở đây bao nhiêu năm, sao giờ mới thấy?”

Thằng ở cười khì: “Bình thường làm ruộng là nó che kín mít hà cậu.”

Ba Nghĩa không nói gì thêm, nhưng ánh mắt đã dính chặt về phía bờ sông bên kia. Một lát sau, hắn đứng dậy, phủi tay, giả bộ đi dọc bờ nước. Khi tới gần, hắn lên tiếng trước: “Nè em, giặt đồ hoài không mỏi tay sao?”

Sinh giật mình, quay lại. Thấy Ba Nghĩa đứng đó, mặt cô tái đi, vội cúi đầu: “Dạ… thưa cậu Ba.”

Ba Nghĩa cười, giọng ngọt lịm: “Gặp nhau là có duyên. Cậu có chút quà này cho em.”

Nói rồi hắn lôi từ túi áo ra một cái kẹp tóc mới tinh, đặt vào tay Sinh, rồi dúi thêm mấy đồng bạc trắng.“Cầm mua vài bộ quần áo mới mà mặc. Con gái, đừng để cực quá.”

Sinh hoảng hốt, lắc đầu lia lịa: “Dạ con lạy cậu. Con không dám đâu.”

Ba Nghĩa nhướng mày, giọng hạ thấp: “Thôi cầm đi. Đừng để cậu phải nói thêm lần nào nữa.”

Sinh run lên, hai tay chắp lại, quỳ sập xuống bãi bùn: “Thưa cậu… con xin… con không dám thiệt mà.”

Trong mắt Sinh lúc này, cậu Ba Nghĩa không khác gì một con cọp dữ đang rình mồi, còn cô chỉ là con thú nhỏ không đường chạy. Cô sợ mợ Nhàng, sợ nhà ông Hội đồng biết chuyện, sợ điều tiếng, sợ nhất là cha mình, ông Chín Lành sẽ vì cô mà mang họa.

Cậu Ba Nghĩa nhìn cảnh đó, môi giật nhẹ. Hắn bỏ đi, nhưng từ hôm đó, ngày nào cũng tìm cớ đi ngang. Khi thì mua quần áo, khi thì dúi mấy đồng bạc. Trò mèo vờn chuột lặp đi lặp lại, còn Sinh thì càng ngày càng sợ, né tránh cậu Ba Nghĩa ra mặt.

Mãi tới một hôm, thấy Sinh vẫn một mực khước từ, cậu Ba Nghĩa hết kiên nhẫn. Ánh mắt hắn sầm lại, lạnh tanh. Hắn quay sang thằng người ở, nói gọn một câu: “Báo với thằng Mạnh. Chạy ra đây gặp cậu”.

---

Đêm đó, trời sập tối nhanh hơn mọi khi. Mây đen kéo thành từng mảng dày, vần vũ trên ngọn dừa, con đường mòn vốn quen thuộc, bữa nay bỗng dài ra, tối hơn, và im lặng lạ lùng đối với Sinh.

Sinh quệt mồ hôi trên trán, gánh bờ vai còn mỏi sau buổi làm đồng. Cô rảo bước, lòng chỉ mong mau tới nhà để kịp nhóm bếp. Vậy mà khi vừa qua khỏi khúc rạch nhỏ, hai bóng người từ bụi rậm bước xổ ra, đứng chặn ngang đường.

Sinh giật bắn, lùi lại một bước. Giọng cô run rẩy: “Mấy anh… mấy anh là ai? Có chuyện gì vậy?”

Không ai trả lời. Một bàn tay thô ráp chụp lấy cổ tay cô, siết mạnh. Bàn tay kia khóa lấy vai, đẩy cô giạt sang bên đường. Sinh há miệng định kêu, tiếng chưa kịp bật ra đã nghẹn lại trong cổ.

Trong nhà, ông Chín Lành nghe động liền hớt hải chạy ra. Ông già gầy guộc, chân bước lảo đảo trên nền đất ướt, vừa chạy vừa van: “Lạy mấy ông… mấy ông làm ơn tha cho con nhỏ! Nó có tội tình chi đâu!”

Một tên quay phắt lại, quát cộc lộc: “Tránh ra!” Rồi cái bóng ấy nện một cú đấm, vào mặt ông già. Ông Chín Lành khựng người, ngã quỵ xuống mép đường, tay vẫn còn chới với về phía Sinh, máu từ miệng ứa ra đỏ thẫm cả mảng đất. Tiếng thở của ông nghe khò khè, đứt đoạn.

Sinh hoảng loạn, nước mắt ứa ra. Cô cố vùng vẫy, nhưng hai cánh tay bị giữ chặt. Tên còn lại lạnh lùng rút ra một miếng vải nồng nặc mùi thuốc mê, bịt chặt lấy mũi Sinh.

"Ngủ đi cưng, cậu Ba đợi cưng lâu lắm rồi!". Hắn cười khoái chí. Mắt Sinh nhòe đi, hình ảnh ba cô gục dưới đất mờ dần rồi chìm vào bóng tối mênh mông.

---

Khi Sinh tỉnh lại, cô thấy mình đang nằm trên nền đất lạnh lẽo của nhà kho nhà ông Hội đồng. Trong ánh đèn dầu leo lét, cậu Ba Nghĩa ngồi chễm chệ trên chiếc ghế mây, đôi mắt gườm gườm nhfn Sinh đầy thú tính. Thấy hai tên gia nhân vứt Sinh xuống sàn, cậu Ba đứng dậy, chậm rãi tiến lại gần.

"Tốt lắm, tụi bây ra ngoài canh chừng cho tao.". Cậu Ba Nghĩa phất tay, ánh mắt không rời khỏi thân thể người con gái đang run rẩy vì thuốc mê chưa tan hết.

Hắn thô bạo túm lấy vạt áo cô, một tiếng "xoẹt" chói tai vang lên giữa không gian tĩnh mịch. Từng mảnh vải rách nát rơi xuống, để lộ làn da trắng ngần và lồng ngực đang phập phồng theo từng nhịp thở yếu ớt. Sự yếu thế của Sinh càng làm bản năng chiếm hữu trong lòng kẻ đồi bại trỗi dậy mạnh mẽ. Hắn lao vào cô như một con thú đói, bỏ mặc mọi sự kháng cự vô vọng.

Trong cơn đau xé lòng, Sinh lờ mờ cảm nhận thấy những giọt máu trinh nguyên thấm xuống nền đất bụi bặm. Cậu Ba nhìn xuống "chiến tích" ấy, nở một nụ cười đắc thắng và bệnh hoạn: "Cũng thơm tho đấy chứ, chả kém gì Nhàng!"

Sau khi thỏa mãn cơn dục vọng thú tính, cậu Ba thản nhiên chỉnh lại y phục. Cậu Ba rút trong túi ra xấp tiền lẻ, ném thẳng vào khuôn mặt đang đẫm nước mắt của Sinh: "Cầm lấy về mà lo thuốc thang cho ông già. Coi như cậu ban ơn cho em!"

Nói rồi, hắn bình thản quay lưng đi thẳng về phía nhà chính, để lại Sinh nằm trơ trọi, nhục nhã giữa căn kho tối tăm, lạnh lẽo với cơ thể đầy những vết bầm dập.

Sinh sống trong chuỗi ngày kinh hoàng và sợ hãi tột cùng. Sau trận đòn hiểm ác của đám gia nhân, rồi biết chuyện con gái bị Cậu Ba làm hại đời con gái, ông Chín Lành nằm liệt giường, hơi thở thoi thóp. Mọi chi phí thuốc thang, miếng cơm manh áo của hai cha con giờ đây đều đổ dồn lên đôi vai gầy của Sinh. Cô phải cắn răng đi làm mướn, làm thuê, đổi lấy vài đồng bạc lẻ về duy trì sự sống mong manh cho cha.

Nhưng tên ác quỷ không buông tha cho cô. Vài hôm sau, Ba Nghĩa lại tìm tới. Hắn không còn giả giọng ngọt ngào như trước mà đứng tựa cửa, mắt liếc xuống mảnh ruộng sát bờ sông, giọng khinh khỉnh: “Nghe cho kỹ nè Sinh. Không chịu hầu cậu, cậu lấy lại đất, rồi tống cổ ông già đang nằm thở hắt ra kia ra khỏi xứ này. Em nghĩ coi, với cái thân xác đó, ổng chịu nổi không?”

Sinh đứng lặng, đôi bàn tay siết chặt gấu áo đến run rẩy. Cô không khóc, cũng không còn sức để van xin. Vì mạng sống của cha, cô nhắm mắt đưa chân vào vũng bùn nhơ nhớp. Từ hôm đó, mỗi lần hắn tới, Sinh nằm im như một cái xác không hồn, mặc cho hắn dày vò, chà đạp. Trong lòng cô giờ đây chỉ còn một nỗi sợ mơ hồ: Sợ một ngày cha biết chuyện, và sợ cái tương lai mù mịt phía trước.

Cứ như vậy chừng hai, ba tháng, bụng Sinh bắt đầu có sự thay đổi. Cô cố nịt bụng, mặc áo rộng để giấu giếm, cho tới một buổi chiều nắng nhạt. Ông Chín Lành sau nhiều ngày uống thuốc cũng gượng dậy được chút ít. Ông chống gậy ra bờ mương cắm câu, may mắn bắt được con cá lóc to. Ông khập khiễng bước vào bếp nói với con: “Sinh ơi, bữa nay hên quá con. Có con cá lóc to nè, để tía nấu cháo rau đắng, hai cha con mình ăn cho khỏe nghen con.”

