Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng
Buổi chiều hôm đó, sau buổi dạy học trò trở về, thầy Ký Lục thay áo, rửa tay, rồi theo thói quen ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ cũ ngoài gian trước để uống trà.
Trà trong ấm đã rót ra được hai lượt, khói mỏng bay lên rồi tan mất giữa gian nhà rộng nhưng trống trải. Thầy ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, hai tay chắp hờ trước chén trà, dáng một người đã quen giữ lễ nghĩa cả đời. .
Phía sau nhà, trong gian bếp ám khói, vợ thầy – bà Bảy Lệ và Nhàng đang lo cơm chiều. Tiếng dao chạm thớt đều đều, mùi lửa rơm quyện mùi canh sôi nhè nhẹ, những âm thanh rất quen của một mái nhà bình thường. Thầy không ngoái nhìn ra sau, nhưng trong lòng biết rõ từng nhịp sinh hoạt ấy, như thể chỉ cần quay đầu lại là thấy vợ và con gái mình đang cúi mặt nhóm bếp.
Đôi mắt thầy nhìn xuống mặt trà, không nhìn ra ngoài sân, nơi nắng chiều đang tắt dần. Trong ánh mắt ấy có một nỗi lo âm ỉ, từ sáng đến giờ, lòng thầy đã không yên, như thể đang chờ một người sẽ đến, mang theo chuyện không vui mà thầy đã lờ mờ đoán trước.
Tiếng dép bước ngoài hiên vang lên khe khẽ. Bà Dậu, nổi tiếng với việc mai mối bước vào, dáng người gọn gàng, cách nói chuyện vừa mực của người quen đi lại giữa các nhà quyền thế. Bà dừng lại nơi ngưỡng cửa, cúi đầu chào cho phải lễ rồi mới cất giọng: “Thưa thầy Ký Lục, tôi qua đây theo lời nhờ của bên nhà ông hội đồng Quyền.”
Thầy Ký Lục khẽ khựng lại. Chén trà trên tay dừng giữa chừng, rồi được đặt xuống bàn thật nhẹ. Thầy ngẩng lên nhìn bà Dậu, ánh mắt vẫn ôn hòa, nhưng vẫn đề phòng rất kín kẽ.
“Bên đó nhờ bà qua, chắc không phải chuyện nhỏ” thầy nói chậm rãi.
Bà Dậu gật đầu, tiến thêm một bước rồi mới thưa tiếp: “Dạ, chuyện là cậu Ba Nghĩa, con trai độc nhất của ông bà hội đồng, có để mắt tới con gái thầy. Bên đó muốn tôi sang hỏi chuyện mai mối, xem ý nhà mình thế nào.”
Thầy Ký Lục đưa tay vuốt nhẹ mép chén trà, như giữ cho giọng mình khỏi run. Ông nói: “Thôi, mời bà Dậu vào nhà ngồi nói chuyện cho phải lẽ.”
Rồi ông ngẩng lên, cất giọng lớn hơn thường ngày, gọi vọng về phía sau bếp: “Bà nó ơi, có khách, mình lên đây tiếp chuyện cho phải phép. Con Nhàng pha cho ba ấm trà mới.”
Chỉ một lát sau, bà Bảy Lệ từ gian bếp bước lên. Bà thoáng giật mình khi thấy bà Dậu đã an tọa đối diện chồng mình, dáng ngồi thẳng thớm, tay đặt gọn trên đầu gối. Dù bất ngờ, bà vẫn giữ lễ, cúi đầu chào khách rồi lặng lẽ ngồi xuống bên thầy.
Nhàng theo sau, hai tay bưng khay trà mới pha, hương trà còn nghi ngút. Khi cô vừa đặt chén xuống, bà Dậu ngước lên nhìn Nhàng chằm chằm, ánh mắt dò xét không giấu giếm, khóe miệng nhếch lên một nụ cười, nửa như khen, nửa như đã tính toán xong điều gì đó.
Thầy Ký Lục thoáng liếc nhìn con gái, như đã hiểu ý. Ông hắng giọng, nói chậm rãi nhưng dứt khoát: “Con ra sau bếp lo cơm nước tiếp đi. Để ba với má ở đây tiếp bà Dậu.”
Nhàng khẽ cúi đầu dạ nhỏ một tiếng, rồi xoay người bước đi. Vừa bước về phía gian bếp, trong đầu cô chợt dấy lên một thắc mắc mơ hồ nhưng nhói buốt: vì sao bà Dậu lại đến nhà cô, lại nhìn cô bằng ánh mắt như vậy?
Thầy Ký Lục đợi vợ rót trà cho khách, rồi mới nói tiếp, giọng đã trầm lại: “Thưa bà, nhà tôi với nhà hội đồng, quả có quen biết từ đời trước. Ân tình cũ tôi không dám quên.”
Bà Dậu khẽ nghiêng người, tưởng như câu chuyện đã xuôi theo hướng mình được giao phó.
Nhưng ông nói tiếp, giọng vẫn đều: “Chỉ có điều, con Nhàng nhà tôi đã có đính ước từ lâu với cậu Vĩnh, con ông Hương Sư ở Âu Môn, Cần Thơ. Hai nhà đã hẹn là chờ cậu ấy học hành xong bên Tây, về nước rồi mới tính chuyện cưới hỏi.”
Bà Dậu hơi ngập ngừng, đưa tay nâng chén trà lên rồi lại đặt xuống, giọng hạ thấp nhưng từng chữ nghe rõ ràng: “Thưa thầy, tôi nói thật, nhà hội đồng Quyền xưa nay trong vùng muốn gì cũng được. Chuyện họ đã để mắt tới, e là không nên xem thường. Tôi chỉ sợ nhà mình… khó mà tránh khỏi phiền phức.”
Thầy Ký Lục ngước lên, ánh mắt điềm tĩnh nhưng đã có nét cứng cỏi. “Tôi hiểu ý bà. Nhưng hôn ước của con Nhàng với cậu Vĩnh đã định rồi. Hai nhà đã nói rõ với nhau, không thể thay đổi. Mong bà về nói lại với ông bà hội đồng, tìm mối khác cho cậu Ba.”
Bà Bảy Lệ ngồi bên cạnh khẽ tiếp lời, giọng nhỏ nhưng dứt khoát: “Dạ phải đó bà. Với lại cậu Ba nhỏ hơn con Nhàng một tuổi, hai đứa từ trước tới giờ chỉ xem nhau như chị em. Con Nhàng lại thân với cô Hai Kim, chuyện cưới xin kiểu này… e là không tiện.”
Bà Dậu nghe xong, khóe miệng lại nhếch lên nụ cười. Bà gật gù, nhưng giọng đã khác: “Tôi hiểu lòng của thầy. Chỉ là… chuyện này, sợ rằng nói một lần chưa chắc đã xong với ông bà Hội đồng.”
