[Kinh dị] Mợ Cả

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Chào mọi người, mình là tác giả của 2 bộ từng đăng, là
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Trong lúc lên idea cho Quyển 3, mình xin up lại bộ truyện cũ mình thực hiện cùng 1 bạn tên Thanh Tuyền. Tên là Mợ Cả, với bối cảnh là miền quê Nam Bộ thời Pháp Thuộc.

Chương 1: Nhà Hội Đồng Quyền (có update đánh dấu vàng)​

Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng

Chương 3: Vòng Lặp

Chương 4: Âm mưu của mợ Cả

Chương 5: Hàm oan

Chương 6: Thầy Bảy (1)

Chương 6: Thầy Bảy (2)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (1)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (2)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (1)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (1)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (3)

Chương 10: Ả Phù Dung (1) (Đã có chỉnh sửa đoạn "uống sữa")

Chương 10: Ả Phù Dung (2)

Chương 10: Ả Phù Dung (3)

Chương 11: Nhân quả (1)

Chương 11: Nhân quả (2)

Chương 11: Nhân quả (3)

Chương 12: Đền tội (1)

Chương 12: Đền tội (2)

Chương 12: Đền tội (3)

Chương 12: Đền tội (4)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (1)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (2)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (3)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (4) - END

Phụ lục: Cô Hai Kim


Bia-01.webp
 
Sửa lần cuối:
theo cốt truyện ban đầu, Mạnh nó sẽ treo cổ ngay trong nhà ông Hội đồng do bị ám. Nhưng mình viết thêm nội dung, cho Mạnh “quậy” thêm tí nữa
 
bác sờ poi thế này thì lại phải lót dép hóng tiếp rồi:dribble:
theo cốt truyện ban đầu, Mạnh nó sẽ treo cổ ngay trong nhà ông Hội đồng do bị ám. Nhưng mình viết thêm nội dung, cho Mạnh “quậy” thêm tí nữa
Đang khúc chuẩn bị cao trào rồi, không biết có đấu pháp gì không đây
 
Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (3)

Trời sụp tối nhanh hơn. Hai thầy trò dắt díu nhau đi sâu vô trung tâm làng, nơi con lộ đất nhỏ xíu chạy ngoằn ngoèo giữa những hàng nhà mái lá thấp lè tè.

Khi thấy một người băng kín mặt dắt theo một ông mù chống gậy tre đi ngang, mọi người bỗng chựng lại. Có người đang bưng mâm cơm ra hiên thì đứng khựng, tay giữ chặt cái mâm đồng cho khỏi nghiêng. Mấy đứa con nít đang ngồi xổm quạt lò than bị người lớn kéo tuốt vô trong, miệng dặn khẽ: “Vô lẹ đi con, đừng có nhìn bậy bạ.”

Giữa trung tâm làng, chỉ có một quán trọ duy nhất còn mở cửa. Tấm bảng gỗ treo trước hiên ghi mấy chữ đã bạc màu: Quán trọ Năm Cò. Mái ngói cũ phủ rêu, tường vôi loang lổ những vệt ố vàng của mưa nắng. Trước sân treo một cây đèn dầu, ánh lửa nhỏ hắt xuống nền gạch tàu nứt nẻ, soi rõ mấy đôi dép cao su xếp ngay ngắn sát vách.

Hai thầy trò vừa bước vô cổng thì cánh cửa phía trong hé mở. Một người đàn ông ló đầu ra trước, tay xách cây đèn bão leo lét. Ánh lửa vàng rọi lên gương mặt gầy gò, nước da sạm nắng với bộ ria mép lưa thưa đã ngả màu muối tiêu. Người đàn ông trạc lục tuần ấy đứng khựng lại một nhịp, rồi bật cười khà khà, giọng kéo dài rặt dân miền sông nước:

“Trời đất thiên địa ơi… thầy... Thầy Thiện Pháp đó hả? Hổm rày cả năm trời mới thấy thầy quay lại nghen!”

Thầy Thiện Pháp dừng lại, hơi nghiêng đầu về phía có tiếng nói. Tay ông siết nhẹ cây gậy tre, môi nhếch lên nụ cười hiền khi nhận ra giọng người quen cũ: “Ông Cò… cũng chừng đó lâu rồi ha ông Cò.”

Ông Cò cười hề hề, ánh mắt theo phản xạ liếc sang người đi sau. Cái nhìn ấy dừng lại lâu hơn thường lệ. Dù khuôn mặt kia bị băng kín mít, ông vẫn chép miệng một cái rõ kêu, giọng hạ thấp đầy vẻ ái ngại: “Còn thằng Hiếu… nó vẫn chưa thuyên giảm chút nào sao thầy?”