Ông vừa khó nhọc ngồi xuống làm cá, vừa thều thào kể chuyện, còn Sinh thì đứng phụ bên cạnh. Nhưng khi mùi tanh của máu cá vừa bốc lên, một cơn buồn nôn mãnh liệt ập đến. Sinh không kịp quay đi, cô nôn oẹ dồn dập ngay giữa sân, gương mặt tái mét không còn giọt máu.

Ông Chín Lành giật mình, đánh rơi con cá xuống sàn: “Ủa, con sao vậy Sinh? Mấy bữa nay tía thấy sắc mặt con kỳ quá… hay là con bệnh rồi?”

Nhìn đôi mắt trũng sâu đầy lo lắng của cha, bao nhiêu uất ức, tủi nhục bấy lâu nay vỡ òa. Sinh không đáp, nước mắt tuôn ra như mưa. Cô quỵ xuống dưới chân ông, hai tay ôm mặt, nghẹn ngào kể hết sự thật cay đắng về những ngày kinh hoàng và sự đe dọa của Ba Nghĩa.

Ông Chín Lành nghe xong, người run bần bật, con dao trên tay rơi xuống nền đất kêu một tiếng “keng” khô khốc. Ông cố vươn đôi tay gầy gộc, đầy những vết chai sần ôm chặt lấy con gái. Hai cha con ôm nhau mà tiếng khóc nghẹn lại trong cổ họng, đau đớn đến xé lòng.

Một lúc lâu sau, ông đẩy Sinh ra, bàn tay gầy guộc đấm thình thịch vào lồng ngực gầy giơ xương của mình, giọng nói vỡ vụn, khàn đặc: “Tại tía… tại cái thân già hèn mọn này làm khổ con! Phải chi bữa đó tía chết đi cho xong, để con phải bán mình lo thuốc thang cho tía thế này… Trời ơi là trời!”

Nói rồi, ông ngồi sụp xuống bậc thềm, đầu cúi gục giữa hai đầu gối. Hình bóng người cha già yếu ớt, bất lực đổ dài dưới ánh hoàng hôn sẫm tối, trông như một cái cây khô vừa bị rút cạn chút nhựa sống cuối cùng.

Kể từ đó, ông Chín Lành suy sụp hẳn. Ông nằm liệt trên chiếc chõng tre ọp ẹp, đôi mắt đờ đẫn nhìn lên mái tranh thủng lỗ chỗ, không ăn không uống, hơi thở đứt quãng như ngọn đèn trước gió. Sinh khóc hết nước mắt, chỉ sợ ba mình không qua khỏi cái dông bão này.

Thế nhưng, vào một đêm giông, khi tiếng sấm đùng đoàng rung chuyển cả mái nhà, ông bỗng dưng bật dậy. Đôi mắt ông đỏ ngầu, sòng sọc những tia máu, sức mạnh ở đâu tràn về khiến ông đứng vững chãi như một pho tượng, mặc cho Sinh hốt hoảng can ngăn. .Ông khoác vội cái áo cũ, cầm con dao phay đặt sẵn ở góc bếp, rồi vội vã bước ra khỏi nhà.

Sinh giật mình tỉnh giấc, gọi theo: “Tía… tía đi đâu vậy?” Nhưng ông không đáp, chỉ đi thẳng, dáng lom khom mà bước chân chắc lạ thường.

Quán nhậu ở đầu xóm vẫn còn đèn. Tiếng cười nói, tiếng chén đũa va nhau vang ồn ào. Ở đó, Mạnh cùng mấy thằng đàn em đang ngồi nhậu, men rượu làm mặt đứa nào cũng đỏ gay.

“Uống nữa đi! Bữa nay cậu Ba cho tiền sộp lắm!” một thằng cười hềnh hệch.

Chưa dứt câu thì cửa quán bị đẩy bật ra. Ông Chín Lành đứng đó, thở dốc, tay cầm dao nhìn chằm chằm vào nhóm của Mạnh.

Mạnh nhíu mày: “Ủa, ông già này... tao tưởng gần chết rồi?”

Ông không trả lời. Ông bước thẳng vào giữa quán, mũi dao hạ thấp, lưỡi dao lấp loáng dưới ánh đèn dầu. Một thằng vừa đứng dậy chưa kịp nói gì thì ông đã vung tay. Tiếng hét bật lên chói tai. Bàn ghế bị xô nghiêng, chén đũa rơi loảng xoảng, vách gỗ hứng trọn những vệt bắn loang lổ.

“Trời đất ơi! Ông già làm cái gì vậy!” có đứa gào lên, giọng lạc đi.

Ông Chín Lành không dừng tay. Ông tiến thêm một bước, rồi thêm một bước nữa, cánh tay nặng trĩu mà rất dứt khoát. Những nhát chém không còn nhắm trúng ai cụ thể, chỉ là cơn uất nghẹn trào ra sau bao ngày bị dồn ép. Hai đứa ngã quỵ trong chớp mắt. Những đứa còn lại hoảng loạn, xô nhau chạy, lật bàn đổ ghế, giẫm đạp lên nhau mà thoát thân. Có hai, ba đứa liều mạng lao lại ôm ghì lấy ông từ phía sau, kẹp chặt hai cánh tay gầy của ông, miệng la thất thanh: “Giữ ổng lại! Giữ ổng lại coi!” Vậy mà không hiểu sao, ông già ấy vẫn hất mạnh một cái, quật phăng một thằng thanh niên xuống đất nghe cái “bịch”, như thể trong người ông lúc đó có một sức khác, không phải sức của tuổi già.

Mạnh lảo đảo đứng dậy, rút dao, miệng chửi thề. Nhưng chân hắn trượt trên nền ướt máu, té ngã ngửa. Ông Chín Lành nhào tới, đè chặt hắn xuống, đầu gối ghì ngang ngực. Con dao phay được giơ cao, bàn tay ông run bần bật, hơi thở phì phò.

“Trả mạng tao đây!” ông gào lên, tiếng khàn vỡ cả cổ họng, vang dội trong gian quán đang hỗn loạn.

Ngay lúc đó, trời nổ một tiếng như xé đôi bầu không. Ánh sáng trắng rạch ngang không gian, làm cả gian quán lóe lên như ban ngày.

Tia sét từ trên cao bổ thẳng xuống, trúng lưỡi dao mà ông Chính Lành đang giơ lên. Một tiếng nổ chát chúa vang lên sát tai, mạnh đến mức mấy đứa đứng gần bị hất văng vào vách tường.

Một mùi khét hăng hắc lan ra, quyện với mùi rượu và mùi máu. Ánh sáng tắt phụt, để lại quán nhậu trong bóng tối đặc quánh.

Ông Chín Lành đổ gục tại chỗ, thân xác co quắp, sém cháy, hai bàn tay vẫn còn khum lại như đang nắm thứ gì đó vô hình. Mạnh thì bị hất văng sang bên, người cháy xém một bên mặt, lăn lộn gào thét trong đau đớn.

Sau đó, cả xóm nhốn nháo. Người ta xúm lại kín cả đầu quán, kẻ khóc người la, kẻ run rẩy đứng nép sau lưng nhau. Có người vừa nhìn thi thể ông Chín vừa chắp tay, miệng lẩm bẩm: “Mấy ông mấy bà ơi, sét chỉ đánh vô chỗ có ma quỷ. Trời không đánh bậy đâu.” Lại có kẻ thì thào rất khẽ, sợ như nói lớn lên là rước họa: “Ổng bị nhập rồi. Chớ người thường, già yếu vậy, sao quật nổi mấy thằng thanh niên cho được… lại còn chém loạn tới mức đó.”

Sau cơn náo loạn, xác ông Chín Lành được người ta khiêng ra đặt tạm dưới gốc cây bần ven sông. Không ai dám lại gần.

“Người bị sét đánh là có quỷ nhập đó,” một người đàn ông đứng tuổi nói khẽ, giọng chắc nịch. “Không chôn trong nghĩa địa được đâu. Chôn là rước họa cho cả làng.”

Sinh quỳ sụp xuống bên thi thể cha, nước mắt giàn giụa: “Con lạy mấy chú mấy bác… tía con... ổng là người hiền, cả đời không làm hại ai. Xin cho ổng được chôn cất tử tế, cho con có nén nhang mà lạy.”

Một người khác lắc đầu quầy quậy: “Không được đâu con ơi. Luật xưa tới giờ vậy rồi. Chôn xác là ma quỷ bám theo đó.”

Người đàn ông thở dài: “Tụi bây, cột ổng lại cho kín rồi thả trôi sông. Nước cuốn đi thì oan nghiệt cũng theo đó mà hết.”

Không ai nói thêm lời nào nữa. Xác ông Chín được quấn vội trong mấy tấm chiếu cũ, buộc dây mây chằng chéo. Khi đẩy ra giữa dòng, Sinh lao theo, ôm chặt lấy một góc chiếu mà khóc ngất. Hai người đàn ông phải giữ lấy cô, kéo giật lại.

“Thôi con ơi… buông ra đi. Buông ra cho ổng còn đi.”

Tấm chiếu trôi dần, xoay một vòng, rồi nước sông nuốt chửng, chỉ còn lại vài gợn sóng loang ra, lặng lẽ.