Thầy Ký Lục im lặng một lúc, như cân nhắc từng chữ. Rồi ông chậm rãi nói, giọng vẫn giữ đúng mực của người có học: “Việc hôn nhân cũng như trồng cây, gieo rồi thì phải chờ ngày ra trái. Giữa chừng mà nhổ đi, không những cây chết, mà đất cũng chẳng còn lành. Con Nhàng nhà tôi đã có nơi có chốn, chuyện này mong bà hiểu cho, xin phép cho nhà tôi được giữ trọn chữ tín. Từ xưa ông bà có dạy: nhân bất tín thì bất lập."
Nghe tới đó, sắc mặt bà Dậu đổi hẳn. Nụ cười ban nãy tắt đi, ánh mắt thoáng chùng xuống. Bà hiểu, lời đã nói tới mức này thì không còn đường xoay chuyển. Bà đặt chén trà xuống, đứng dậy chỉnh lại vạt áo, cúi đầu thưa: “Dạ, thầy đã nói vậy, tôi cũng không dám làm khó thêm. Thôi cho tôi xin phép về.”
Ra tới cửa, bà Dậu còn dừng lại, quay đầu nói thêm một câu, giọng không cao nhưng đủ nghe: “Tôi sẽ về bẩm lại đầy đủ với ông bà hội đồng Quyền. Chuyện sau này thế nào, tôi không biết.”
Khi bà Dậu vừa khuất bóng ngoài hiên, bà Bảy Lệ mới thực sự tái mặt. Bà quay sang chồng, giọng hạ thấp nhưng không giấu được lo lắng: “Chuyện này là sao vậy ông? Sao tự nhiên nhà đó lại để ý tới con Nhàng?”
Thầy Ký Lục thở ra một hơi dài, như thể từ nãy đến giờ mới được phép buông lỏng. Ông đưa tay xoa trán, giọng chậm lại: “Tôi đã nói với bà từ trước, đừng cho con Nhàng qua lại bên đó nhiều. Hồi xưa, thầy mẹ tôi có quen biết với nhà hội đồng Quyền, qua lại cũng không ít. Nhưng rồi từ khi xảy ra vài chuyện… thầy tôi trước lúc qua đời có dặn, nhà đó thì nên giữ khoảng cách, đừng thân quá.”
Bà Bảy Lệ sững người. “Có chuyện gì mà thầy của ông lại dặn như vậy?”
Thầy Ký Lục im lặng giây lát, rồi nói nhỏ hơn, như sợ chính lời mình cũng nghe thấy: “Tôi chỉ nghe truyền lại thôi. Người ta đồn rằng cái nhà đó… rồi sẽ phải gánh một thứ quả báo rất nặng.”
“Quả báo?” bà lặp lại, giọng khẽ run.
“Ừ. Chỉ là tin đồn, không ai dám nói ra miệng. Mấy năm nay bà cũng nghe đó thôi, quanh nhà hội đồng lúc nào cũng râm ran chuyện ma quỷ, lời nguyền. Nhưng trong vùng này, ai dám đem mấy chuyện đó ra mà nói với nhau".
Bà ngập ngừng một chút rồi tiếp: “Hôm qua tôi ra chợ, người ta còn xì xào chuyện nhà ông Tư Ất ở miệt Cái Nhum. Nghe đâu con trai nhà đó qua lại với cô Hai Kim, rồi chẳng hiểu sao cả nhà chết cháy trong một đêm…”
Chưa nói hết câu, thầy Ký Lục đã khoát tay ngăn lại. “Thôi, mấy chuyện đó bà đừng có đem ra nói nữa. Nói ra nói vô, lỡ tới tai nhà hội đồng thì chỉ rước họa vào thân.”
Nói rồi, thầy gọi lớn: “Nhàng, con lên đây cho ba hỏi chút.”
Nhàng từ gian bếp bước lên, còn vương mùi khói rơm trên áo. Thầy nhìn con gái một lúc, rồi hỏi nhẹ: “Mấy nay thư từ với cậu Vĩnh sao rồi con?”
Nhàng đáp nhỏ: “Dạ, tháng này con chưa thấy ảnh gửi thư. Lần trước ảnh có viết là đang lo học, mọi chuyện đều tốt.”
Thầy Ký Lục gật gù, nét mặt trầm ngâm. “Từ rày, con đừng qua lại bên nhà hội đồng nữa.”
Nhàng tròn mắt. “Dạ… sao vậy ba? Mấy bữa nay cô Hai Kim có chuyện buồn, khóc lên khóc xuống, con hay qua an ủi cô.”
Thầy nhìn con, giọng nghiêm lại: “Ba nói sao thì con nghe vậy đi. Xuống bếp lo cơm tiếp đi.”
Nhàng cúi đầu dạ nhỏ, rồi quay lưng bước đi. Thầy Ký Lục nhìn theo, đến khi bóng con khuất hẳn, mới quay sang vợ, nói chậm rãi: “Chuyện này tôi có linh cảm không hay. Chắc ngày mai tôi phải qua gặp gia đình ông Hương Sư, coi có cách nào làm cho chuyện của hai đứa nó sớm hơn được không.”
Hai vợ chồng không nói thêm gì nữa. Cả hai cùng nhìn ra ngoài vườn, nơi nắng chiều đang tắt dần, ánh sáng cuối ngày trải mỏng trên những tán cây im lìm, như báo hiệu một điều gì đó sắp sửa khép lại.
---
Bên nhà hội đồng Quyền, trời vừa sụp tối. Trong khi cả vùng xung quanh còn chìm dần vào bóng đèn dầu leo lét, riêng gian nhà lớn của hội đồng đã sáng rực ánh đèn điện. Thứ ánh sáng không lay động theo gió ấy làm căn nhà càng thêm lạnh lẽo và khác biệt, như một dấu hiệu rõ ràng của quyền thế mà không nhà nào trong vùng sánh kịp.
Mâm cơm tối được bày ngay ngắn trên chiếc bàn dài. Ông hội đồng Quyền ngồi đầu bàn, tay cầm đôi đũa gác hờ, chưa vội dùng bữa. Ông liếc sang chỗ trống bên cạnh, khẽ cau mày hỏi: “Mấy bữa rày sao không thấy con Hai đâu vậy bà? Nó làm cái gì mà cứ lánh mặt hoài vậy?”
Bà hội đồng đang xới cơm thì dừng tay lại, đáp chậm rãi: “Tôi có hỏi, thì nó nói là có chuyện buồn.”
Ông hội đồng hừ một tiếng, giọng lạnh mà khinh khỉnh: “Đẻ trong cái nhà này, sướng nhứt vùng rồi, còn buồn buồn cái gì nữa?”
