[Kinh dị] Mợ Cả

  • Người tạo chủ đề Người tạo chủ đề appler
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Chào mọi người, mình là tác giả của 2 bộ từng đăng, là
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen
Chuyện Kì Dị Núi Bà Đen 2
Trong lúc lên idea cho Quyển 3, mình xin up lại bộ truyện cũ mình thực hiện cùng 1 bạn tên Thanh Tuyền. Tên là Mợ Cả, với bối cảnh là miền quê Nam Bộ thời Pháp Thuộc.

Chương 1: Nhà Hội Đồng Quyền (có update đánh dấu vàng)​

Chương 2: Bờ Vực Tuyệt Vọng

Chương 3: Vòng Lặp

Chương 4: Âm mưu của mợ Cả

Chương 5: Hàm oan

Chương 6: Thầy Bảy (1)

Chương 6: Thầy Bảy (2)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (1)

Chương 7: Lời Cảnh Báo (2)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (1)

Chương 8: Cô Đào Mỹ Lệ (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (1)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (2)

Chương 9: Ác Nghiệp Thâm Sâu (3)

Chương 10: Ả Phù Dung (1) (Đã có chỉnh sửa đoạn "uống sữa")

Chương 10: Ả Phù Dung (2)

Chương 10: Ả Phù Dung (3)

Chương 11: Nhân quả (1)

Chương 11: Nhân quả (2)

Chương 11: Nhân quả (3)

Chương 12: Đền tội (1)

Chương 12: Đền tội (2)

Chương 12: Đền tội (3)

Chương 12: Đền tội (4)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (1)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (2)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (3)

Chương 13: Kho báu nhà Hội đồng (4) - END

Phụ lục: Cô Hai Kim


Bia-01.webp
 
Sửa lần cuối:

CHƯƠNG 10: Ả Phù Dung (1)


Dưới gốc bần già, có mấy cái đàn ông mình trần trùng trục, da dẻ ám khói đen nhẻm đang ngồi quây lại. Gió từ sông Cổ Chiên thổi vô lồng lộng, làm mấy tàu lá chuối đựng cá nướng cứ run bần bật.

Thằng Đực, một gã trai có bộ ngực vạm vỡ nhưng cặp mắt lúc nào cũng láo liên, hắn hớp một ngụm rượu đế khà lên một tiếng rõ kêu, rồi nhìn Thìn: “Nè Thìn, tính ra mày sướng nhứt đám nghen. Vợ mới đẻ thằng cu Cò kháu khỉnh, mà tính làm gì kiếm tiền lo bú mớm, sắm sửa cho nó chưa mậy?”

Thìn xoay xoay cái chén mẻ trong tay, nhìn bọt rượu sủi tăm: “Sướng ích gì mày ơi. Ngặt nỗi vợ tao nó ốm yếu, tao thì trong túi hổng còn một đồng dính túi. Nhìn tụi nó đói khổ, tao thấy mình làm đàn ông mà tệ quá.”

Thằng Chín ngồi kế bên, tay đang gỡ miếng da cá cháy khét, bỗng hạ giọng ra vẻ bí hiểm: “Nói tới chuyện tiền bạc mới nhớ. Tụi bây nghe tin gì chưa? Cái bãi mả lạng bìa rừng phía trên kìa, có ông lái buôn tên Trạch ở đâu tuốt trên Chợ Lớn xuống mua đứt rồi.”

Cả đám đang nhậu bỗng im bặt. Thằng Đực trợn mắt: “Gì? Cái bãi đó ma quỷ nhiều, đêm đêm ma trơi bay lập lòe như đom đóm, ổng mua làm cái giống gì? Bộ định xây nhà trên đầu người chết sao?”

“Thì đó mới là chuyện lạ!” Thằng Chín tiếp lời, giọng càng nhỏ dần. “Nghe đâu ổng đang tuyển thợ phát hoang, san lấp mặt bằng để cất nhà. Trả tiền công hậu hĩnh lắm, một ngày làm là bằng tụi mình đi cày thuê cấy mướn cả tuần lễ chớ hổng chơi. Mà ngặt nỗi... hổng ai dám nhận.”

Thìn nãy giờ im lặng, bỗng ngước lên. Cái chữ "tiền công hậu hĩnh" nó đâm thẳng vô lòng Thìn như một cái dằm. Anh nghĩ tới cảnh vợ nằm ổ thiếu trước hụt sau, nghĩ tới thằng Cò tối tối khóc ngằn ngặt vì khát sữa.