Cùng lúc đó, Mạnh được người nhà Hội đồng khiêng về. Thầy thuốc được mời tới coi vết thương. Một bên mặt hắn bỏng nặng, con mắt trái mù hẳn, nhưng thân thể còn tráng kiện nên qua được. Ít bữa sau, hắn đã có thể ngồi dậy, miệng vẫn còn rên rỉ, nhưng ánh mắt thì tối lại, hằn sâu một nỗi sợ hoặc một mối thù chưa tan.

---

Sau khi hay tin ông Chín Lành chết thảm, Ba Nghĩa bàng hoàng không kém. Dù ngoài mặt hắn không nói ra, trong lòng vẫn có một cái gì đó chấn động, như vừa chứng kiến một việc vượt khỏi dự tính của chính mình. Buổi xế chiều hôm ấy, hắn qua thăm Sinh.

Đứng ngoài hiên nhìn vô, hắn thấy cô ngồi co ro bên góc nhà, lưng tựa cột, hai tay ôm lấy bụng, gương mặt hốc hác, đôi mắt sưng đỏ vì khóc cạn nước mắt. Sinh gầy đi trông thấy, cái dáng nhỏ thó ấy làm hắn bất giác chững lại.

Trong lòng Ba Nghĩa bỗng dấy lên một thứ cảm xúc rất lạ. Không hẳn là ham muốn như những lần trước, mà là một sự xót xa mơ hồ, pha lẫn thương hại. Cảm giác đó khiến hắn chợt nhớ tới Nhàng ngày trước, cái ngày đầu tiên hắn để mắt tới Nhàng. Chỉ khác một điều, Nhàng bây giờ đã hoàn toàn nguội lạnh với hắn, còn Sinh thì trước mặt hắn, không còn ai để bám víu.

Hắn hắng giọng: “Ba của em…”

Sinh giật mình, ngẩng lên. Thấy Ba Nghĩa đứng đó, cô vội cúi đầu, giọng khàn đặc: “Dạ… tía em chết rồi cậu, chết thảm lắm...”

Ba Nghĩa im lặng. Hắn nhìn ra sân một lúc lâu, như để né ánh mắt cô, rồi mới nói nhỏ: “Cậu… Cậu không ngờ chuyện lại ra nông nỗi này.”

Sinh không đáp. Hai bàn tay cô siết chặt lại, móng tay bấm sâu vào da.

Không còn chỗ nương tựa, Sinh đánh liều bước ra khỏi bóng tối của căn nhà. Cô đứng nép vào cột nhà, hai tay xoắn chặt vào nhau, giọng run rẩy:

“Thưa cậu… giờ con không còn ai hết. Tía con thì như vậy… trong bụng con lại mang giọt máu của cậu.”

Cô dừng lại, hít một hơi thật sâu rồi cúi đầu thấp hơn: “Con biết thân phận mình thấp hèn, không dám mong chi cao sang. Nhưng xin cậu cho con được về ở trong nhà… làm thân phận vợ lẻ cũng được, miễn sao con còn chỗ nương thân.”

Ba Nghĩa nhìn cô rất lâu. Ánh mắt hắn không còn sắc lạnh như trước, mà trầm xuống, pha lẫn phân vân và tính toán. Cuối cùng hắn nói:“Để cậu… nói lại với ba má...”

---

Từ sau buổi gặp ông thầy bói mù Thiện Pháp, trong nhà ông Hội đồng bỗng đổi khác. Ngay gian chính, bà Hội đồng cho lập một bàn thờ Phật Bà, đặt cao hơn bàn trà thường ngày. Tượng Phật trắng ngà, gương mặt hiền từ, trước mặt lúc nào cũng có chén nước trong và bình bông huệ còn đẫm sương. Sáng nào bà cũng thay áo sạch, ngồi ngay ngắn trước bàn thờ, tay lần tràng hạt, miệng lâm râm tụng kinh. Tiếng mõ gõ nhịp đều đều, vang khô trong gian nhà rộng.

Ông Hội đồng Quyền ban đầu thấy vậy thì chau mày: “Nhà đang yên đang lành, bà bày biện mấy thứ này làm chi cho rối?”

Bà Hội đồng không quay đầu lại, chỉ khẽ đáp: “Tôi cầu cho cháu nội ông đó. Cầu cho nó là cháu trai, sinh ra mạnh giỏi, tai qua nạn khỏi.”

Nghe tới đó, ông Hội đồng cũng đồng ý: “Thôi… bà muốn làm sao thì làm. Miễn trong nhà được yên.”

Bà Hội đồng nghe vậy thì mừng thầm trong bụng. Từ đó, ngày nào bà cũng tụng kinh lâu hơn, như thể mỗi tiếng niệm là một sợi dây níu lấy phước phần cho đứa cháu chưa ra đời.

Buổi trưa hôm ấy, bà đang ngồi trước bàn thờ, tràng hạt chạy đều trong tay, miệng vừa dứt câu niệm thì ngoài hiên có tiếng bước chân. Cậu Ba Nghĩa bước vô. Cậu đứng khựng lại một chút trước bàn thờ, ánh mắt liếc nhanh lên tượng Phật Bà rồi hạ xuống.

Bà Hội đồng quay sang, giọng chậm rãi: “Có chuyện gì mà giờ này mày vô đây?”

Ba Nghĩa hắng giọng, bước thêm một bước, giọng thấp xuống như đã chuẩn bị sẵn đường lui: “Dạ… con có chuyện muốn thưa với ba má.”

Ông Hội đồng vẫn cúi mặt trên sổ sách, không ngẩng lên: “Nói đi.”

Ba Nghĩa lại liếc nhanh sang bàn thờ Phật Bà, rồi mới cất lời: “Dạ, con nhỏ Sinh… nó lỡ mang thai. Con tính xin phép ba má cho nó về ở trong nhà.”

Bà Hội đồng giật mình, tay đang lần tràng hạt bỗng khựng lại: “Cái gì? Con nhỏ tá điền đó hả? Trời đất ơi… con có biết người ta đang đồn cái gì không? Vợ mày cũng đang có bầu đó, mày quên rồi hay sao?”

Bà quay sang chồng, giọng hạ thấp nhưng run rẩy: “Nó là con của ông Chín Lành đó. Cái ông bị sét đánh chết rồi phải cột thả trôi sông đó! Rước nó vô nhà là rước cả cái vía dữ vô theo đó ông!”

Trong gian nhà thoáng lạnh hẳn đi. Ông Hội đồng Quyền chậm rãi đặt chén trà xuống, tiếng sứ chạm mặt gỗ nghe cộc một cái khô khốc. Ông không đáp liền, chỉ nhìn thẳng vào con trai: “Thiệt là cái thai đó… là của mày?”

Ba Nghĩa gật đầu, không né tránh: “Dạ.”

Ông Hội đồng hừ nhẹ một tiếng: “Mày giỏi lắm. Gây chuyện xong rồi bắt người lớn dọn dẹp.” Rồi ông quay sang vợ, giọng trầm xuống: “Bà nghĩ coi, giờ không nhận thì để nó bụng mang dạ chửa ngoài kia, thiên hạ nói tới nói lui, cái tiếng đó cũng dơ nhà mình không kém gì rước nó vô.”

Bà Hội đồng lắc đầu liên hồi: “Nhưng mà… cái chết của ông già đó dữ quá. Sét đánh chết giữa thiên hạ, còn đồn là quỷ nhập...”

Ông Hội đồng khoát tay: “Tin đồn là tin đồn. Chuyện gì rồi cũng có cách giải quyết. Nhà này lo cái thế của nhà này trước đã. Nhưng rước con nhỏ đó thẳng vô làm vợ liền thì không được.”

Ba Nghĩa ngẩng lên: “Vậy ý ba má là sao?”

Trong gian nhà im phăng phắc một lúc lâu. Bà Hội đồng nhìn ra sân, nhìn mấy gốc cây im lìm ngoài nắng chiều, rồi chậm rãi nói, giọng như tự trấn an chính mình: “Thôi thì… chờ nó sinh ra sao đã. Nếu sinh con trai thì rước hai mẹ con nó về. Còn sinh con gái… thì chu cấp tiền bạc cho nó mà sống, coi như mình trả cái nghiệp cho xong.”

Ông Hội đồng gật đầu, giọng dứt khoát, coi như đóng nắp mọi do dự: “Ừ. Vậy đi. Trước sau gì, cũng phải coi cái bụng đó sinh ra cái gì đã.”

Tin đó lan tới tai Nhàng vào một buổi chiều. Nghe xong, cô không khóc, cũng không hỏi thêm câu nào. Trên môi cô còn thoáng hiện ra một nụ cười rất nhẹ, như thể vừa nghe được một điều gì đó… thuận ý.

Người làm đứng bên cạnh ngập ngừng: “Mợ Cả… mợ không buồn hả?”

Nhàng lắc đầu, giọng bình thản: “Buồn làm gì hả con, đàn ông năm thê bảy thiếp là chuyện thường mà.” Rồi cô nói tiếp, chậm rãi, từng chữ rõ ràng trong đầu mình: “Nếu người đàn bà đó sinh con trai, mình sẽ vui hơn.”