Bà hội đồng thở ra, hạ giọng: “Buồn mà lạ lắm ông. Tôi gặng hoài nó cũng không nói. Hôm qua con Nhàng qua chơi, tôi hỏi con nhỏ thử, nó cũng cười trừ, không chịu hé miệng.”
Nghe tới tên Nhàng, cậu Ba Nghĩa ngẩng phắt đầu lên: “Vậy chớ chuyện con với Nhàng, ba má tính sao rồi?”
Bà hội đồng quay sang con trai, nói gọn lỏn: “Rồi. Tao kêu bà Dậu rồi đó. Bà mai mát tay nhứt vùng này, cho bả qua hỏi chuyện nhà thầy Ký Lục.”
Đúng lúc đó, thằng Mạnh ngoài cổng chạy vô, cúi rạp người thưa: “Bẩm ông bà, bà Dậu xin vô thưa chuyện gấp.”
Bà hội đồng giật mình: “Ủa, giờ này mà còn qua nữa hả? Không để mai hẵng nói được sao?”
Ông hội đồng Quyền chậm rãi đặt đũa xuống, nhấp ngụm trà, rồi nói tỉnh bơ: “Thôi, cho bả vô. Để coi bả nói cái gì.”
Bà Dậu bước vô, cúi đầu chào, ngồi nép mép ghế. Ông hội đồng nhìn thẳng, hỏi liền: “Bà Dậu, có chuyện chi? Bên nhà thầy Ký Lục nói sao?”
Bà Dậu làm bộ thở dài: “Thưa ông bà, tôi nói ra e cũng khó nghe, chớ nhà thầy Ký Lục coi bộ không có mặn mà gì với mối này.”
Bà hội đồng nhíu mày: “Không mặn mà là sao?”
“Dạ, thầy nói toàn chuyện chữ nghĩa không hà. Nào là con Nhàng đã có hôn ước với ông Hương Sư, nào là chờ cậu Vĩnh bên Tây về. Nghe ra là coi trọng bên kia hơn.”
Cậu Ba Nghĩa siết chặt đũa: “Ý bà nói là sao?”
Bà Dậu liếc cậu Ba, khóe miệng khẽ cong lên: “Thì thầy nói cậu Ba còn nhỏ tuổi, học hành chưa tới đâu, sợ không xứng với con Nhàng.”
“Chê hả?” ông hội đồng nói khẽ, môi nhếch cười. “Chê con trai nhà này hả?”
Bà Dậu cúi đầu: “Tôi chỉ thuật lại lời người ta nói, chớ thiệt bụng tôi đâu dám nói xấu ai.”
Cậu Ba bật dậy: “Họ tưởng họ là ai mà dám coi thường nhà này?”
Ông hội đồng giơ tay: “Mày ngồi xuống. Chuyện này không cần làm ồn.” Rồi ông quay sang bà Dậu: “Ngoài mấy lời đó, họ còn nói gì nữa không?”
“Dạ có. Thầy Ký Lục nói con gái nhà thầy quen học hành, quen nề nếp, sợ về bên mình không hợp.”
Bà Dậu ngập ngừng một chút, rồi nói tiếp, giọng như than mà cũng như xỏ: “Thầy còn giảng thêm mấy câu chữ nghĩa nghe nặng lắm. Thầy nói gì mà nhân bất tín thì bất lập. Nghe qua thì nói đạo lý, chớ tôi nghe sao giống như ý là ai không giữ chữ tín thì… không đáng làm người”
Bà hội đồng tức giận: “Trời đất, nói vậy là coi nhà mình ra cái giống gì?”
Ông hội đồng đặt chén trà xuống, giọng đều đều: “Được. Tao hiểu rồi.” Ông liếc sang cậu Ba: “Nghe chưa? Người ta coi mày không ra gì đó.”
Bà Dậu vội nịnh: “Thiệt tình, thưa ông bà, nhà thầy Ký Lục dại thiệt. Nhà ông vừa giàu vừa có thế, ai trong vùng mà không nể. Có phước vậy mà còn chê thì đúng là không biết điều.”
Ông hội đồng khoát tay: “Thôi được rồi. Bà về đi.” Ông quay sang thằng Cai: “Mạnh, lấy cho bả ít tiền.”
Thằng Mạnh dạ một tiếng, mang ra túi tiền. Ông hội đồng nói thêm: “Sau này chắc còn nhờ bà mấy bận nữa đó.”
Bà Dậu cầm túi tiền, cười mỉm rồi cúi đầu lui ra. Trước khi bước qua ngưỡng cửa, bà còn khẽ liếc lại một lần, ánh mắt lướt nhanh qua gian nhà sáng trưng, rồi mới quay lưng đi hẳn.
Ông hội đồng cầm đũa lên, thong thả ăn tiếp, nét mặt đã trở lại bình thường như chưa hề có cuộc nói chuyện nào vừa diễn ra. Ông gắp miếng cá, chấm nước mắm, nhai chậm rãi rồi nói, giọng tỉnh rụi: “Thôi, ăn cơm đi.”
Bà hội đồng vẫn còn tức, đặt chén xuống cái cộp, môi mím chặt. “Nói chuyện nghe tức thiệt. Nhà người ta vậy mà dám coi thường nhà mình.”
Cậu Ba Nghĩa ngồi thừ ra một lát, rồi nghiến răng nói: “Con không nuốt trôi chuyện này đâu. Họ dám chê con trước mặt bà mai như vậy…”
Ông hội đồng liếc qua hai người, ông đặt đũa xuống, chậm rãi nói: “Tôi đã nói rồi. Tôi sẽ có cách tính. Bà với thằng Ba đừng lo.”
Cậu Ba quay sang nhìn ba, còn định nói thêm gì đó, nhưng bắt gặp ánh mắt lạnh lùng và chắc chắn của ông hội đồng, đành nén lại, cúi đầu ăn tiếp. Bà hội đồng thở hắt ra một hơi, không nói thêm, chỉ lẳng lặng xới cơm.
Mâm cơm tối tiếp tục trong thứ ánh sáng đèn điện trắng đều, lạnh lẽo. Không ai nói thêm câu nào, nhưng trong gian nhà ấy, mọi người đều hiểu, một chuyện lớn đã được quyết xong. Và từ khoảnh khắc đó, số phận của nhà thầy Ký Lục coi như đã được định đoạt.
---
Sáng hôm sau, cậu Ba Nghĩa ra ngoài lò gạch từ sớm, lấy cớ là để coi đám thợ làm việc, tiện kiểm tra mấy mẻ gốm mới ra lò. Trời còn lành lạnh, khói lò gạch quyện với sương sớm tạo thành một mùi hăng hắc khó chịu, y như tâm trạng của cậu lúc này. Từ lúc bước chân tới nơi, cậu đã cau có, gặp ai cũng kiếm chuyện rầy la. Thợ chậm tay thì bị chửi, gốm sắp chưa ngay ngắn cũng bị hất hàm quát tháo.