Người đệ tử khựng bước rất khẽ. Bàn tay đang nắm tay áo thầy siết chặt lại, rồi buông ra, lại nắm vào, đầy vẻ lúng túng. Thầy Thiện Pháp không đáp liền. Ông chậm rãi bước thêm một bước vô sân, như để tránh ngọn gió chướng từ phía sông Cổ Chiên đang lồng lộng thổi vào xóm nhỏ, rồi mới thong thả nói: “Chưa đâu ông Cò. Nó bị phỏng nặng quá. Tôi đang lần mò đi kiếm mấy ông thầy thuốc có thảo dược quý, may ra… mới cứu được đôi phần.”

Ông Cò gật gật đầu, miệng khẽ “dạ” một tiếng. Ông quay người mở rộng cánh cửa ván: “Thôi, vô trong nghỉ ngơi đi hai thầy trò. Đêm hôm sương xuống lạnh lắm.”

Vừa đi, ông vừa sực nhớ ra điều gì: “Mà hai thầy trò mình đã dùng cơm nước gì chưa?”

“Rồi”, thầy Thiện Pháp đáp. “Hồi chiều thầy trò tôi có ghé quán bà Tư Mập bên bến đò, ăn cũng lai rai rồi, nên giờ không có thấy đói.”

Ông Cò cười, lắc đầu quầy quậy: “Ăn quán nhằm nhò gì, chắc cũng còn bụng mà. Thôi để lát con kêu tụi nhỏ dưới bếp nhóm lửa nấu nồi cháo trắng với hột vịt muối cho thầy, ăn cho ấm bụng nha.”

Ông Cò vỗ tay hai cái bộp bộp, một đứa gia nhân mặc áo bà ba lật đật từ phía dãy nhà bếp chạy ra. Ông ghé sát tai dặn dò, giọng thấp vừa đủ nghe, rồi khoát tay cho nó lui vô trong. Xong xuôi, ông cầm cây đèn bão bằng đồng sáng choang, dẫn hai thầy trò bước lên cầu thang gỗ cẩm lai đen bóng. Từng bậc thang dày dặn, chắc nịch. Lan can cầu thang được chạm trổ hình lá tây uốn lượn theo phong cách nhà Tây, mát lạnh dưới lòng bàn tay.

Phòng dành cho khách nằm ở lầu một, cuối dãy hành lang lót gạch bông còn rõ hoa văn mới lát. Ông Cò đi chậm lại ở cuối dãy hành lang, đưa tay chỉ về căn phòng nằm sát vách trong cùng, rồi mới bước tới đẩy cánh cửa gỗ dày. Giữa phòng là hai chiếc giường gỗ đơn, mặt giường đóng ván chắc tay, trải chiếu bông dày và mát. Gối kê ngay ngắn, mùng xếp gọn ở đầu giường. Cạnh đó là cái bàn gỗ tròn thấp, trên đặt sẵn bình trà sành men nâu bóng, vài cái ly chén đã ngả màu thời gian nhưng còn sạch sẽ, tươm tất.

Từ khung cửa sổ lớn, nhìn xuống sân sau, cảnh tượng khác hẳn vẻ hiu quạnh năm nào. Nền sân lát toàn gạch tàu loại thượng hạng, láng bóng như gương. Dọc theo tường bao bằng gạch thẻ là hàng chục chậu kiểng cổ thụ, gốc rễ uốn lượn như rồng bay phượng múa, đặt trên đôn sứ cao cấp. Một lối đi có mái che dẫn thẳng tới gian nhà phụ phía sau. Gian nhà này được xây dựng kiên cố bằng tường gạch, lợp ngói vảy cá đỏ tươi, cửa nẻo bằng gỗ quý đóng kín mít, toát lên vẻ thâm nghiêm, tách biệt hẳn với gian nhà chính.

Người đệ tử đứng lặng bên cửa sổ một lúc lâu. Qua lớp băng quấn kín mặt, hơi thở hắn phả ra đều đều với giọng khàn đặc: “Sân vườn với phòng ốc ở đây… con thấy sang trọng, bề thế hơn năm trước bộn phần.”

Ông Cò đứng phía sau, nghe vậy thì cười khà khà đầy đắc ý. Ông bước tới gần cửa sổ, tay chỉ xuống dãy kiểng quý: “Ờ, cũng nhờ vậy mà tui nở mày nở mặt với xóm giềng.”

Ông ngập ngừng một nhịp, giọng hạ xuống thì thầm: “Mà thiệt tình… cũng nhờ ơn thầy Thiện Pháp hết đó. Năm ngoái thầy coi dùm cái vườn, sửa lại hướng cổng, đặt lại hòn non bộ. Từ bữa làm theo ý thầy, chuyện làm ăn cũng xuôi chèo mát mái, hổng còn lộn xộn lùm xùm như hồi trước.”