Đêm đó, trăng bị mây che kín. Nhàng một mình ra sau vườn. Cái giếng nằm im lìm trong bóng tối, mặt nước đen đặc không phản chiếu thấy gì. Cô đứng sát miệng giếng, cúi nhìn xuống đáy sâu, môi mấp máy thì thầm, không biết là nói với nước, với đất, hay với thứ gì đang nằm rất sâu bên dưới:“Phải là con trai… phải là con trai.”
 

Chương 4: Âm mưu của Mợ Cả


Nhàng vượt cạn giữa một buổi chiều mưa lớn của miền sông nước. Ngoài vườn, mưa quất xuống mặt đất bùn nghe bì bõm, nước từ mái lá rơi thành dòng dài trước hiên, gió lùa làm ngọn đèn dầu chao nghiêng, ánh sáng bập bềnh hắt lên vách ván đã sậm màu thời gian. Xa hơn, tiếng mưa đổ xuống mặt sông hòa với tiếng nước vỗ ì oạp vào bờ, âm âm kéo dài như không dứt. Căn nhà Hội đồng giữa đêm ấy chìm trong mùi thuốc bắc, mồ hôi và mùi máu non quện đặc lại, ẩm và nồng, bám chặt vào từng nhịp thở, làm người đứng gần cũng thấy ngực mình nặng trĩu.

Bà mụ cúi sát bên giường, hai tay thoăn thoắt nhưng trán đã lấm tấm mồ hôi. Nhàng nằm ngửa, tóc ướt bết vào thái dương, hơi thở đứt quãng. Cô cắn chặt răng, không kêu một tiếng, chỉ có đôi bàn tay co lại, móng bấm sâu vào tấm đệm mỏng.

“Ráng lên, ráng thêm chút nữa đi mợ…” bà mụ vừa nói như vừa tự trấn an chính mình.

Khi đứa bé được kéo ra khỏi người mẹ, bà mụ bỗng chựng lại. Bà nhìn xuống, môi mấp máy như định nói gì đó, rồi ngẩng lên báo tin, giọng vẫn còn run nhưng đã ánh lên chút vui mừng: “Là bé trai…”

Câu nói vừa dứt, trong phòng lập tức xôn xao. Có tiếng thở phào khe khẽ, có người nhìn nhau gật đầu, nét mệt mỏi trên gương mặt bỗng dịu đi thấy rõ.

Nhưng niềm mừng chưa kịp trọn thì giọng bà mụ đã khựng hẳn. Đứa nhỏ nằm im trong tay bà, người mềm oặt, da tái nhợt. Bà mụ vỗ nhẹ vào lòng bàn chân nó, xoa ngực, búng búng lên lưng nhưng không có tác dụng. Bà cúi sát người hơn, dùng khăn ấm lau khắp người cho nó, vừa làm vừa lẩm bẩm: “Khóc đi con… khóc một tiếng cũng được…”

Bà còn bấm nhẹ vào đầu ngón tay, kéo kéo hai cánh tay nhỏ xíu, đổi tư thế, lại vỗ, lại xoa. Thời gian vẫn tiếp tục trôi qua. Đứa bé vẫn không khóc, không cựa quậy. Chỉ có cái miệng hé mở vô hồn.

Trong phòng, bà Hội đồng ngồi sát bên vách, nhìn đứa cháu nội tím tái trong tay bà mụ mà lòng rối bời, môi mấp máy không thành lời. Bà đưa tay níu lấy chéo áo bà mụ, giọng run hẳn đi: “Còn cách nào nữa không bà? Ráng cứu nó… ráng thêm chút nữa coi… Nó là đích tôn mà bà!”

Bà mụ không đáp, chỉ cắm cúi dốc ngược đứa trẻ, vỗ mạnh vào lưng nhưng đáp lại chỉ là sự im lìm đến đáng sợ. Bà Hội đồng buông tay, ngồi thừ người, hai mắt dán chặt vào đứa nhỏ, như sợ chỉ cần quay đi một tí là mọi sự sẽ tan tành.

Ngoài hiên, ông Hội đồng Quyền đang đi qua đi lại. Nghe tiếng xôn xao khác thường mà tuyệt nhiên không có tiếng khóc trẻ con, ông đẩy cửa bước vào. Chỉ cần liếc qua đứa trẻ người thâm tím, sắc mặt ông đã tối sầm xuống. Đôi mày chau lại, hàm răng nghiến nhẹ, như vừa chạm phải điều đại kỵ.

“Vậy là sao?” Ông hỏi, giọng trầm nhưng nặng như chì.

Không ai dám trả lời. Bà mụ cúi đầu, đôi tay run rẩy ôm đứa nhỏ. Bà Hội đồng há miệng định nói, nhưng cổ họng nghẹn đắng, chỉ phát ra được tiếng thở gấp gáp.

Ông Hội đồng bước lại gần, cúi xuống nhìn thẳng vào đứa cháu trai. Ông nhìn rất lâu, rồi lắc đầu, giọng chắc nịch nhưng lạnh lẽo: “Thứ này .. không phải người nhà mình. Nó đầu thai vào để đòi nợ, để ám cái nhà này thôi!”

Ông ngẩng lên, giọng bỗng gắt lại: “Điềm gở! Thiệt là điềm gở mà! Nhà này sao lại sanh ra cái thứ 'con lộn' này? Đất đai, mồ mả ông bà chắc chắn bị động rồi, nên quỷ dữ mới thừa cơ lọt vào cửa!”

Ông quay sang bà mụ, giọng thấp xuống nhưng sát khí lạnh người: “Để nó nằm đây cho nó ám hết vận may của tôi sao? Rồi hồn vía nó quẩn quanh cái nhà này?”

Ông đập mạnh tay xuống mép giường: “Gói nó lại! Đem đi ngay! Chôn khuất mắt sớm cho yên chuyện.”

Bà Hội đồng giật mình, run rẩy ôm lấy chân chồng: “Ông nói cái gì vậy? Nó… nó là máu mủ của mình mà ông! Cho nó thêm chút thời gian…”

Ông Hội đồng liếc sang, ánh mắt sắc lẹm: “Bà câm miệng! Nó không khóc, không thở, người lạnh ngắt thế kia, đó là linh hồn quỷ nhập tràng. Giữ lại để họa sát thân à?”

Lời nói rơi xuống phòng sinh nặng như một nhát búa bổ. Bà mụ run tay, giọng lắp bắp: “Thưa ông… để tôi thử vỗ thêm chút nữa… Biết đâu… biết đâu phước chủ may thầy…”

Một người gia nhân đứng gần đó cũng đánh bạo chen vào: “Hay là… hay là chờ thêm chút, thưa ông Hội đồng? Trời còn mưa gió, đi bây giờ tội nghiệp…”

Ông Hội đồng trừng mắt, gầm lên: “Chờ cái gì? Mang đi nhanh, mang đi ngay! Tìm chỗ nào xa mà chôn, đừng có lập mộ bia gì hết, để nó không tìm được đường về nhà này nữa!”

Nhàng nằm đó, nghe rõ từng chữ. Trong tai cô ù đi, nhưng lạ thay, không có cơn hoảng loạn nào ập tới. Cô hít một hơi thật khó khăn, rồi cất tiếng, giọng khàn đặc nhưng rõ ràng: “Cho con… ôm nó lần cuối.”

Căn phòng khựng lại. Ông Hội đồng quay sang nhìn Nhàng, ánh mắt thoáng do dự. Bà mụ nhìn ông, rồi nhìn người đàn bà vừa sinh con, cuối cùng cúi đầu, chậm rãi đưa đứa bé lại.

Nhàng đón lấy con. Vòng tay cô run rẩy, nhưng gương mặt vẫn lặng thin. Cô áp đứa nhỏ vào ngực, cảm nhận thân thể lạnh và nhẹ đến bất an. Môi Nhàng mấp máy, thì thầm những câu rất khẽ, không rõ là lời ru hay lời gọi, như đang níu kéo một sinh linh đứng chênh vênh đâu đó ngoài ranh giới người sống.

Viên đá nhỏ treo trước ngực cô khẽ chạm vào da đứa bé.

Ngay khoảnh khắc ấy, đứa trẻ bỗng oà khóc. Tiếng khóc bật ra đột ngột, vang và dai, xé toạc sự im lặng đang đè nặng căn phòng. Có người giật mình lùi lại nửa bước. Da thịt đứa bé dần hồng hào, lồng ngực phập phồng mạnh mẽ, như vừa được kéo về từ một nơi rất xa, rất tối.

“Khóc rồi, nó khóc rồi...” ai đó thều thào.

Không ai nói thêm lời nào. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Nhàng và đứa bé đang khóc ngặt nghẽo trong tay cô.

Ông Hội đồng Quyền đứng sững lại. Cả người ông chao đi một cái, phải vịn tay vào cột giường mới khỏi khuỵu xuống. Mặt ông tái mét, mồ hôi lạnh túa ra sau gáy. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, ông chợt thấy rõ mình vừa suýt nữa ra tay chôn chính đứa cháu ruột của mình.

Ý nghĩ đó làm tim ông thót lại. Hơi thở nghẹn ngang cổ, mắt ông dán chặt vào đứa trẻ đang khóc trong tay Nhàng, như để chắc rằng nó còn sống thật, còn hiện hữu ngay trước mặt.