Thằng Mạnh, cai lớn nhất của nhà hội đồng, thấy vậy thì mon men lại gần. Từ sau vụ đốt nhà ông Tư Ất, hắn được ông hội đồng thưởng tiền, lại cho đứng ra lo nhiều việc hơn trước, nên trong bụng cũng đâm ra tự đắc.
Hắn lại gần cậu Ba Nghĩa, cười cười giọng giả lả: “Sáng sớm mà cậu Ba nóng dữ vậy? Có chuyện gì không vừa ý hả cậu?”
Cậu Ba liếc xéo, ném cái nhìn đầy bực dọc về phía lò gạch đang đỏ lửa: “Không có gì. Tao chỉ bực đám người không biết điều, coi trời bằng vung.”
Thằng Mạnh biết ý, hạ giọng hỏi thêm: “Hay là… chuyện hôm qua bà Dậu qua thưa đó hả cậu?”
Cậu Ba im lặng một chút, rồi hừ mạnh một tiếng. “Chớ còn chuyện gì nữa. Nhà thầy Ký Lục đó, coi thường tao ra mặt. Nói tao học dốt, không bằng thằng Vĩnh học bên Tây, nên không chịu gả con Nhàng cho tao.”
Thằng Mạnh nghe tới đó thì bật cười khẽ, nụ cười nửa miệng quen thuộc. “Tưởng chuyện chi lớn lắm.” Nó nghiêng đầu, tiến sát lại gần hơn, rồi hạ giọng thì thầm vào tai cậu Ba mấy câu ngắn gọn.
Cậu Ba nghe xong, mặt đang cau có bỗng giãn ra. Ánh mắt lóe lên một vẻ thích thú khó giấu. “Thiệt hả?”. Cậu hỏi lại, giọng đã dịu đi thấy rõ.
Thằng Mạnh gật đầu, cười chắc nịch. “Cậu cứ tin con. Mấy chuyện này, con quen tay rồi.”
Cậu Ba vỗ mạnh lên vai nó một cái. “Được rồi. Tao giao chuyện này cho mày đó. Giờ mày đi đi. Nhớ làm cho gọn. Nếu thành công, tao thưởng cho mày lớn.”
Thằng Mạnh cười hề hề, cúi đầu dạ một tiếng, rồi quay lưng bỏ đi, dáng bước nhanh và chắc, như đã nắm trong tay phần thưởng sắp tới. Phía sau lưng nó, lò gạch vẫn đỏ lửa, khói cuộn lên từng đợt, báo hiệu một chuyện chẳng lành vừa được nhóm lên.
---
Chiều hôm đó, thầy Ký Lục vẫn theo thói quen ngồi uống trà ngoài hiên. Trời xế bóng, gió từ ngoài vườn thổi vào mang theo mùi lá khô ngai ngái. Trà trong chén đã nguội đi một nửa mà thầy vẫn chưa buồn châm thêm nước.
Vợ thầy từ trong buồng bước ra, nhìn chồng một lúc rồi hỏi, giọng có phần thắc mắc: “Hôm qua ông nói là hôm nay qua thưa chuyện với ông Hương Sư mà. Giờ gần tối rồi, sao tôi chưa thấy ông đi?”
Thầy Ký Lục đặt chén trà xuống, khẽ lắc đầu: “Tôi cũng định đi đó chứ. Mà từ trưa tới giờ trong người cứ nao nao sao đó. Đi được một đoạn thì tự nhiên đau chân, mỏi gối, cứ như có cái gì níu lại, không cho mình bước ra khỏi nhà.”
Vợ thầy nhìn ông, hơi cau mày: “Ông nói nghe lạ quá.”
Thầy cười nhẹ, nhưng nụ cười không giấu được vẻ bất an: “Tôi cũng thấy lạ. Cả đời tôi có tin mấy chuyện đó đâu. Vậy mà bữa nay trong lòng cứ không yên.”
Hai người còn đang nói chuyện thì ngoài ngõ đã có tiếng gọi vọng vào: “Thầy ơi, nhà thầy có thư.”
Thầy Ký Lục ngẩng lên. Một người đưa thư đứng ngoài hiên, áo quần xốc xếch, mặt mũi bầm tím thấy rõ. Thầy bước ra nhận thư, nhìn người thanh niên ấy một lượt rồi hỏi: “Ủa, bữa nay sao mặt mũi cậu ra nông nỗi này?”
Người đưa thư lúng túng, cúi đầu đáp nhỏ: “Dạ… dạ con đi đường trơn, té thôi thầy.” Nói xong, anh ta vội trao thư rồi quay lưng đi ngay, bước chân hấp tấp như sợ bị hỏi thêm.
Thầy Ký Lục cầm phong thư trên tay, liếc qua hàng chữ bên ngoài, rồi gọi lớn vào trong nhà: “Nhàng ơi, ra đây nhận thư nè con.”
Nhàng từ trong buồng bước ra, vừa thấy tên người gửi là Vĩnh thì mắt sáng hẳn lên. Cô cầm lấy thư, cúi đầu chào ba má rồi vội vàng vào phòng riêng.
Nhà thầy Ký Lục vốn mang tư tưởng mới, trong chuyện thư từ của con gái, ông bà chưa bao giờ tự tiện mở xem trước, khác hẳn nhiều nhà trong vùng. Vợ thầy chỉ liếc theo bóng con gái, rồi thở khẽ một hơi.
Trong phòng, Nhàng xé phong thư ra đọc. Nét chữ bên trong làm cô khựng lại. Chữ vẫn là chữ của Vĩnh, nhưng có vẻ cứng và gấp hơn thường ngày, lại có chỗ lem nhem mực. Nhàng thoáng nghĩ, chắc lúc đưa thư gặp mưa hay bị ướt nên mới vậy.
Nội dung thư làm tim cô đập rộn lên. Vĩnh viết rất rõ ràng, từng dòng ngắn mà gấp: “Nhàng à, tối nay đúng bảy giờ, em ra gốc cây đa đầu làng đợi anh. Anh chỉ về quê được đúng một ngày, sáng sớm mai phải lên Sài Gòn rồi đi Tây học tiếp. Anh không dám vô nhà thưa chuyện, sợ không kịp giờ, em cũng đừng nói cho ba má hay. Anh nhớ em nhiều lắm, chỉ mong được gặp em một chút, nhìn em một chút thôi cũng đủ.”