Thầy Thiện Pháp đứng giữa căn phòng, tay vẫn nắm chặt cây gậy tre mộc mạc. Ông không đáp lời, chỉ khẽ nghiêng đầu, đôi tai tinh tường đang lắng nghe sự im lặng lạ lùng từ phía gian nhà phụ xây gạch kín cổng cao tường kia.

“Phòng này là hồi năm ngoái thầy ở đó”, ông Cò nói tiếp, tay cung kính mời thầy ngồi xuống ghế gỗ trắc. “Ở đây yên tĩnh, tách biệt với đám người làm dưới nhà.”

Ông Cò đứng nán lại thêm một chút, mắt lại kín đáo liếc về phía người đệ tử đang đứng trong cửa sổ. Lần này ông nhìn kỹ hơn cái dáng đứng hơi khom, nghe rõ hơn hơi thở nặng nề sau lớp vải trắng.

“Có gì cần thêm thầy cứ gọi con”, ông nói, giọng thành kính.

Nói rồi, ông khẽ khép cánh cửa gỗ nặng trịch, bước chân đi êm ru trên thảm hành lang rồi mất hút.

Trong phòng, Hiếu vẫn đứng trân trân bên cửa sổ. Ngoài kia, gió thổi làm mấy tàu lá dừa nước quẹt vào mái ngói vảy cá của gian nhà phụ, phát ra tiếng kêu rin rít, cào cấu nghe lạnh cả gáy.

Cả ngày lặn lội đường đất, đêm xuống giữa căn phòng nhung lụa, hai thầy trò lại thấy người mệt mỏi lạ lùng. Hiếu ngồi tựa lưng vô vách tường vôi, hơi thở đều dần sau lớp băng. Thầy Thiện Pháp nằm xuống chiếc giường, cây gậy tre đặt dọc theo thân mình. Chưa kịp trao đổi lời nào về gian nhà phụ bí ẩn kia, cả hai đã chìm sâu vào giấc ngủ.



Không biết ngủ được bao lâu, giữa cái tĩnh mịch của đêm vắng, bỗng có tiếng gõ cửa vang lên, chậm rãi và đều đặn.

Cốc… cốc… cốc…

Hiếu giật mình ngồi phắt dậy, tay vô thức chạm vào lớp vải băng trên mặt. Thầy Thiện Pháp chỉ khẽ trở mình, đưa bàn tay khô gầy ra hiệu cho Hiếu cứ bình tâm.

Ngoài cửa, giọng ông Cò vọng vô, hạ thấp như sợ làm động giấc ngủ của những phòng kế bên: “Thầy ơi… thầy còn thức đó hông? Con dọn miếng cháo trắng hột vịt muối, thầy trò dậy ăn chung với con một chút cho ấm bụng.”

“Vô đi ông Cò” thầy Thiện Pháp đáp, giọng vẫn điềm đạm dù vừa tỉnh giấc.

Cánh cửa gỗ gõ mở ra êm ru. Ông Cò bước vô, hai tay bưng cái khay gỗ, đặt ba tô cháo trắng bốc khói nghi ngút lên bàn. Mùi gạo mới quyện với chút gừng xắt chỉ làm căn phòng bớt đi vẻ lạnh lẽo. Ông kéo cái ghế trắc ngồi xuống, vừa dùng tay quạt quạt cho tô cháo bớt nóng, vừa liếc mắt nhìn quanh một vòng: “Ngủ nghê trong phòng này thầy thấy có ổn hông thầy?”

Thầy Thiện Pháp húp một muỗng cháo nhỏ, khẽ gật đầu hài lòng: “Êm lắm. Yên tĩnh vô cùng. Tôi già rồi, chỉ cần chỗ nằm êm ái là ngủ được liền.”

Ông Cò cười hì hì, giọng lộ vẻ hãnh diện: “Dạ, cái nệm bông này con phải cất công đặt mua tận trên Sài Gòn, chở ghe bầu về đây đó thầy. Thứ nệm này êm như nhung, ở cái xứ này chắc chưa nhà ai có đâu.”

Hiếu ngồi im lìm từ nãy, bỗng dưng lên tiếng, đôi mắt sau lớp băng vải vẫn đăm đăm hướng ra khung cửa sổ mờ mịt: “Cái gian nhà phụ phía sau… hình như ông mới cất thêm hả ông Cò?”

Ông Cò khựng lại một nhịp rất ngắn, cái muỗng trong tay ông chạm nhẹ vào thành tô sứ kêu một tiếng keng.