Từ phía giường, bà Hội đồng nhìn ông không chớp mắt. Ông Hội đồng hít mạnh một hơi, lưng thẳng dần lên. Chỉ trong vài nhịp thở, ông đã kịp lấy lại vẻ uy quyền quen thuộc. Ông bật cười một tiếng ngắn, hơi gượng, rồi vỗ tay thật mạnh: “Điềm lành! Phải như vậy chứ!”

Ông quay phắt ra ngoài hiên. Cơn mưa đã dứt tự lúc nào, chỉ còn nước nhỏ giọt lách tách từ mái lá xuống nền đất sũng bùn. Mây xám tản dần về phía sông, để lộ một khoảng trời nhạt màu, nơi ánh nắng chiều yếu ớt bắt đầu rọi xuống, soi rõ khoảng sân còn loang nước. Ông hít một hơi dài, như trút bớt hơi lạnh trong ngực, rồi gọi gia nhân bằng giọng gấp gáp. Mấy người đàn ông đang đứng nép dưới mái lá vội vàng chạy lại, còn chưa kịp hiểu chuyện thì đã nghe ông dặn liên hồi: “Bắn pháo! Bắn liền mấy tràng cho tao. Kêu bếp dọn tiệc, nấu nướng đàng hoàng. Sai người chèo xuồng đi báo cho mấy nhà bà con, nói là nhà có cháu đích tôn”

Gia nhân dạ rối rít, người chạy ra sân lo pháo, người xắn quần lội mưa ra bếp sau. Tiếng chân dồn dập, tiếng gọi nhau í ới làm căn nhà vốn nặng nề bỗng chốc rối lên, như thể ai cũng sợ niềm vui vừa lóe lên kia sẽ vụt tắt nếu chậm tay chậm chân.

Ông Hội đồng quay trở lại buồng sinh. Ông đứng cách giường một quãng, nhìn đứa bé đang khóc trong tay Nhàng, ánh mắt không rời, như để chắc rằng nó còn sống, còn thở, còn ở lại với căn nhà này. Một lát sau, ông gật đầu thật mạnh, giọng nói vang lên dứt khoát, không cho ai xen vào: “Tên nó là Nhân.”

Cả phòng im lặng. Không ai hỏi lại hay phản đối.

“Cha tên Nghĩa, con tên Nhân… nghe đã thấy hợp lý rồi.” Ông nói, đắc chí đến mức khóe miệng cứ nhếch lên.

Giữa cái rộn ràng ấy, sự ra đời của Nhân tựa như một lời khẳng định cho số phận Nhàng. Cô đã sinh ra đích tôn cho nhà Hội đồng Quyền,và từ giây phút ấy, chỗ đứng vững vàng của Nhàng trong căn nhà này cũng được dựng lên.

---

Một tháng sau, đến lượt Sinh trở dạ. Cô vẫn ở trong căn nhà cũ của mình, căn nhà vách gỗ đã quen mùi khói bếp và tiếng gió sông thổi qua mỗi chiều. Nhà Hội đồng cử người sang chăm nom từ sớm, dặn dò kỹ lưỡng từng việc một. Bà mụ cũng là người bên nhà Hội đồng gửi qua, mang theo thuốc men, khăn vải.

Những ngày đầu, dân xung quanh còn xì xào, kẻ dè bỉu, người nửa thương nửa khinh. Đi ngang qua nhà, họ hạ giọng bàn tán: “Con nhỏ đó… chưa cưới mà chửa hoang…”, “Coi chừng mang tiếng cho cả xóm…”. Nhưng từ khi biết Sinh mang bầu con của nhà Hội đồng Quyền, mấy lời ấy thưa dần rồi tắt hẳn. Không ai dám nói lớn nữa. Người ta chỉ nhìn, rồi lặng lẽ tránh sang chuyện khác, như sợ vô tình đụng chạm tới một cái bóng quyền lực ấy.

Đêm Sinh vượt cạn, cô cắn răng chịu, vừa đau vừa lo. Lo không phải vì cái thân mình, mà vì đứa nhỏ. Cô cứ nghĩ hoài một điều: chỉ cần con mình là con trai, thì đời nó sẽ khác. Nó sẽ không phải lớn lên trong cảnh bị người ta nhìn bằng nửa con mắt.

Bà mụ vừa bồng đứa bé lên thì nó đã oà khóc, khóc to và dai, tiếng khóc đầy hơi. Hai chân nó quẫy đạp mạnh, đạp trúng cả vạt áo bà mụ, hai tay nắm lại rồi mở ra liên hồi như đòi người ta bồng cho chắc chắn.

Bà mụ cười khẽ, bớt hẳn vẻ căng thẳng, quay qua báo ngay: “Là con trai.”

Sinh nghe xong, hai mắt ươn ướt. Cô cười mà không dám cười lớn, vừa mừng vừa run. Cô đưa tay đón con, ôm sát vào ngực, cảm được cái thân nhỏ nóng hổi đang giãy giụa trong tay mình. Tiếng khóc của nó vang dội trong căn nhà vách gỗ, khác hẳn cái im lìm lạnh ngắt của đứa con mợ Nhàng bữa trước.

“Khóc lớn vậy mới phải… ráng nghe con” cô thì thào, như nói với con mà cũng như nói với chính mình”.

Cô ôm chặt hơn, như sợ chỉ cần buông lỏng một chút thì cái “phước” vừa tới sẽ trôi tuột đi. Sinh thì thào, giọng khàn khàn. “Rồi sau này… con sẽ sướng. Con khỏi phải khổ như má.”

Cậu Ba đứng ở mé cửa, không bước hẳn vào trong như cái cách người ta đối với đàn bà “chưa đàng hoàng lễ cưới”. Nhưng khi nghe “bé trai”, mắt cậu sáng lên thấy rõ. Cậu hắng giọng, nói với bà mụ, nói luôn với mấy người trong phòng, như để người ta nghe cho rõ: “Thằng nhỏ… cậu đặt tên nó là Dũng.”

Bà Mụ hỏi nhỏ: “Dũng hả cậu?”

Cậu Ba gật đầu, giọng chắc chắc: “Ừ. Dũng. Con trai thì phải có cái tên cho thật là dũng cảm”

Nói rồi, cậu quay ra ngoài, gọi một người làm đang đứng chờ ngoài hiên: “Mày chèo xuồng về bển liền. Báo với ông bà Hội đồng là Sinh sanh được con trai, mẹ tròn con vuông.”

Người kia “dạ” một tiếng, vội vàng đội nón lá, lội xuống mé sông. Tiếng mái chèo khua nước nghe gấp gáp, loãng dần trong buổi khuya.

---

Giữ đúng lời đã hứa sau khi Sinh sinh được con trai, ông bà Hội đồng làm lễ cưới rước cô về làm vợ hai cho cậu Ba Nghĩa. Nhưng Sinh không được bước qua cửa trước. Người ta bắt cô đi vòng cửa sau, vì có bầu trước khi cưới là chuyện xấu hổ, vô cửa sau cho “đỡ mang tiếng” với họ hàng và người ngoài.

Trước ngạch cửa, Sinh còn phải bước qua chậu lửa hồng cho “sạch vía”, rồi tắm lại bằng nước lá bưởi mới được bồng thằng Dũng vào buồng. Sinh chấp nhận hết. Cô không hề muốn tranh giành gì với Nhàng, càng không dám so bì với Nhân. Trong lòng cô chỉ có một điều: miễn con mình khỏe mạnh, lớn lên yên ổn, được ăn học đàng hoàng, vậy là đủ.

Từ ngày Sinh về, mợ Hai càng lạnh lùng với cậu Ba và cả với Sinh. Cậu Ba vừa bước vào buồng là mợ quay mặt, nằm im như không nghe. Có bữa cậu Ba gợi chuyện: “Hổm rầy em thấy trong người sao?”

Nhàng chỉ đáp nhát gừng: “Không sao.”

“Vậy sao em cứ tránh cậu hoài?”

Nhàng im lặng không trả lời cậu Ba nữa.

Cậu Ba vốn tính nóng, lại quen được vợ săn sóc từng chút một. Gặp cái lạnh lùng của Nhàng vài bữa thì bực, vài bữa nữa thì chán hẳn. Ban đầu cậu còn ráng nán lại, kiếm chuyện nói vài câu cho có lệ, nhưng càng nói càng thấy mình như người dư ra trong chính buồng vợ.

Rồi cậu bắt đầu qua bên buồng của Sinh. Lúc đầu chỉ là ghé hỏi thăm cho phải phép, coi thằng nhỏ ngủ được không, ăn uống ra sao. Nhưng thành thói quen lúc nào không hay. Đêm nào cậu cũng rẽ sang buồng bên, ngồi lâu hơn một chút, nói nhiều hơn một chút. Và càng qua, cậu càng tỏ ra thương thằng Dũng hơn cả thằng Nhân.

Cái thương ấy không ồn ào, chỉ là những việc rất nhỏ: bồng thằng Dũng lâu hơn, dỗ kỹ hơn, hỏi han Sinh nhiều hơn vài câu. Có bữa cậu bồng thằng nhỏ, nhìn nó đạp chân đạp tay mà buột miệng nói: “Thằng này coi vậy mà khỏe ghê. Ráng ngoan với giỏi sau này theo ba nha”.

Những câu nói đó lọt vào tai người trong nhà, ai nghe cũng để bụng. Người ta bắt đầu xì xào, đoán già đoán non rằng kiểu này thế nào mợ Cả cũng nổi ghen.