Nhàng đọc đi đọc lại lá thư, lòng vừa mừng vừa lo. Đến bữa cơm tối, cô ăn không thấy ngon, trong đầu chỉ nghĩ tới gốc cây đa đầu làng.
Sau bữa cơm, khi thấy thầy Ký Lục đang ngồi đọc sách trong buồng, Nhàng mạnh dạn xin mẹ: “Má ơi, cho con qua nhà con Hằng mượn bộ kim chỉ may đồ. Cây kim con bị gãy mất rồi.”
Bà Bảy Lệ nhìn con gái, ánh mắt nghi ngờ: “Thiệt không đó?”
Nhàng đứng khựng lại, hai tay vô thức đan vào nhau, đầu cúi xuống một chút như né ánh nhìn của mẹ. Cô ấp úng: “Dạ… dạ, anh Vĩnh có hẹn con gặp chút xíu hà má.”
Bà giật mình, nhưng chưa chịu buông, bà tiếp tục hỏi dồn, giọng thấp mà gắt hơn: “Cậu Vĩnh? Má mới thấy thư chiều nay mà? Hẹn hồi nào? Gặp ở đâu? Sao tự nhiên bữa nay lại hẹn, không vô nhà nói chuyện đàng hoàng?”
Nhàng bị hỏi liên tiếp, mặt cô đỏ lên, bàn tay siết chặt tà áo. Cô lúng túng đáp: “Dạ… ảnh nói về gấp, sợ không kịp thưa chuyện. Ảnh chỉ xin gặp con một chút thôi má, thiệt mà.”
Thấy mẹ vẫn nhìn chằm chằm, Nhàng cuống quýt thò tay vào túi áo, lấy ra lá thư đã được gấp kỹ, đưa sang như nắm lấy một chỗ dựa. “Ảnh có viết thư đây nè má. Ảnh hẹn con đúng bảy giờ tối, ra gốc cây đa đầu làng. Ảnh ghi rõ ràng trong này.”
Vợ thầy nhận lấy lá thư, không mở ra xem, chỉ nhìn qua nét chữ bên ngoài rồi thở khẽ. Bà trả lại cho con, giọng đã dịu hơn nhưng vẫn còn lo: “Ừ… có thư đàng hoàng thì cũng phải. Mà ba con kỹ tính lắm, trai gái tới lui mà không thưa trước là bị rầy liền.”
Bà ngập ngừng một chút rồi nói thêm: “Thôi, con đi lẹ rồi về sớm. Ra ngoài nhớ coi chừng, đừng có đứng lâu.”
Nói vậy, nhưng bà vẫn không giấu được vẻ lo lắng. Con gái đi gặp trai ban đêm, dù đã có hôn ước, trong lòng người làm mẹ sao mà yên cho được. Bà đứng nhìn theo bóng Nhàng chuẩn bị ra khỏi nhà, trong ngực dâng lên một cảm giác bất an mơ hồ, như thể sắp có chuyện gì đó không lành xảy ra.
---
Trời đêm xuống rất nhanh, như thể ai đó vừa úp một cái nắp đen khổng lồ lên cả xóm làng. Ánh trăng non nhàn nhạt, treo lơ lửng trên cao, không đủ sức soi rõ mặt người, chỉ đủ làm cho những bóng cây dưới đất thêm dài và méo mó. Gốc cây đa đầu làng hiện ra sừng sững trong màn đêm, thân cây xù xì, tán lá xòe rộng như một cái mái khổng lồ.
Nhàng đứng nép bên gốc cây, hai tay siết chặt vạt áo. Mỗi lần có tiếng bước chân từ xa vọng lại, tim cô lại đập mạnh lên một nhịp. Cô ngóng về con đường dẫn ra bến sông, nơi Vĩnh thường hay đi mỗi lần về làng. Trong đầu Nhàng, hình ảnh anh hiện ra rõ ràng, hiền lành và quen thuộc, như một chỗ dựa duy nhất giữa cơn rối ren đang bủa vây cô.
Một lúc sau, tiếng bước chân vang lên thật. Nhàng vội quay lại, khẽ gọi: “Anh Vĩnh…”
Nhưng người bước ra khỏi bóng tối không phải là Vĩnh. Dưới ánh trăng nhạt, gương mặt cậu Ba Nghĩa hiện ra, áo quần bảnh bao, dáng đi chậm rãi. Nhàng khựng lại, cảm giác lạnh chạy dọc sống lưng cô.
“Ủa...” cô lắp bắp, “em Nghĩa… đi đâu mà giờ này còn ra đây?”
Cậu Ba dừng lại cách cô vài bước, ánh mắt soi mói. “Còn em? Em Nhàng đứng đây đợi ai mà lúc trời tối vậy?”
Nhàng hít sâu một hơi, cố giữ giọng bình tĩnh. “Nè, chị lớn hơn em đó Ba Nghĩa. Em nói chuyện cho phải phép.”
Cậu Ba khẽ cười nhạt. “Trước sau gì thì… em cũng là vợ của anh thôi.”
Nhàng cau mày, giọng gắt lên: “Em ăn nói cho đàng hoàng. Chị đứng đây đợi anh Vĩnh, chồng chưa cưới của chị.”
“Anh Vĩnh nào?” Cậu Ba nhún vai. “Chưa cưới thì chưa phải chồng. Anh không cần biết anh Vĩnh hay anh Vinh gì hết.”
Nhàng quay mặt đi, không muốn dây dưa. “Thôi, chuyện chị gặp ai không can hệ gì tới em. Lúc này chị không rảnh.”
Cậu Ba bật cười khẽ. “Không rảnh tiếp chuyện với anh, mà rảnh đứng đây đợi thằng khác, phải không?” Rồi giọng cậu trầm xuống, mang theo vẻ hằn học. “Anh ra đây chỉ muốn hỏi em một chuyện. Nhà anh đã cho người qua mai mối, vậy mà song thân của chị không chịu. Họ nói chuyện lương duyên không thể gượng ép. Còn em, vì cớ gì cũng không ưng? Hay là tại anh chưa đủ giỏi, chưa xứng với gia đình lễ giáo như nhà em?”
Nhàng nhìn thẳng vào cậu, giọng lạnh đi: “Chà, bữa nay em Ba ăn nói văn chương dữ ha. Nhưng chị không phải kẻ ham tiền bạc. Không phải ai giàu sang đem ra khoe mẽ là chị cũng xiêu lòng. Con người đáng trọng hay khinh ở tư cách, chớ đâu phải cậy tiền cậy thế mà mua được tình yêu.”
Cậu Ba đổi sắc mặt. “Em nói vậy mà không thấy hổ thẹn sao? Anh tưởng đâu em treo giá ngọc, dè đâu tối nay cũng ra đây hò hẹn với trai.”