“Ờ… đúng rồi”, ông đáp, giọng nghe hơi gượng. “Tui cất thêm để làm cái kho chứa mấy món đồ cổ với đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà thôi.”

Hiếu không hỏi thêm, chỉ cúi đầu, muỗng cháo khẽ khuấy nhẹ thành vòng tròn trong tô. Thầy Thiện Pháp đặt muỗng xuống, quay mặt về phía ông Cò, đôi mắt mờ đục nhưng như nhìn thấu tâm can người đối diện: “Ông Cò nè. Ông làm chủ quán trọ ở đây, người ra người vô, khách khứa bốn phương đông đúc. Dạo này tôi nghe phong phanh trong làng mình… có chuyện gì lạ lắm phải không?”

Ông Cò ngẩng lên, mắt chớp nhanh như muốn né tránh ánh nhìn của thầy.

Ông kéo dài giọng, tay vân vê mép áo bà ba. “Dạ... Chuyện trong làng thì cũng mấy chuyện đầu gà đít vịt, có gì lạ đâu thầy.”

“Nhất là bên phía nhà ông bà Hội đồng Quyền”, thầy nói thêm, giọng vẫn đều đều: “Tôi nghe thiên hạ đồn đại bên đó dạo này xảy ra nhiều cái chết… có vẻ không được bình thường?”

Ông Cò thở ra một hơi dài, nhấc tô cháo lên húp một ngụm lớn như để lấy can đảm rồi mới đáp: “Chết thì có thiệt đó thầy, mà kêu kì lạ thì con hổng dám bàn thêm. Thiên hạ cứ thêu dệt cho ly kỳ vậy chớ…”

Ông ngồi thẳng lưng lại, giọng hạ xuống thì thầm: “Như mợ Hai Sinh đó, nghe đâu tư thông với gã nhân tình ngay trong dinh cơ nhà Hội đồng. Gã đó chống trả rồi bị nhà Hội đồng bắt, sau đó thì bị giết. Còn mợ Sinh thì bỏ trốn mất biệt, nghe đâu theo trai phương nào rồi. Tới lượt mợ Ba Mỹ Lệ cũng vậy, cũng tính đường trốn đi theo nhân tình, bị bắt lại rồi cả hai cũng bị giết.”

Ông nhún vai: “Toàn là chuyện có đầu có đuôi rõ ràng. Ai làm nấy chịu, luật nhân quả mà thầy, chớ đâu có phải chết oan ức gì đâu.”

Thầy Thiện Pháp im lặng một lát, đôi lông mày bạc khẽ nhíu lại: “Còn đứa nhỏ… thằng Dũng?”

Ông Cò “à” lên một tiếng, gật đầu liên hồi như vừa nhớ ra: “À, thằng nhỏ Dũng, con mợ Hai Sinh đó mà. Tội nghiệp nó…”

Ông đặt tô cháo xuống, giọng trầm hẳn: “Mấy tháng trước, người ta vớt xác nó dưới sông, ngay cái khúc lò gạch cũ bị sạt lở đó thầy, hồi đó đất lở lòi cả xương người ra ngoài.”

Ông lắc đầu chép miệng, vẻ mặt lộ rõ sự kinh hãi: “Dân làng mình ai cũng kêu chỗ đó bị động phần âm, phải đắp đê đắp đất cho kỹ chớ hông là lở đất thêm. Đằng này nhà ông Hội đồng cứ để mặc cái lò gạch cũ trơ trơ ra đó, hổng cho ai đụng vô.”

Thầy Thiện Pháp khẽ hỏi lại: “Lò gạch cũ… mà có cả xương người sao?”

Ông Cò nhìn thầy, gật đầu chậm rãi: “Dạ, xương người thiệt đó thầy. Bữa cái ngày mợ Hai Sinh bỏ đi, sông Cổ Chiên đánh làm sao mà lò gạch sập mất nửa bên. Dưới lớp đất lòi ra mấy bộ hài cốt nhìn kinh lắm. Quan trên họ xuống điều tra, nói hồi xửa hồi xưa chỗ đó là cái bãi chôn người tập thể. Rồi ông Hội đồng cũng cho người đem mấy bộ xương đó ra nghĩa địa làng hết rồi, chớ để đó ai mà dám đi ngang qua.”



Câu chuyện chưa dứt thì từ phía dãy nhà dưới bỗng vang lên tiếng la hét thất thanh, xé toạc cái không gian tĩnh mịch của ngôi nhà: “Thả tao ra! Trả vàng đây! Đứa nào cướp vàng của tao? Trả vàng cho tao!”