Nhưng Nhàng thì không. Nhàng vẫn lặng thinh, nhìn mọi thứ trôi đi như thể đã đoán trước.

Còn thằng Mạnh, từ lúc mợ Sinh bước chân vào nhà, hắn cũng đổi khác. Hắn hay lảng vảng gần buồng Sinh, ánh mắt liếc qua liếc lại, nửa dò xét nửa thèm khát, rồi lại quay về đứng sau lưng mợ Nhàng, tỏ ra nghe lời và siêng năng hơn trước. Người trong nhà chỉ nghĩ đơn giản đó là Mạnh nịnh mợ Cả để giữ chỗ đứng.

Từ ngày có tiếng trẻ con trong nhà, không khí bớt nặng nề hẳn. Ông bà Hội đồng trông như trẻ ra mấy tuổi, suốt ngày lui cui bồng cháu, sai người nấu món này món kia. Dần dần, ông Hội đồng giao lại phần lớn việc ruộng đất, lò gạch cho cậu Ba lo liệu.

Một buổi xế chiều, cậu Ba ghé qua buồng Sinh. Thằng Dũng nằm võng ngủ khò khè, hai tay buông thõng, cái bụng phập phồng đều đều. Mợ Hai Sinh đang ngồi vá lại cái áo nhỏ cho con.

Cậu Ba đứng nhìn một lúc rồi nói khẽ: “Em à, ít bữa nữa, cậu phải đi xa.”

Sinh ngẩng lên ngạc nhiên: “Đi đâu vậy cậu?”

“Xuống miệt Cà Mau” Cậu đáp, giọng thản nhiên. “Ba giao cho cậu đi coi mấy trăm mẫu đất của đám dân khai hoang. Chưa có giấy tờ gì hết, phải xuống coi cho kỹ.”

Sinh khựng tay lại, nhìn cậu Ba: “Tía… giao cho cậu hả? Mà đi… lâu không cậu?”

Cậu Ba khẽ nhíu mày, nhắc nhỏ: “Sinh, trong nhà này, đừng có gọi là tía. Gọi ba thôi, cậu đi tầm mười bữa nửa tháng gì đó. Chuyện đất đai đâu có lẹ.”

Sinh im lặng một chút rồi nói nhỏ: “Cậu đi xa, ở nhà chỉ có má con em…”

Cậu Ba xua tay: “Có kẻ ăn người ở trong nhà lo. Với lại… cậu dặn rồi. Không ai dám để hai má con bị thiếu thốn đâu.”

Nói rồi, cậu cúi xuống bồng thằng Dũng lên, dỗ dỗ vài cái. Thằng nhỏ ọ ẹ một tiếng rồi nắm lấy ngón tay cậu. Cậu cười: “Ở nhà ngoan nghe con. Đợi ba về.”

Ngoài hành lang, thằng Mạnh đứng khuất sau cột nhà. Hắn nghe không sót một chữ. Nghe tới hai chữ Cà Mau, hắn khẽ nheo mắt lại. Nghe tới chuyện cậu Ba đi mười bữa nửa tháng, khóe miệng hắn nhếch lên rất nhẹ.

Hắn lùi ra sau, bước chân nhẹ như mèo, rồi men theo hành lang tối, tiến thẳng về phía phòng mợ Cả Nhàng. Trong lòng hắn dậy lên một thứ gì đó vừa hả hê vừa sốt ruột. Hắn biết, khi cậu Ba đi khỏi nhà, sẽ có những chuyện không ai còn đủ sức ngăn nữa.

---

Vài ngày sau, khi cậu Ba Nghĩa đã xuống Cà Mau, trong nhà mọi chuyện vẫn diễn ra như bình thường. Buổi trưa hôm đó, nắng trải mỏng ngoài sân, hắt lên vách gỗ một màu vàng lợt. Nhàng ngồi một mình bên bàn, trước mặt là chén trà đã nguội phân nửa. Nhàng nâng chén lên rồi lại đặt xuống, trong đầu rối bời những ý nghĩ chưa kịp thành hình.

Gần đó, thằng Nhân được đặt ngồi trên tấm chiếu trải sát vách. Nó lật qua lật lại mấy món đồ chơi bằng gỗ: con ngựa nhỏ sơn đỏ đã tróc sơn, cái trống tay kêu lộp bộp mỗi khi nó vỗ mạnh. Thỉnh thoảng nó ê a một tiếng, cười khúc khích với chính mình, hoàn toàn không hay biết những gì trong lòng người mẹ đang ngồi cách đó chỉ vài bước chân.

Bỗng có tiếng chân bước nhẹ ngoài hiên. “Em Nhàng…”

Nhàng giật mình, quay phắt lại. Chén trà trong tay suýt nữa đổ ra bàn. Chưa kịp nói gì thì thằng Nhân đã ngẩng đầu lên, nhận ra người quen. Nó tập tễnh đứng dậy, ôm cái trống gỗ chạy lạch bạch tới, miệng ê a gọi cô Hai cô Hai.

“Ủa, Nhân…” Hai Kim bật cười, cúi xuống dang tay.

Thằng nhỏ nhào tới ôm lấy chân cô, cái trống rơi bịch xuống chiếu. Hai Kim bồng nó lên, xốc nhẹ một cái rồi áp vào ngực, cười hiền: “Trời đất, mới mấy bữa mà lớn dữ vậy hả?”

Nhàng nhìn cảnh đó một chút rồi khẽ lên tiếng: “Nhân, ra ngoài vườn chơi đi con. Ra đó coi mấy chậu kiểng.”

Nhân nghe lời mẹ, lưỡng lự một chút như còn tiếc vòng tay cô Hai, rồi mới nhảy tót xuống chiếu. Nó ngước lên chào cô Hai một tiếng, quay sang nhìn mẹ cười hớn hở, chào thêm lần nữa cho đủ lễ, rồi ôm cái trống gỗ chạy lon ton ra vườn, tiếng chân nhỏ thịch thịch trên nền đất ẩm nghe rất rõ.

Nhàng nhìn cảnh đó, nhịp tim cũng dịu đi. Cô đặt chén trà xuống, nói khẽ: “Chị về khi nào vậy? Chị làm em hết hồn.”

Hai Kim ôm thằng nhỏ, nghiêng đầu chọc: “Nè, bộ em làm gì xấu hay sao mà giật thót vậy?”

Nhàng khựng lại một nhịp, rồi cười trừ: “Em đang nghĩ linh tinh thôi.”

Hai Kim bước vào, ngồi xuống đối diện, nhìn thẳng Nhàng: “Nghĩ gì mà thần hồn nát thần tính dữ vậy?”

Nhàng tránh ánh mắt chị, đưa tay rót trà: “Có gì đâu. Mà cậu Ba đi Cà Mau rồi, trong nhà mấy bữa nay vắng hẳn, em quen không được. Bên chị dạo này sao rồi?” Nhàng hỏi, tay rót trà cho chị.

Hai Kim ngồi xuống, đỡ lấy chén trà, thổi nhẹ một cái rồi mới nhấp: “Cũng tàm tạm thôi em. Năm đầu còn lạ nước lạ cái, giờ thì quen dần rồi.”

Nhàng gật đầu. cô định hỏi thêm điều gì đó, nhưng ánh mắt bỗng dừng lại nơi cổ Hai Kim. Cái cổ trống trơn, trắng và lạ, làm cô khựng lại.

“Ủa…” Nhàng hạ giọng. “Cái sợi dây chuyền mặt đá chị hay đeo đâu rồi?”

Hai Kim thoáng sững lại. Cô đưa tay vuốt nhẹ cổ áo, như theo phản xạ che đi chỗ trống quen thuộc ấy, rồi cười gượng: “À… không đeo nữa. Bên nhà chồng tháng trước có thấy chị đeo, người ta nói con dâu nhà quan thì không nên đeo mấy thứ đó. Phải đeo vàng, đeo bạc cho đúng phép.”

“Vậy hả…” Nhàng đáp khẽ. Chén trà trong tay mợ nguội dần mà mợ không hay. Ánh mắt Nhàng dừng lại trên cổ Hai Kim lâu hơn cần thiết, rồi cô quay đi chỗ khác.

Hai Kim thấy vậy, bèn nói thêm, giọng như tự trấn an: “Ban đầu chị cũng thấy lạ lắm, tại đeo quen rồi, bỏ ra thấy thiếu thiếu. Nhưng ở nhà chồng, thì cũng phải quen thôi em à.”

Nhàng gật đầu, môi mím lại. Cô cười nhẹ: “Dạ… ở đâu thì theo đó. Chắc rồi cũng quen.”

Hai Kim nhìn Nhàng, ngập ngừng hỏi: “Còn em? Từ ngày có thêm Sinh rồi thằng Dũng… mọi chuyện ổn không?”

Nhàng khẽ nhấc chén trà lên, uống một ngụm nhỏ: “Dạ ổn. Đàn ông năm thê bảy thiếp bình thường mà chị. Với lại trong nhà này, cái gì cũng có người lo.”

Câu trả lời gọng gàng như muốn đóng lại câu chuyện. Nhàng đặt chén trà xuống, đứng dậy, vuốt lại nếp áo: “Tự nhiên em thấy trong người hơi mệt. Em vô giường nghỉ chút.”

Rồi như sực nhớ ra điều gì, Nhàng nói thêm, giọng vẫn nhẹ và đều: “Chị Hai lên thăm ba má đi. Tiện ghé qua buồng mợ Sinh coi sao, bình thường cậu Ba chăm mợ Sinh với thằng Dũng lắm, chị em nói chuyện cho đỡ buồn.”