“Em không được phép mỉa mai như vậy” Nhàng nói, giọng run lên vì giận. “Em không có quyền can dự vào chuyện này. Làm ơn biết điều lịch sự, chị mời em đi chỗ khác chơi.”
“Mời?” cậu Ba tiến thêm một bước. “Em mời hay là em đuổi? Đừng có vênh váo với thiên hạ.”
“Em đừng có vô lễ” Nhàng lùi lại, lưng chạm vào thân cây đa lạnh ngắt.
Cậu Ba cười nhạt. “Anh đâu có vô lễ. Anh chỉ tiếc cho em. Tưởng em là người có ăn học, biết so sánh cho xứng đáng, dè đâu mù quáng như vậy.”
Giọng cậu bỗng đổi, thấp và dồn dập hơn. “Nhàng à, lấy anh đi. Anh là con trai khẩn, con trai cầu. Lấy anh rồi, về nhà khỏi cần làm gì hết. Ba anh sẽ cất cho tụi mình một căn nhà ngói thiệt lớn, để hai đứa hưởng lạc thú của tuổi còn xuân.”
Nói tới đó, cậu Ba bất ngờ lao tới, ôm lấy vai của Nhàng.
Nhàng chưa kịp kêu lên, chưa kịp phản ứng, thì từ trong bụi rậm bên đường bỗng vang lên tiếng xôn xao. Bà Dậu cùng hai ba người đàn bà khác bất ngờ từ trong bóng tối lao ra.
“Trời đất ơi!” một người kêu lên. “Con gái nhà thầy Ký Lục kìa!”
Bà Dậu chống nạnh, giọng lanh lảnh: “Đi chợ đêm trên tỉnh về, ai dè bắt gặp cảnh này. Tối tăm tối mù mà đứng hò hẹn với trai ngoài đầu làng. Đẹp mặt nhà thầy Ký Lục chưa?”
Những lời xì xào, mỉa mai dội tới tấp. Nhàng đứng chết lặng dưới gốc cây đa, tai ù đi, cổ họng nghẹn cứng. Cô lắc đầu liên hồi, giọng run rẩy bật ra trong hoảng loạn: “Không… không phải vậy đâu. Con không có hẹn gặp ở đây… con chỉ đứng đợi…”
Một người đàn bà cười khẩy, kéo tay người bên cạnh: “Đợi gì mà đợi? Ôm ấp nhau giữa đêm dưới gốc đa vầy mà còn chối hả?”
“Phải đó” người khác hùa theo, giọng chua chát, “ban ngày làm bộ ngoan hiền, tối tới thì ra đây hẹn hò trai.”
Những lời xỉ vả ném tới dồn dập. Nhàng không chịu nổi nữa. Cô đưa hai tay ôm chặt lấy mặt, bật khóc, rồi quay phắt người bỏ chạy. Bước chân loạng choạng, váy áo vướng víu, cô chỉ biết cắm đầu chạy về phía con đường tối om trước mặt, mặc cho tiếng cười khúc khích và lời mỉa mai vẫn còn văng vẳng phía sau.
Trong lúc chạy, Nhàng bỗng hiểu rất rõ, rõ đến đau lòng: từ ngày mai thôi, những lời vừa nghe đây sẽ không còn nằm lại dưới gốc cây đa này nữa, mà sẽ theo miệng người, lan ra khắp làng trên xóm dưới.
Phía sau lưng, giữa tiếng xôn xao chưa dứt, giọng cậu Ba Nghĩa cất lên, kéo dài đầy khoái trá: “Nhớ lời anh nói hồi nãy nghe, em Nhàng… nhớ kỹ đó nhaaa…”
Sau khi đám đàn bà bỏ đi hết, con đường dưới gốc cây đa lại chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng côn trùng rả rích và hơi gió thổi qua tán lá, nghe lạnh lẽo hơn lúc nãy.
Từ phía xa, Mạnh – thằng cai thân tín của nhà hội đồng lững thững bước tới. Hắn liếc theo hướng Nhàng vừa chạy khuất, khóe miệng nhếch lên một nụ cười. Đến gần, hắn vỗ nhẹ lên vai cậu Ba Nghĩa một cái, giọng hạ thấp nhưng không giấu được vẻ khoái trá: “Coi bộ… trơn tru hơn mình tính đó cậu Ba.”
Cậu Ba Nghĩa vẫn đứng tựa gốc đa, đưa tay sửa lại cổ áo, ánh mắt còn vương chút hằn học lẫn thỏa mãn. Cậu cười khẽ, giọng nghe tỉnh rụi: “Ừ, cũng khác với kế hoạch ban đầu thiệt. Ai dè… tự dưng có bà Dậu với mấy mụ đó xuất hiện.” Cậu hừ nhẹ một tiếng. “Không là tao....”
Mạnh bật cười khục khặc, đưa tay xoa xoa cằm: “Thì con đã nói rồi mà. Cậu thấy con hay không? Con chỉ việc dằn mặt thằng đưa thư một chút. Nó sợ xanh mặt, kêu sao nghe vậy. Rồi bắt nó ngồi viết lại nét chữ y chang thằng Vĩnh. Hẹn đúng giờ, đúng chỗ là con nhỏ tin răm rắp.”
Cậu Ba nghe tới đó thì bật cười thành tiếng, tiếng cười khô khốc vang lên trong đêm.
Mạnh cười theo, giọng hả hê: “Thì con gái nhà nho, mà ai dè chữ nghĩa cũng có ngày hại thân.”
Trong ánh trăng lờ mờ, đôi mắt của cậu Ba và Mạnh bỗng ánh lên một màu đỏ lạ lùng, không rõ là do khoái cảm, hay do một thứ gì đó đang ngấm dần lớn dần trong lòng họ.
---
Tin đồn lan ra nhanh hơn cả gió chướng. Chỉ qua một đêm, chuyện cô Nhàng, con gái thầy Ký Lục bị bắt gặp hò hẹn với trai dưới gốc cây đa đã theo miệng người này chuyền sang tai người khác, mỗi lần qua một nhà lại thêm mắm thêm muối. Người nói cô đứng đợi trai từ lâu, kẻ nói cô ôm ấp giữa đêm, lại có người độc miệng hơn, bảo con gái nhà nho mà cũng chẳng ra gì.
Nhà ông Hương Sư ở Âu Môn vừa hay tin thì nổi giận. Ban đầu ông bà còn cho người dò hỏi, mong nghe được một lời cải chính cho rõ trắng đen. Nhưng càng hỏi, lời đồn lại càng dày thêm, hết người này tới người khác đều nói có thấy, có nghe. Không chờ thêm được nữa, ông bà Hương Sư đích thân sang tận nhà thầy Ký Lục mà chất vấn.