Tiếng động làm cả gian phòng chấn động. Ông Cò bật dậy khỏi ghế gỗ trắc, mặt biến sắc, chép miệng một cái: “Trời đất thiên địa ơi… lại tới cơn nữa rồi…”

Thầy Thiện Pháp quay nhẹ đầu về phía cầu thang, tay vẫn đặt trên mép bàn, giọng ông vẫn bình thản: “Ông Cò… dưới đó có chuyện gì mà xôn xao vậy? Tiếng ai la lối nghe thảm thiết dữ?”

Ông Cò đứng sững giữa phòng, ông thở ra một hơi dài thườn thượt, rồi mới quay lại, giọng hạ xuống thấp nhất có thể: “Dạ… thưa thầy, là tía của con đó. Khổ thân già!”

Ông đưa tay quệt mồ hôi rịn trên trán: “Ổng già lắm rồi, năm nay tính ra cũng hàng tám mươi. Hồi trước ổng ở chung với con ở đây, sau mấy đứa em trên Sài Gòn rước ổng lên trển ở cho gần nhà thương. Mấy tháng nay ổng nhớ quê, đòi về chết trên đất quê cho bằng được, con mới lật đật rước ổng về lại đây.”

Tiếng la dưới nhà lại vọng lên, lần này nghe khàn đục, đứt quãng như có gì đó nghẹn lại ở cổ họng: “Vàng của tao đâu… tụi bây ăn gan hùm hay sao mà dám giấu vàng của tao…”

Ông Cò mím môi, giọng khàn đi vì mệt mỏi: “Ổng bị lẫn rồi thầy ơi. Ban ngày thì ngồi im phăng phắc như đóng gạch, chớ hễ trời sụp tối là ổng cứ lên cơn la lối om sòm vậy đó. Cứ đòi vàng, đòi bạc…”

Thầy Thiện Pháp khẽ gật đầu, gương mặt vẫn không lộ chút cảm xúc: “Chuyện này... tôi cũng có biết sơ qua đôi chút cách để trấn tâm, an thần.”

Ông nghiêng đầu về phía Hiếu: “Nếu ông Cò không chê, dẫn thầy trò tôi xuống coi thử ông cụ ra sao. Biết đâu duyên may lại giúp cụ bớt phần khổ sở.”

Ông Cò không đáp liền, ánh mắt ông thoáng hiện vẻ lưỡng lự nhưng rồi cũng khẽ “dạ” một tiếng, quay người đi trước dẫn đường. Hai thầy trò dắt díu nhau theo sau, bước xuống cầu thang gỗ.

Xuống tới tầng trệt, thầy Thiện Pháp chợt cất tiếng hỏi, giọng như đang trò chuyện bâng quơ: “Ông cụ năm nay hơn tám chục… vậy chắc ông ta sống ở đất này từ hồi còn thời thanh niên trai tráng?”

Ông Cò gật đầu, vừa đi vừa lẹt xẹt đôi dép: “Dạ, đúng rồi thầy. Tía con gốc gác ở đây từ hồi đời ông sơ, ông cố lận.”

Ông ngập ngừng một nhịp, rồi nói tiếp bằng cái giọng trầm buồn, như tự nhắc lại một quá khứ không mấy vui vẻ: "À, tía con hồi trẻ có làm gia nhân, làm thuê làm mướn cho ông nội của ông Hội đồng bây giờ. Lúc đó bên ấy chỉ là một nhà lái buôn lúa gạo lớn nhất nhì vùng này thôi, chứ chưa có cái danh Hội đồng gì đâu”

Ông quay đầu lại nhìn thầy Thiện Pháp, nói thêm một câu rất nhỏ: “Con cũng chỉ nghe tía kể lại hồi ổng còn tỉnh táo, chớ mấy chuyện xưa đó… con hổng biết là đúng hay sai.”



Cánh cửa phòng vừa mở ra, mùi ẩm nồng pha lẫn mùi mồ hôi xộc thẳng vô mũi. Trên chiếc phản gỗ kê sát vách, một ông cụ gầy nhom, da bọc xương, bị buộc ngang người bằng mấy vòng dây thừng thô kệch, cổ tay cũng bị cột chặt vô thành phản. Ông cụ co rút người lại như một con tôm khô, hai chân đạp loạn xạ vào không trung, mấy đầu ngón tay khẳng khiu cào vô vách gỗ kêu sồn sột, tróc cả lớp vôi vách. Miệng ông la khản đặc, tiếng được tiếng mất.

“Trời ơi… sao lại trói ông cụ dữ vậy ông Cò?”. Hiếu thốt lên khi vừa dừng chân ngay ngưỡng cửa.

Thầy Thiện Pháp nghe đệ tử nói vậy thì đôi chân mày bạc nhíu chặt lại, ông hỏi dồn: “Cái gì? Trói ông cụ hả? Sao lại làm chuyện trái luân thường đạo lý vậy ông Cò?”