Anh khẽ hỏi, giọng trầm xuống: “Thiệt hông Chín? Đất đó... bộ đáng sợ lắm sao?”

Thằng Chín chép miệng, đưa ngón tay cáu bẩn quẹt miệng chén cho khô rồi hạ giọng xuống, nghe liêu trai vô cùng: “Mày mới tới nên không biết thôi. Đất đó là để chôn người chết trôi, chết đường chết chợ từ hồi xửa hồi xưa. Hễ nước ròng là xương trắng lòi ra trắng nhách hà.”

Hắn chưa nói hết câu đã liếc quanh một hồi, như sợ có cái vong linh nào đứng sau nghe lén. Rồi hắn nghiêng người sát vô giữa mâm nhậu, giọng khàn đặc: “Nghe mấy cha đi giăng câu đêm kể lại, có đêm nước rút mạnh, gió hú lên từng cơn, thấy nguyên một cái bóng người cao nhòng đứng lù lù bên mé sông. Cái bóng đó… hổng có đầu. Chỉ đứng im lìm vậy thôi, mà hễ sáng ra là chỗ đó tanh rình mùi máu, cá tôm chết nổi trắng bụng lềnh bềnh, dòm kinh hãi lắm.”

Thằng Đực nghe tới đó khẽ rùng mình, bắp thịt trên vai hắn nổi da gà cục cục, nhưng vẫn cố cười hề hề cho đỡ sợ. Hắn châm thêm rượu cho đầy chén, nói lảng sang chuyện khác: “Ờ thì… mấy chuyện miệng bóng gió ấy mà. Nhưng mà thiệt tình, tía tao kể hồi trước có thằng cha nọ gan lỳ, lén ra đó móc sắt tìm đồ cổ, đêm về sốt mê man mấy ngày trời. Ổng cứ trợn mắt, hai tay quào cấu không trung, la hét kêu có con ma vú dài ngồi chồm hổm trên ngực, hai tay bóp cổ đòi lại đồ đã lấy.”

Một người khác nãy giờ chỉ lo nhắm cá, bỗng buông đũa, giọng thấp xuống như tiếng gió lùa qua bờ lau sậy: “Đâu chỉ có vậy. Có mấy người đi soi ếch còn thấy đốm lửa xanh lè, hổng phải đom đóm đâu nghen, nó to bằng cái chén, cứ bay là là mặt đất. Hễ ai yếu bóng vía bước theo là đi lạc vô rừng sậy cả buổi trời, cứ đi vòng vòng tới sáng. Lúc người ta tìm thấy thì mình mẩy dính đầy sình bùn với cỏ lác, mắt trợn trừng, miệng sùi bọt mép.”

Giữa lúc không khí đang trầm xuống vì mấy chuyện ma quỷ, bỗng từ ngoài lộ đất, thằng Lượm chạy xồng xộc vô tới mâm nhậu, mặt mày hớt hải, thở hì hục như trâu vật. Nó chưa kịp đặt đít ngồi xuống đã chống hai tay lên đầu gối, mắt sáng rỡ như bắt được vàng, giọng hổn hển: “Mấy cha… mấy cha nghe tin gì chưa? Ông Trạch… ông lái buôn mới về đó, ổng đang tiếp tục tuyển thợ khai hoang, xây dinh cơ. Ổng tuyên bố trả tiền công hậu hĩnh hơn gấp đôi, gấp ba lần đó tụi bây!”

Cái chữ “gấp ba” vừa lọt vô tai, mấy cái chén rượu đang đưa lên môi bỗng khựng lại giữa chừng. Thằng Chín nheo mắt, gặng hỏi lại cho chắc ăn: “Ổng điên hay sao mà trả tiền dữ vậy?”

Thằng Lượm quẹt mồ hôi trán, gật đầu lia lịa: “Thì bởi đất dữ nên ổng mới trả cao để mua mạng người ta làm liều chớ sao! Tui nghe nói ổng cần người gấp lắm, ai dám nhận làm là ổng phát tiền cọc trước một mớ liền.”

Không khí quanh mâm nhậu bỗng chốc lặng tờ, chùng xuống một cách lạ kỳ. Chữ “tiền” lúc này nó lơ lửng giữa làn khói. Ai nấy cũng đều sợ những bóng ma ngoài mé sông, nhưng cái cảnh nghèo đói, túng thiếu ở nhà nó còn đáng sợ hơn gấp vạn lần.