Hôm ấy, trong gian nhà nhỏ, lời qua tiếng lại nặng nề chưa từng có. Nhàng khóc lạy, một mực chối rằng mình không làm chuyện sai trái. Thầy Ký Lục cũng đem hết lễ nghĩa ra mà giải thích, nói rõ đầu đuôi câu chuyện, nói cả chuyện gốc cây đa, chuyện thư từ, mong bên nhà Hương Sư hiểu cho. Nhưng ngoài kia, nhân chứng đã có, lời đồn đã lan, mỗi câu nói của thầy lúc này nghe ra đều trở nên yếu ớt.
Ông Hương Sư ngồi lặng một hồi lâu, rồi chậm rãi đứng dậy. Vì giữ thể diện cho gia đình, vì danh dự của cậu Vĩnh đang ăn học bên Tây, nhà ông không thể để một mối hôn nhân mang theo điều tiếng tiếp tục tồn tại. Nói rồi, ông xin phép được huỷ hôn ước đã định, coi như hai nhà dừng lại ở đây.
Cũng từ lúc đó, nhà hội đồng Quyền bắt đầu ra tay không che giấu nữa. Trước tiên, họ cho người đi rỉ tai khắp xóm rằng thầy Ký Lục dạy học mà không biết dạy con, đạo đức trong nhà còn chẳng giữ được thì lấy tư cách gì mà dạy người khác. Cha mẹ học trò nghe vậy bắt đầu dao động. Có người còn đích thân tới nói thẳng với thầy, giọng nửa ái ngại nửa khinh miệt: “Thôi thầy ơi, tụi tôi cũng thương thầy lắm, nhưng để con theo học nữa, lỡ mang tiếng thì tội nó.”
Chỉ trong ít ngày, lớp học vốn vẫn đông đúc bỗng thưa dần. Bàn ghế trống không. Sân nhà vắng tiếng đọc bài. Người quen trong vùng đi ngang qua cổng cũng cúi mặt bước nhanh, không còn ai dám ghé thăm như trước.
Những đêm sau đó, đèn trong nhà thầy Ký Lục thường tắt rất sớm. Thầy ít nói hẳn. Có hôm, bà Bảy Lệ thấy chồng ngồi rất lâu trước bàn thờ gia tiên, hai tay đặt trên đầu gối, lưng thẳng nhưng vai khẽ run, như đang gồng gánh một thứ nặng nề không ai san sẻ được.
Rồi một buổi sáng, khi trời còn chưa kịp sáng hẳn, người ta phát hiện thầy Ký Lục đã treo cổ tự vẫn ngay trong gian nhà trước. Sợi dây thừng buộc vội, thân người thầy gầy guộc lặng lẽ đung đưa, gương mặt đã tím tái nhưng vẫn còn nét điềm tĩnh quen thuộc. Người trong xóm đứng nhìn từ xa, không ai dám lại gần, cũng không ai dám nói nhiều.
Đám tang của thầy Ký Lục diễn ra trong cảnh lạnh lẽo và nặng nề. Chưa kịp bày biện xong linh cữu thì thằng Mạnh đã dẫn theo đám đàn em đứng chặn ngay ngoài cổng. Chúng giả bộ dựa cột, hút thuốc, cười cợt, nhưng hễ ai định bước vào viếng là lập tức bị nhìn chòng chọc, có đứa còn buông giọng nửa đe dọa: “Nhà có chuyện, mấy người đi chỗ khác”
Cuối cùng, chỉ còn vài người họ hàng gần dám lén lút vào thắp nén nhang. Không kèn trống, không tiếng khóc đông người. Đám tang của một ông thầy cả đời giữ lễ nghĩa kết thúc trong lặng lẽ, như thể ông chưa từng tồn tại trong ngôi làng này.
Nhàng quỳ bên quan tài cha, nước mắt đã cạn khô. Cô không còn khóc thành tiếng nữa, chỉ cúi đầu thật thấp, trán gần chạm xuống nền đất lạnh. Trong khoảnh khắc ấy, Nhàng hiểu rất rõ, nếu cô còn tiếp tục chống cự, không chịu gả về nhà hội đồng, thì người phải gánh lấy hậu quả không chỉ có mình cô, mà còn là mẹ, là cậu em trai đang học trên tỉnh, những người duy nhất còn lại trong đời cô.
Giữa những ngày tang tóc ấy, cô Hai Kim cũng lặng lẽ qua thăm. Giọng cô nhỏ và buồn, như nói với Nhàng mà cũng như tự nói với mình: “Chị biết em uất ức lắm. Chị biết em đâu có sai. Nhưng… em coi đó, tới nước này rồi, nếu em còn gồng nữa, người khổ sẽ là má, là thằng em em. Ba chị… ổng dữ lắm, em cũng biết mà.”
Nhàng không trả lời. Cô chỉ nhìn vào khoảng không trước mặt, nơi đặt linh cữu cha mình, ngực nặng như có đá đè. Hai Kim siết tay bạn thêm một lần nữa, giọng gần như van nài: “Thôi thì… coi như em vì người sống mà chịu một lần đi Nhàng. Về bên đó rồi, chị hứa, chị sẽ tìm cách đỡ đần cho em.”
---
Không lâu sau, tin con trai độc nhất của nhà ông hội đồng sắp lấy vợ bắt đầu râm ran khắp vùng. Người ta nói với nhau nhanh lắm, mới sáng còn thì thào, tới trưa đã thành chuyện ai cũng biết. Cái đám cưới được sắp đặt gấp gáp, rình rang, như thể nhà hội đồng muốn dùng tiếng chiêng trống để lấp đi mọi điều tiếng vừa xảy ra, cũng như muốn cho cả vùng thấy, chuyện của nhà họ không có gì phải chần chừ.
Trong nhà hội đồng, gia đinh giúp việc đông tới cả trăm người, ra vô không lúc nào ngớt. Người quay heo, kẻ làm vịt làm gà, lửa bếp đỏ suốt ngày không tắt. Ngoài sân, mâm quả lễ vật xếp dài thành hàng, trà rượu, trầu cau, nến tơ hồng được bà hội đồng đích thân coi ngó, chỉnh sửa từng chút một, sao cho thật đủ đầy, thật xứng với danh thế của nhà mình.
Vòng vàng bày kín trên mâm, xâu này chồng lên xâu kia, lấp lánh dưới ánh đèn, nhiều tới mức người ngoài nhìn vào chỉ biết trầm trồ. Khách mời toàn là những người có quyền có thế trong vùng: quan thống đốc, quan huyện, hội đồng, hương chức. Mỗi chiếc xe ngựa dừng trước cổng lại làm cho con đường nhỏ thêm phần náo động.