Ông Cò quýnh quáng bước lên một bước, hai tay xua lia lịa: “Dạ thưa thầy, đâu phải con muốn làm chuyện thất đức đâu thầy. Tại ổng lên cơn dữ quá, hổng buộc lại là ổng đập banh chành hết đồ đạc trong phòng, con làm sao mà đỡ cho kịp.”

Thầy không đáp liền. Ông đứng sững, lắng nghe hơi thở hổn hển, gấp gáp của ông cụ, nghe tiếng dây thừng cọ vào cạnh gỗ ken két theo từng nhịp giãy giụa. Một lúc sau, ông mới thò tay vô cái túi đếch đeo bên hông, lấy ra một cái túi nhung nhỏ màu sậm đã cũ mòn.

“Hiếu, lại đây con.”

Hiếu bước tới, nhận lấy túi nhung từ tay thầy rồi tiến sát lại bên giường. Hiếu mở hé miệng túi, đưa sát lại gần mũi ông cụ. Một mùi hương khô khốc, hơi hăng nồng nhưng thanh thoát thoảng ra trong không gian.

Ông cụ đang giãy giụa bỗng khựng lại như bị trúng bùa chú. Tiếng la hét nhỏ dần rồi tắt ngấm. Lồng ngực gầy guộc nhấp nhô chậm lại, hai mí mắt sụp xuống, thân người mềm nhũn ra trên tấm phản.

Ông Cò đứng sững sờ, miệng há hốc: “Cái… cái đó là gì mà hay dữ vậy thầy?”

“Đó là xạ hương rừng trộn với rễ viễn chí phơi sương”, thầy đáp gọn lỏn. “Thứ này để định tâm, giữ cho thần trí tỉnh táo.”

Một lúc sau, ông cụ lờ mờ mở mắt. Ánh nhìn còn đục ngầu nhưng đã bớt vẻ hoảng loạn, điên dại. Ông quay đầu chậm chạp, nhìn quanh một hồi rồi dừng lại nơi ông Cò đang đứng đứng run run.

“Thằng Cò…” giọng ông cụ khàn đặc. “Khuya lơ khuya lắc rồi sao mày chưa đi ngủ, còn dẫn ai vô phòng tao vậy hả?”

Ông Cò mừng rỡ, bước tới sát mép phản, cúi người xuống: “Tía… tía tỉnh rồi hả tía? Tía thấy trong người sao rồi?”

Thầy Thiện Pháp khẽ quay sang Hiếu, ra hiệu: “Hiếu, con ra ngoài hành lang đứng chờ, để thầy ở lại thưa chuyện riêng với ông cụ một lát.”



Hiếu vừa bước ra khỏi phòng, thì cũng là lúc những tiếng xầm xì từ các phòng lân cận, các tầng trên bắt đầu bùng lên.

Mấy phòng khách trọ lân cận lục tục kéo nhau ra khỏi buồng, tiếng dép lê lẹt xẹt hòa lẫn với những lời cằn nhằn đầy bực dọc: “Trời đất thiên địa ơi, bộ nhà này nuôi người điên hay sao mà la lối dữ thần vậy trời? Làm ăn kiểu này ai mà dám ngủ. Mai tui còn chuyến ghe hàng đi tỉnh từ tờ mờ sáng, kiểu này chắc mai nằm bẹp một chỗ quá!”

Có người đang đi nửa chừng, chợt ánh mắt chạm phải dáng hình lặng lẽ của Hiếu đứng ngay góc tối, gương mặt quấn băng trắng toát dưới ánh đèn dầu leo lét thì giật bắn mình, chựng lại một nhịp. Họ vội vàng cụp mắt, im lặng như tờ rồi quay lưng đi thẳng về phòng, đóng cửa cái rầm.

Ở cuối hành lang, một tay khách buôn lúa gạo hé cửa, ló cái đầu bóng loáng mồ hôi ra, giọng run run: “Bộ nhà có người chết hay sao mà la lối dữ thần vậy trời? Làm ăn kiểu này ai mà dám ngủ!”

Chưa kịp dứt lời, từ phía nhà bếp, tiếng giày nện xuống sàn gỗ rôm rốp. Một tên người nhà của ông Cò, tay cầm cây gậy mây, miệng ngậm điếu thuốc rê cháy dở, nghênh ngang bước tới. Thấy đám khách đang tò mò, gã trợn mắt, chửi thề một tiếng rõ to: “Đù má tụi bây! Chuyện nhà tao chớ có phải chuyện họp chợ đâu mà ló đầu ra coi? Thằng nào còn ló mặt ra nữa tao vả cho rụng răng à nghen! Vô phòng đóng cửa lại cho lẹ, hông là tao liệng xuống lầu đó!”