Thìn lặng lẽ đặt cái chén mẻ xuống tàu lá chuối. Tay anh vô thức xoa xoa lên khớp gối, đầu óc giờ đây không còn những hình ảnh ma quỷ nữa, mà chỉ văng vẳng tiếng khóc oe oe khát sữa của thằng Cò, gương mặt xanh xao của người vợ trẻ đang nằm ổ thiếu hụt đủ đường.

Thìn đứng phắt dậy trước tiên. Anh đưa bàn tay thô ráp phủi sơ lớp đất cát dính trên ống quần lãnh, rồi siết chặt nắm đấm lại trước khi buông ra.

“Thôi tao đi đây, ở đây ngồi bàn ra tán vô hoài, vợ con ở nhà cũng đâu có no bụng được, tụi mày muốn thì theo tao”.

---

Bãi đất ven sông vốn là chỗ hoang vu, nay bị đám thanh niên làng cào xới tới nát bấy. Tiếng lau sậy bị đốn ngã rào rào, tiếng cuốc nện xuống đất nheo nhẻo giữa cái nắng hanh hao của vùng Cổ Chiên. Đám thợ vừa làm vừa hăng hái bàn tán, có đứa mặt mày rạng rỡ hẳn lên vì mới nhận được tiền cọc.

Giữa cái không gian lộn xộn đó, ông Trạch lù lù xuất hiện. Ông ta người gầy nhom, da sạm màu nắng gió nhưng bộ đồ bà ba lụa đen bóng loáng cùng đôi dép đúc đã cho thấy cái danh lái buôn giàu có. Đi bên cạnh là Phước, đứa con trai trẻ măng lúc nào cũng đi hơi khom người, ánh mắt lờ đờ, ít khi nào nhìn thẳng vô mặt đám thợ trai tráng.

Nhưng người làm cho cả đám phải nín thở, lén lút đưa mắt dòm chừng chính là ông thầy pháp. Ông này mặc bộ áo dài sẫm màu đã cũ nhưng sạch sẽ, tay xách cái túi vải nặng chình chịch. Suốt buổi, ông hổng hé môi nói với ai một lời, cứ lầm lũi bước đi trên mảnh đất sình lầy. Cứ đi được một đoạn, ông lại dừng chân, cúi người đặt một cái hộp gỗ nhỏ xuống mấy chỗ đất mới đào lên.

Mỗi lần như vậy, ông thầy lại lầm rầm gì đó trong miệng, rồi mới ra hiệu cho thợ xúc đất lấp lại cho bằng.

Thằng Đực vừa hất một xẻng đất đầy rễ cỏ, vừa cười hỉ hả với Chín: “Nè Chín, mày xài tiền cọc sao rồi? Kiểu này xong việc, tao dư sức cưới con Lụa bên xóm dưới rồi nghen!”

Thằng Chín quệt mồ hôi, cười nhe răng: “Tao mới tạt qua đại lý gạo trả dứt nợ. Chủ quán nó thấy tao cầm tiền, nó đon đả hẳn ra, hổng còn cái mặt sưng sỉa như hồi tuần trước. Có tiền sướng thiệt tụi bây ơi!”

Thìn nãy giờ im lặng cào cỏ, bỗng dừng tay, nhìn về phía ông thầy pháp đang đi đằng xa, rồi hỏi nhỏ: “Tụi bây hổng thấy lạ sao? Làm nhà mà chôn mấy cái hộp gỗ nhỏ xíu đó khắp nơi, rồi ông thầy cứ lầm bầm như tụng kinh... Tao dòm mà thấy gai gai trong người.”

Thằng Đực tặc lưỡi, cười khà khà: “Trời đất, ông Thìn ơi ông Thìn! Nhà giàu người ta kỵ tuổi kỵ tên, cúng kiến là chuyện thường. Mày lo xa quá chi cho mệt xác. Với lại tại cái đất này nó ma cỏ nhiều chứ có gì đâu, ông thầy làm vậy tao còn thấy yên tâm hơn đó. Cứ làm cho lẹ rồi lãnh tiền về nuôi thằng Cò đi cha nội!”

Đang nói chuyện, bỗng tiếng dép đúc nện rầm rập trên nền đất cứng làm cả đám giật mình. Ông Trạch bước tới, theo sau là Phước và ông thầy pháp. Ông Trạch dừng lại ngay chỗ cái hộp gỗ mới chôn nửa chừng, mắt nheo lại nhìn đám thợ: “Tụi bây đang bàn tán cái gì đó? Việc xong hết chưa mà đứng đó tám chuyện?”