Hai Kim ngạc nhiên: “Ủa Nhàng , mới nói chuyện có chút xíu mà?”

Nhàng chỉ cười nhẹ: “Dạ chắc tại trời nóng.”

Nói rồi, mợ quay lưng đi thẳng về giường. Hai Kim nhìn theo một lúc lâu, muốn gọi lại mà không biết gọi gì.

Từ giây phút đó, Nhàng tránh không ở gần Hai Kim nữa. Không phải vì ghét, cũng không phải vì giận. Chỉ là mỗi lần nhìn thấy cái cổ trống trơn kia, trong lòng Nhàng lại dội lên một cảm giác rất khó chịu, cảm giác của một người từng mang trên mình một thứ quan trọng, rồi đến một ngày, thứ đó bị lấy đi...

---

Đêm đó, Hai Kim trằn trọc mãi không ngủ được. Cái vẻ lạnh nhạt ban chiều của Nhàng cứ lởn vởn trong đầu, như có điều gì chưa nói hết. Cô trở mình, rồi ngồi dậy, rón rén bước ra hiên cho thoáng.

Gió khuya thổi nhẹ qua hàng dừa, đèn dầu trong nhà chỉ còn leo lét. Bỗng Hai Kim khựng lại. Ở cuối hành lang, một cái bóng lấp ló vừa khuất sau cột, rồi lại di chuyển, hướng thẳng về phía buồng mợ Hai Sinh.

“Là ăn trộm?” Hai Kim thì thầm, tim đập thình thịch. Cô nín thở, nhón chân định vòng qua sau bụi cây để nhìn cho rõ.

Nhưng chỉ kịp bước vài bước, cô chạm mặt thằng Mạnh đang đứng trong bóng tối, cũng đang nhìn chằm chằm về phía kẻ lạ mặt.

“Cô Hai Kim…” Hắn hạ giọng.

“Mạnh, anh có thấy gì không?” Hai Kim kéo tay hắn, nói rất khẽ. “Hồi nãy tôi thấy có bóng người đi về phía buồng mợ Sinh.”

Mạnh gật đầu chậm rãi, mắt nheo lại: “Dạ, con cũng thấy. Con đang bám theo nó nè.”

Hai Kim nuốt nước bọt hỏi: “Giờ sao đây anh Mạnh?”

Mạnh tay đang lăm lăm khúc gỗ, hắn nói nhỏ: “Cô Hai đi theo con, để coi là thằng nào, mà dám lẻn vào nhà ông bà Hội đồng.”

Hai Kim khẽ gật. Cả hai rón rén bước, tiếng chân nhẹ đến mức chính họ cũng nghe rõ nhịp thở của mình. Tới gần buồng Sinh, họ thấy trong phòng hắt ra một vệt sáng mờ, bóng người in lên vách ván, chuyển động chậm chạp.

Mạnh áp tai vào cửa, ra hiệu im lặng. Rồi bất ngờ, hắn đạp mạnh, đẩy cửa xông vào.

Ánh đèn dầu bừng lên. Trên giường, mợ Sinh nằm trần truồng, mắt khép hờ, hơi thở đều như đang ngủ say. Kế bên giường, một người đàn ông giật mình, cuống cuồng kéo quần lên, tay run run thắt lại dây lưng.

Hai Kim đứng sững, tim như dừng lại. Không khí trong phòng đặc quánh, chỉ còn tiếng thở gấp gáp và ánh đèn chao đảo, hắt lên những gương mặt vừa lộ ra trong đêm.

Tiếng la của Hai Kim như xé toạc màn đêm. “Trời ơi!!!!”

Chỉ trong khoảnh khắc, cả nhà thức giấc. Tiếng cửa mở rầm rập, tiếng chân dồn dập từ trên xuống dưới. Ông bà Hội đồng vừa chạy vừa hỏi dồn dập: “Chuyện gì đó? Ai la vậy?”

“Gian phu! Bắt được gian phu trong buồng mợ Sinh!” tiếng người làm la theo, giọng hoảng hốt.

Đèn dầu được thắp lên vội vã. Ánh sáng chao đảo hắt vào căn buồng nhỏ, lộ rõ người đàn ông đang quỳ thụp dưới đất, quần áo xốc xếch. Hắn ú ớ, há miệng định nói nhưng chỉ phát ra những âm thanh méo mó, không thành tiếng.

“Thằng này… bị câm hả?” một anh người làm ngạc nhiên.

Người đàn ông ngước lên. Hắn vẫn nhìn chằm chằm Mạnh, hắn bỗng mỉm cười, một nụ cười lạ lùng như gặp lại người quen cũ.

“Nó… nó cười kìa!” một người làm thốt lên.

Hắn đảo mắt nhìn quanh, như tìm kiếm một gương mặt quen khác giữa đám đông. Rồi từ xa, hắn thoáng thấy Nhàng đứng phía sau mọi người. Ánh nhìn cầu cứu vừa kịp nhen lên thì Mạnh đã gầm một tiếng: “Thằng chó!”

Hắn xông tới, đấm thẳng vào mặt người kia. Một tiếng "bịch" khô khốc vang lên. Máu mũi phun ra, người đàn ông ngã dúi dụi xuống nền.

“Đánh chết nó đi, dám lẻn vào nhà Hội đồng hả!” một giọng đàn ông hét lên.

Mạnh không đáp. Hắn tiếp tục dẫm mạnh lên lưng kẻ kia, chửi rủa liên hồi. Gương mặt bị sét phỏng cháy một bên co giật dữ dội, con mắt mù lõm sâu như hốc tối. Con mắt còn lại đỏ quạch, ánh lên sự hung tợn gần như mất tính người. “Mày gan lắm, dám lẻn vô nhà này hả? Dám đụng tới người trong nhà Hội đồng hả?”

Hắn đạp thêm mấy cái nữa. Tiếng xương va xuống nền nghe khô khốc.

Nhàng đứng phía sau, không nói một lời. Ánh đèn chập chờn soi rõ gương mặt mợ tái nhợt nhưng đôi mắt lạnh lùng.

Ông Hội đồng giận dữ quát lớn: “Tui bây lấy nước! Hắt vô mặt con Sinh cho tao!”

Người làm vội xách thau nước tạt mạnh. Mợ Sinh ho sặc sụa, choàng tỉnh, chưa kịp hiểu chuyện đã nghe ông Hội đồng gằn giọng: “Trói tụi nó lại! Cả hai đứa!”

Dây thừng được quăng ra. Người đàn ông bị trói giật cánh khuỷu, vẫn chỉ ú ớ không thốt nên lời. Ông Hội đồng chỉ tay ra sân: “Tui bây mau chặt mây tươi! Chặt nhiều vô, mẹ nó!”

Ít phút sau, những cây mây còn ướt được đập dập, quất tới tấp xuống hai thân người đang quằn quại dưới nền. Tiếng roi mây vun vút xé gió, dội xuống lưng thịt nghe chan chát. Tiếng rên nghẹn lẫn trong tiếng chửi rủa, tiếng người hò hét chồng lên nhau làm cả căn nhà rung bần bật.

“Thôi đủ rồi! Xin ba má… con không biết… con không biết hắn là ai hết!” mợ Sinh quỳ sụp xuống, hai tay chắp lại, giọng vỡ ra vì khóc. “Con thề… Con thề trước ông bà tổ tiên…”

“Câm miệng!” Ông Hội đồng Quyền la lên. “Cả nhà bắt gặp tại trận mà mày còn chối hả?”

Người đàn ông kia chỉ ú ớ, cổ họng phát ra những âm thanh méo mó. Hắn ngước mắt, nhìn về phía Mạnh rồi sang phía Nhàng, ánh nhìn cầu cứu run rẩy.

“Mày nhìn ai đó?” Mạnh gầm lên, nện thêm một roi. “Mày tưởng còn đường sống hả?”

Bà Hội đồng đứng ngoài, tim đập dồn dập. Bà nhìn quanh, rồi hạ giọng gấp gáp với chồng: “Ông ơi… đánh nữa là hàng xóm nghe hết. Chuyện mà lộ ra là nhục cả dòng họ mình. Thôi, dừng tay lại đi ông.”

Ông Hội đồng còn hầm hầm, nắm chặt tay: “Đúng là nhục nhã mà, làm mợ không muốn, muốn làm con.”

“Thôi, để tôi tính” bà Hội đồng nói nhanh, giọng rắn lại. Bà quay sang đám người làm: “Nhốt tụi nó vô phòng củi phía sau. Khóa lại cho kỹ.”

Bà dừng một nhịp, ánh mắt quét qua từng người, giọng hạ thấp hơn: “Chuyện hôm nay đó, tao cấm đứa nào được hé răng ra ngoài. Chuyện mà lọt ra ngoài dù chỉ một chữ… tao giết từng đứa, nghe chưa?”

“Dạ… dạ!” đám người làm run rẩy, gật đầu lia lịa.

Mạnh bước tới trước, xốc hai kẻ đang rũ rượi dậy. Hắn nhếch mép: “Ông bà, để con lôi tụi nó đi”.