Đám khách nào còn đang tò mò, nghe vậy lật đật rụt cổ vô trong, tiếng cài then cửa vang lên lạch cạch. Gã khạc một bãi đờm ngay xuống sàn gỗ bóng loáng, rồi quay sang nhìn Hiếu. Ánh mắt gã quét từ trên xuống dưới, dừng lại rất lâu ở lớp băng quấn trên mặt Hiếu với vẻ khinh khỉnh.

“Ê, cái thằng mặt nùi giẻ kia!” Gã hất hàm, phà một hơi khói thuốc khét lẹt vô mặt Hiếu. “Mày là đệ tử của ông thầy mù đó hả? Mẹ nó, nhìn mày giống hệt mấy con ma da dưới sông mới ngoi lên vậy đó?”

Hiếu không đáp, đôi tay giấu trong tay áo rộng khẽ siết lại. Hiếu đứng im lìm như một pho tượng đá, chỉ có hơi thở đều đều phả ra sau lớp vải. Sự im lặng của Hiếu làm gã kia cảm thấy bị chạm tự ái. Gã tiến sát lại, mũi giày chạm sát mũi giày vải của Hiếu: “Tao hỏi mày hổng nghe hả cái thằng què quặt này? Mày biết tao là ai không? Tao là Ngọ, con của ông Cò, chủ của cái nhà này, mày cậy có thầy chống lưng nên khinh thường tao sao? Cha nó, cái hạng như mày, tao bẻ cổ cái rụp một hồi bây giờ!”

Ngọ vừa nói vừa đưa tay tính giật lớp vải băng trên mặt Hiếu cho bõ ghét. Nhưng bàn tay gã vừa mới nhấc lên nửa chừng, Hiếu đã khẽ nghiêng người né tránh.

Tên Ngọ bị hụt chân, lảo đảo một nhịp. Gã đỏ mặt tía tai, vứt điếu thuốc xuống đất rồi dẫm nát, định xông vô ăn thua đủ: “Mẹ mày, mày dám né hả? Thằng này láo thiệt! Để hôm nay tao dạy cho mày biết thế nào là lễ độ ở cái đất này!”

“Ngọ! Mày làm cái giống gì um xùm ngoài đó vậy?” Giọng ông Cò từ trong phòng vọng ra, uy lực và nóng nảy.

Ngọ khựng lại, mặt biến sắc. Gã hậm hực lùi lại một bước, chỉ tay sát mặt Hiếu, nghiến răng nói nhỏ qua kẽ răng: “Đù má, coi như mày hên. Lát nữa thầy mày đi rồi, tao với mày 'tâm sự' sau. Để coi cái mặt sau lớp giẻ rách của mày nó gớm ghiếc tới cỡ nào!”

Nói đoạn, gã quay lưng đi thẳng, tiếng giày vẫn nện xuống sàn gỗ nghe chát chúa, để lại Hiếu một mình giữa hành lang u tối, nơi những đôi mắt tò mò từ các phòng vẫn đang lén lút nhìn qua khe liếp.



Khi hành lang chỉ còn lại sự tĩnh mịch, Hiếu kéo cái ghế trường kỷ bằng gỗ gõ đặt sát cột, ngồi xuống đợi. Bàn tay Hiếu đặt trên đầu gối, các ngón tay siết chặt lấy lớp vải quần lạnh ngắt lúc nào không hay.

Chừng một lúc, ngoài cửa quán trọ vang lên tiếng dép rồm rộp. Một gã đàn ông dáng vẻ bặm trợn, ngực phanh áo bà ba để lộ hình xăm con rồng xanh ngoằn ngoèo, đứng lại ngay trước mặt Hiếu. Gã nheo mắt nhìn hắn chòng chọc như nhìn một vật thể quái dị.

“Ủa…, thằng quấn nùi giẻ! Hồi chiều tao gặp mày bên quán bà Tư Mập nè chớ đâu.”

Gã hất cằm, phà một hơi thuốc rê khét lẹt vô không khí: “Ông Cò đâu rồi mậy? Kêu ổng ra đây cho tao coi!”

Hiếu vẫn ngồi bất động, đôi mắt sau lớp băng vải nhìn chằm chằm vô gã, không hé môi nửa lời.

“Ê, đù má, tao hỏi mày đó!” Gã gắt lên, giọng khàn đặc vì rượu và khói thuốc. “Mẹ mày, bộ câm hay sao mà trố mắt nhìn tao? Tao hỏi ông Cò đâu!”