Tiếng trống, tiếng nhạc vang rền từ sáng sớm. Bà con đứng chật hai bên đường, vừa coi vừa bàn tán, ánh mắt tò mò dõi theo cô dâu được đưa vào nhà hội đồng trong bộ áo cưới đỏ thắm.
Suốt một ngày dài tiếp khách, Nhàng gần như không còn cảm giác gì nữa. Khi trời sụp tối, cô được đưa về phòng tân hôn trước, trong tiếng ồn ào vẫn còn vang vọng ngoài sân. Chỉ có cậu Ba Nghĩa là ở lại, tiếp tục hầu rượu các quan lớn, tiếng cười nói, chúc tụng kéo dài tới tận khuya.
Trong phòng tân hôn, Nhàng ngồi lặng trên chiếc bàn tròn đặt giữa phòng. Mệt rã rời, nhưng trong lòng cô lại dậy lên một cảm giác hồi hộp khó gọi tên. Căn phòng xa lạ, rộng rãi hơn căn buồng cũ ở nhà cha mẹ, nhưng trống trải đến lạnh lẽo. Trên giường, chiếc khăn trắng tinh được trải ngay ngắn, phẳng phiu đến lạ lùng, như một bài kiểm tra mà cô không dám nhìn lâu.
Cửa phòng chợt mở, làm Nhàng giật mình. Cô Hai Kim bước vào, tay bưng theo một ly nước ấm. Hai Kim ngồi xuống bên cạnh, nói vài câu nhẹ nhàng, dặn dò đôi điều cho phải phép. Giọng cô nhỏ, cố giữ bình thản, nhưng trong mắt vẫn lộ ra nét áy náy khó che giấu. Nói được một lúc, Hai Kim đứng dậy, quay về phòng mình, để lại Nhàng một mình giữa căn phòng im ắng.
Tới khuya, cậu Ba Nghĩa mới trở về. Men rượu đã thấm, làm bước chân cậu loạng choạng, hơi thở nồng mùi rượu. Cậu đẩy cửa bước vào, ánh mắt dừng lại nơi Nhàng, người con gái mà cậu đã mong mỏi từ lâu, lòng bỗng rạo rực khó kìm.
Dưới ánh đèn dầu leo lét, khung cảnh trong phòng trở nên chập chờn, ma mị. Khuôn mặt Nhàng vì mệt mỏi mà ửng hồng, đôi mắt cúi xuống tránh ánh nhìn của cậu Ba. Cậu đứng ngập ngừng một lát rồi cất giọng, vừa say vừa gượng:
“Mình… uống chút rượu nghe chị. À không, nghe mình. Uống vài ly cho có không khí.”
Nhàng khẽ gật đầu. Cô chưa từng biết mùi rượu ra sao, nhưng đêm nay, ở một nơi quen mà lạ thế này, lại bên cạnh một người cô không hề có tình cảm, vài ly rượu có lẽ sẽ giúp cô bớt căng thẳng hơn.
Cậu Ba với tay định rót rượu thì Nhàng khẽ gạt ra, ngập ngừng nói nhỏ: “Cậu… để em… em rót cho.”
Nhàng nâng bình rượu lên, tay run nhẹ. Một ly, rồi hai ly trôi qua trong lặng lẽ. Tới ly thứ ba, đầu cô bắt đầu quay cuồng. Ánh đèn trước mắt nhòe đi, tiếng động như xa dần, thân người mềm ra, không còn giữ được thăng bằng nữa.
Ba Nghĩa đỡ lấy thân người Nhàng, đặt cô xuống giường. Mọi chuyển động sau đó với cô đều rời rạc, như bị bọc trong một lớp sương dày. Ánh đèn dầu chập chờn bỗng tối sầm lại, tim đèn khẽ khụt xuống, rồi bùng lên một lần cuối, hắt lên trần nhà những hình ảnh dồn dập, méo mó.
Cô cố gọi tên ai đó, nhưng tiếng nói như bị chặn trong cổ họng. Chỉ còn cảm giác nặng nề của cậu Ba Nghĩa trùm xuống, từng đợt nối tiếp nhau, thô bạo như một con thú hoang dại không biết dừng. Hơi thở cô bị chặn lại, bật ra ngắt quãng; thân thể đau buốt khắp nơi, va đập liên hồi. Nhàng cắn chặt răng, không để bật ra một tiếng nào.
Trong cơn choáng váng ấy, cô thoáng thấy ở góc phòng một bóng người đứng im. Bóng ấy không tiến lại, cũng không rời đi, chỉ trơ trọi dõi theo, lạnh lẽo như một kẻ chứng giám. Rồi mọi thứ rơi vào khoảng tối đặc quánh.
Khi Nhàng tỉnh lại, đèn dầu đã gần tàn. Căn phòng im phăng phắc. Cô nằm bất động, nhìn trân trân lên trần nhà. Bên cạnh, Ba Nghĩa đã ngủ say, hơi thở đều, gương mặt yên ổn đến lạ, như thể đêm qua chỉ là một việc phải làm rồi thôi.
Trên giường, chiếc khăn trắng không còn giữ được sắc nguyên vẹn ban đầu. Nhàng quay mặt đi. Cô không khóc. Trong ngực chỉ còn lại một khoảng trống lạnh buốt, như vừa bị lấy mất thứ gì đó không thể gọi tên.
Sáng hôm sau, trong nhà hội đồng, mọi việc diễn ra trơn tru đến đáng sợ. Không ai hỏi, không ai nói. Bà Hội đồng chỉ liếc qua phòng tân hôn một lần, nhìn tấm khăn bị nhuốm đỏ mà gật gù. Từ khoảnh khắc ấy, Nhàng chính thức trở thành Mợ Cả nhà hội đồng Quyền.
Những ngày sau đó, Nhàng sống trong một nhịp điệu đều đặn và khép kín. Cô đối xử nhã nhặn với gia đinh, ra ngoài thì giữ lễ với tá điền, nhưng nụ cười hiếm khi chạm tới mắt. Ba Nghĩa vẫn tỏ ra chiều chuộng, sắm sửa đủ thứ, đưa cô đi khắp nơi, như để chứng minh một cuộc hôn nhân viên mãn.
Trong nhà, người duy nhất Nhàng có thể ngồi cạnh lâu hơn một chút là Hai Kim. Hai Kim hiểu Nhàng nên không hỏi nhiều. Có những buổi, hai người chỉ ngồi im bên nhau, nghe tiếng gió lùa qua vườn, tiếng lá cọ vào nhau khô khốc. Nhàng ngồi quay mặt ra khoảng tối ngoài hiên, ánh đèn trong nhà hắt ra không chạm tới được chỗ ấy. Đôi khi, cô khẽ mỉm cười rất nhẹ, nụ cười không dành cho ai cả, dường như chỉ để đáp lại điều gì đó đang đứng trong bóng đêm.