Hắn kéo mạnh, lôi cả hai đi về phía nhà kho. Cánh cửa phòng củi kêu cót két mở ra rồi sập lại cái rầm, khóa then cài chặt. Bóng đêm nuốt trọn tiếng thở dốc phía sau cánh cửa, để lại trong sân một khoảng lặng nặng nề, ai nấy đều tránh nhìn vào nhau.

---

Tối hôm đó, sau khi Mạnh giúp nhà ông Hội đồng nhốt kín được đôi “gian phu dâm phụ”, ông Hội đồng gọi hắn lại, dúi vào tay một túi tiền nặng trịch.

“Mày làm tốt lắm”. Ông nói ngắn gọn. “Giờ mày phân công đám người làm ở lại canh cho kỹ. Để mai tao báo cho thằng Ba, rồi về xử lý một thể”.

Mạnh cúi đầu: “Dạ. Ông cứ yên tâm, con sẽ thức canh tới sáng.”

Nhưng khi ông bà Hội đồng đã trở về buồng của mình, hắn lập tức gọi hai tên người làm khác thế chỗ, dặn khẽ: “Nè, tao đi công chuyện, tụi mày ở đây canh cho kỹ, tao cho tụi mày tiền”.

Sau khi ném đồng bạc cho hai người kia, Mạnh lách mình qua cổng sau. Hắn đi nhẹ như một con mèo, đôi mắt sắc lạnh quét qua những bụi tầm xuân mờ mịt trong đêm.

Theo thói quen, hắn hướng thẳng về phía bờ sông, nơi có căn nhà lá rách nát của Tư Ếch, tên đàn em trung thành và thạo việc nhất của hắn. Mạnh định rủ nó ra xóm ngoài làm vài chén rượu mạnh như thường lệ.

Càng gần đến nhà Tư Ếch, không gian càng đặc quánh một mùi ẩm mốc của bùn sông và cỏ dại. Căn nhà của Tư Ếch hiện ra, đen sẫm và im lìm giữa cánh đồng. Không có ánh đèn, không có tiếng ngáy quen thuộc của gã đàn em. Mạnh thấy cánh cửa khép hờ, đập lạch cạch vào khung gỗ theo mỗi cơn gió lạnh.

"Thằng Tư Ếch? Dậy đi nhậu mày!" Mạnh gọi khẽ, chân đẩy cửa bước vào.

Bỗng một mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi khiến Mạnh choáng váng, cổ họng dâng lên cơn buồn nôn dữ dội. Trong bóng tối đặc quánh, hắn lờ mờ thấy một khối đen sì nằm phè ra giữa sàn, bất động.

Mạnh run tay quẹt que diêm. Ánh lửa vàng vọt bùng lên trong tích tắc, rồi đứng lại, soi một cảnh tượng khiến ruột gan hắn lạnh cứng.

Tư Ếch nằm ngửa, hai tay dang ra như bị đóng đinh xuống sàn. Bụng hắn bị rạch toạc từ ngực xuống tận háng, miệng vết mổ banh ra, mép thịt tái xám quăn lại như bị luộc sơ. Ruột gan lòi hẳn ra ngoài, trĩu nặng, tím bầm, còn bốc hơi ấm, dính đầy bùn đất và rơm rạ.

Đáng sợ hơn cả là đám chuột đồng. Mắt chúng đỏ lòm như than hồng, thân hình nhầy nhụa, lổm ngổm bò kín lên ổ bụng bị phanh ra. Mõm chúng cắm sâu vào mô thịt, răng nghiến vào gân máu nghe nhóp nhép… khục… khục, những âm thanh trần trụi, chậm rãi, vang vọng trong căn nhà tối om.

Một con chuột ngẩng đầu lên nhìn Mạnh. Máu và mỡ dính đầy ria mép, nhỏ tong tong xuống sàn. Nó kêu chít một tiếng khàn khàn, rồi lại chúi đầu xuống ổ bụng, tiếp tục gặm nhấm như thể cái xác kia chỉ là một bữa ăn dang dở.

“Trời đất ơi...” Mạnh lùi lại nửa bước, que diêm trên tay run rẩy.

Bất thình lình, cái xác co giật. Tư Ếch chưa chết hẳn. Hắn mấp máy môi, đôi mắt trợn ngược trắng dã nhìn trân trân lên mái lá. Một âm thanh khàn đặc như tiếng gió rít qua thực quản bị cắt dở thoát ra: “Đại ca... nó... nó còn sống... nó về... đòi...”

“Là ai? Mày nói rõ ra coi!” Mạnh nghiến răng, túm lấy vai gã đàn em giật mạnh.

Tư Ếch há miệng, nhưng chỉ có những bong bóng máu trào ra. Đầu hắn ngoẹo sang một bên, hơi thở cuối cùng tắt ngấm. Ngay lúc đó, một mùi cồn nồng nặc lạ lùng đột ngột bao trùm lấy căn nhà. Mạnh sởn gai ốc, cảm giác có một đôi mắt đang nhìn chằm chằm vào lưng mình từ phía cửa. “Ê! Là ai đó?”

Chưa kịp quay đầu, một mồi lửa từ bên ngoài ném vào vách lá khô. Lửa bắt vào cồn bùng lên nhanh như một tiếng nổ. Khói đen cuộn vòng, nuốt chửng lấy căn nhà. Mạnh chỉ kịp lao mình ra cửa sau, lăn mấy vòng trên đất ẩm để dập lửa bén vào gấu áo.

Hắn đứng bật dậy, hơi thở hổn hển. Phía sau, căn nhà lá của Tư Ếch đã biến thành một ngọn đuốc khổng lồ. Ánh lửa đỏ rực hắt lên khuôn mặt bị sẹo cháy xém của Mạnh, làm con mắt còn lại của hắn đỏ quạch vì phẫn nộ và sợ hãi. Dưới chân hắn, trong ánh sáng chói lòa của đám cháy, hiện rõ những dấu chân in trên nền đất bùn. Đó không phải dấu chân người thường; chúng đen kịt như tàn tro, vương vãi những mảng da thịt cháy sém bốc mùi khét lẹt. Dấu chân kéo lê một đoạn rồi mất hút vào bóng tối đen ngòm của cánh đồng.

Từ trong biển lửa, tiếng xương cốt của Tư Ếch nổ lách tách hòa cùng tiếng gió rít qua kẽ lá như tiếng cười ma quái. Mạnh đứng chết lặng, lời trăng trối của đàn em cứ xoáy vào đầu: “Nó còn sống...” Nó Là ai?

Nỗi sợ len lỏi vào tận tủy xương, nhưng rồi sự tàn nhẫn kinh niên lại chiếm lấy tâm trí. Mạnh chỉnh lại vạt áo, nhìn đám cháy dần lụi tàn rồi quay lưng đi thẳng về phía nhà Hội đồng. Hắn tự nhủ bằng một giọng lạnh lẽo: “Thôi thì chết thêm một thằng... thì càng ít người biết chuyện.”

Trong khi ngọn lửa phía xóm ngoài đang liếm trọn nhà Tư Ếch, thì tại nhà Hội đồng, không gian lại rơi vào một thứ im lặng đặc quánh đến rợn người.

Giữa bóng tối chập choạng ấy, mợ Nhàng lặng lẽ bước ra phía giếng. Cô di chuyển chậm chạp, đôi bàn chân trần lướt trên nền đất nhẹ bẫng như một bóng ma, như thể cô đang sợ rằng chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng đủ để đánh thức mọi người trong nhà.

Dưới chân Nhàng, sỏi đá im lìm một cách lạ thường, không một tiếng lạo xạo. Trên cao, mảnh trăng khuyết bị những dải mây đen vắt ngang che khuất, ánh trăng ấy soi rọi xuống mặt nước giếng sâu thẳm.

Nhàng đứng lại bên thành giếng rất lâu. Cô không cúi xuống ngay, chỉ đứng nhìn, mắt mở to nhưng trống rỗng, như đang gom hết can đảm trước khi nhìn thẳng vào thứ đang chờ mình dưới đó.

Rồi cô mới chậm rãi nghiêng người, đưa mắt xuống đáy giếng tối hun hút nơi ánh trăng không chạm tới, chỉ còn một khoảng đen sâu thẳm.

Từ lòng giếng, mùi ẩm lạnh bốc lên, lẫn mùi rêu non ngai ngái. Một tiếng tách rất khẽ vang lên, giọt nước rơi từ đâu đó, chạm mặt nước rồi tan biến. Nhàng nghiêng đầu, như đang lắng nghe.

“Chút nữa thôi…” cô thì thầm. “Sắp rồi… sắp rồi… đợi nhé.”

Mặt nước dưới giếng bỗng khẽ gợn. Nhàng không lùi lại, cô đưa tay chạm nhẹ vào vành giếng lạnh ngắt, đầu ngón tay khựng lại như vừa chạm phải hơi lạnh.

“Đừng nôn nóng” cô nói tiếp, thấp hơn nữa. “Việc nào cũng phải tới lúc.”

Một tiếng ụp rất khẽ vọng lên từ đáy, không rõ là nước hay thứ gì đó vừa chạm thành giếng. Nhàng đứng yên thêm một lúc, hít sâu một hơi, rồi thẳng người dậy. Gương mặt cô vẫn bình thản, rồi co quay lưng, bước vào nhà. Sau lưng Nhàng, mặt giếng trở lại phẳng lặng, tối đen như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
Harukukenly,
Trả lời
345
Lượt xem
35.238
Quay lại
Lên đầu trang