Hiếu vẫn đứng yên như một pho tượng đá trong. Sự im lặng của hắn khiến gã đàn ông cảm thấy bị chạm tự ái. Gã chửi thề: “Xui như chó cắn! Gặp ngay cái thằng mặt ma câm như hến. Mày nhắn lại với thằng cha Cò là tháng sau nhớ lo thêm hàng cho anh Mạnh. Kêu ổng liệu hồn, tiền bạc anh Mạnh trả sòng phẳng thì hàng phải tới nơi tới chốn. Ủa mà mày bị câm mà, con mẹ nó thiệt chứ?”

Hiếu cất tiếng chậm rãi, giọng khàn như không ra hơi: “Tôi là khách mới tới, không biết chuyện trong nhà này.”

Gã trừng mắt, đưa bàn tay đầy sẹo chỉ sát mặt Hiếu: “Biết nói thì nói sớm đi, ** mẹ mày làm tao tốn nước miếng nãy giờ. Cái hạng quái thai như mày, đứng đây ám quẻ quán người ta chớ làm được tích sự gì. Lần sau tao qua mà còn thấy mày đứng trơ trơ cái mặt ra đó, tao xé xác mày ra làm đôi nghe chưa mậy!”

Khi gã kia vừa hậm hực quay đi, từ góc tối của dãy hành lang, thằng Ngọ lù lù bước ra. Hắn vừa đi vừa liếc nhìn Hiếu bằng cặp mắt láo liên, đầy vẻ ngờ vực, rồi lật đật chạy cun cút theo sau gã đàn ông bặm trợn kia. Qua ánh đèn lồng treo nơi cửa sảnh, Hiếu nhìn thấy rõ mồn một gã kia đưa tay gõ vào đầu thằng Ngọ một cái rõ đau, rồi kín đáo giúi vào tay nó một túi vải đựng đầy tiền.

Sau khi nhận tiền, cả hai cùng dừng lại, trừng mắt nhìn về phía Hiếu với vẻ đe dọa đầy sát khí, rồi gã kia mới mất hút vào bóng đêm. Thằng Ngọ quay trở lại, bước tới đứng sát bên Hiếu. Hắn nhổ toẹt một bãi nước miếng, giọng gằn lên đầy vẻ hống hách: “Mày mới tới, có thấy cái giống gì thì ngậm cái họng cho chặt. Biết chuyện thì sáng mai hai thầy trò mày cuốn gói cút xéo cho lẹ, đừng có lảng vảng ở đây mà ám quẻ tụi tao!”

Nói đoạn, thằng Ngọ hầm hầm bỏ đi về hướng buồng riêng, tiếng chân dậm mạnh lên sàn gỗ như muốn dằn mặt Hiếu.



Một lúc sau, cánh cửa phòng của ba ông Cò mới từ từ mở ra. Ông Cò run rẩy dìu thầy Thiện Pháp bước ra ngoài. Dưới ánh đèn dầu tù mù, gương mặt ông Cò tái mét, không còn một giọt máu, mồ hôi vã ra như tắm dù trời đang lạnh.

Hiếu vội vàng bước tới, định đỡ lấy thầy thì thầy Thiện Pháp đã nắm chặt lấy cánh tay Hiếu, giọng trầm: “Dìu thầy lên phòng đi Hiếu.”

Ông Cò bỗng dưng quỳ sụp xuống sàn gỗ, hai tay chắp lại lạy thầy Thiện Pháp như lạy sống một vị Phật:

“Dạ… con đội ơn thầy, đội ơn thầy đại xá! Nhờ ơn đức của thầy mà tía con mới tỉnh táo, mới chịu nhận ra con cháu. Con mang ơn thầy tới chết cũng không quên…”

Thầy Thiện Pháp chỉ khẽ gật đầu, không nói lời nào, mặc cho ông Cò vẫn còn quỳ đó sụt sùi. Hiếu im lặng dìu thầy trở lại căn phòng ở lầu trên. Khi cánh cửa gỗ vừa khép kín, Hiếu nhẹ nhàng dìu thầy nằm xuống giường.

Thầy Thiện Pháp nằm xuống, hơi thở có chút mệt mỏi nhưng đôi mắt mờ đục của thầy bỗng trở nên sắc lạnh lạ thường. Thầy nắm lấy tay Hiếu, kéo sát lại, giọng hạ thấp chỉ đủ cho hai thầy trò nghe thấy: “Hiếu à… cái nhà ông Hội đồng Quyền đó… nó không chỉ có ma quỷ quấy phá đâu con.”

Thầy ngưng lại một nhịp, luồng khí lạnh từ phía sân sau dường như đang len qua khe cửa. Thầy nói tiếp: “Nó còn có vàng… rất nhiều vàng.”
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
Harukukenly,
Trả lời
345
Lượt xem
35.238
Quay lại
Lên đầu trang