Thằng Chín lật đật cúi đầu: “Dạ... dạ tụi tui đang bàn chuyện cất nhà cho ông mau xong thôi mà.”

Ông Trạch hừ một tiếng, rồi chỉ tay xuống cái hộp gỗ nhỏ: “Tao nhắc lại một lần cuối cho tụi bây nghe. Mấy cái hộp này, đứa nào táy máy tay chân, hay tò mò mở ra xem... thì đừng có trách tao ác.”

Thằng Phước, con ông Trạch lúc này mới lên tiếng, giọng run run nhưng nghe lạnh lẽo: “Mấy anh nghe rồi đó, thầy pháp nói rồi, ai đụng vô bùa chú là ma quỷ nó theo tới tận cửa nhà đó. Mấy anh có muốn vợ con ở nhà gặp chuyện hông?”

Đám thợ nghe tới "vợ con" thì im phăng phắc, mặt mày đứa nào cũng tái đi. Ông thầy pháp đứng kế bên vẫn không nói một lời, chỉ đưa đôi mắt sâu hoắm nhìn lướt qua Thìn. Thìn lạnh sống lưng, vội vàng cúi xuống tiếp tục cào đất.

---

Một buổi trưa nọ, nắng đứng bóng gắt gao. Đám thanh niên thợ thầy sau buổi làm mệt lả đã kéo nhau ra bụi bần hóng gió sông mà ngủ gà ngủ gật, chỉ còn mình Thìn cố nán lại khuân mấy bao vôi cho gọn vô gian nhà tạm.

Đang lúc lúi húi, Thìn bỗng khựng lại khi nghe tiếng rì rầm phát ra từ sau tấm liếp rách của căn chòi lá. Giọng ông Trạch nghe đầy vẻ nôn nóng: “Thầy coi kỹ dùm tui, đất này yểm vậy đã chắc chưa? Tốn bao nhiêu tiền của tui hổng tiếc, miễn sao lấy cho được tiền vàng dưới đất này.”

Tiếng lạch cạch của chén sành va vào nhau, rồi giọng ông thầy pháp vang lên, trầm trầm: “Ông Trạch à, vàng này là vàng bị yểm từ xưa, không phải thứ lộc trời cho muốn lấy là lấy đâu. Đất này vốn dĩ là bãi mả lạng, oán khí tích tụ đời này sang đời nọ. Tôi đã cho chôn mấy cái hộp gỗ trấn thủ khắp nơi thực chất là để làm cái 'bùa bình an', tạm thời ngăn chặn đám hồn ma nó quấy phá gia đình ông khi xây nhà trên xương máu tụi nó.”

Ông thầy ngưng một nhịp, tiếng gõ lên mặt bàn gỗ nghe cọc cọc khô khốc: “Còn chuyện tìm được vàng hay không, nó còn tùy vô cái 'duyên' và cái 'phước' của gia đình ông tới đâu. Phải đúng người, đúng lúc mới tìm thấy, mới chạm vô được. Bằng không, vàng đâu chưa thấy, chỉ thấy tai ương chết chóc về ám quẻ cả dòng họ nhà ông thôi. Nhớ cho kỹ, đừng có táy máy!”

Thìn đứng chết trân sau cột nhà, hai tay vẫn còn ôm khư khư bao vôi nặng trịch. Mồ hôi hột chảy dọc sống lưng, thấm đẫm cái áo bà ba rách vai, lạnh toát dù ngoài kia nắng đang đổ lửa. Tai anh ù đi, đầu óc quay cuồng với mấy chữ “yểm mạng”, “vàng của người chết”.

Anh lén lút đặt bao vôi xuống, bước chân run rẩy lùi xa dần gian nhà tạm. Đầu óc anh rối bời những suy nghĩ: “Trời đất ơi, vàng bạc gì mà nghe ghê rợn vậy? Liệu mình làm ở đây có bị quỷ ám theo về tới nhà hông?”

Nhưng rồi Thìn đưa tay quệt mồ hôi trán, tặc lưỡi tự nhủ trong bụng:“Thôi kệ mẹ nó đi Thìn ơi! Chuyện nhà giàu tranh quyền đoạt lợi, yểm bùa yểm phép gì đó là chuyện của người ta. Mình phận nghèo, tay dính phèn, dính mồ hôi là để đổi lấy miếng cơm manh áo. Miễn ổng trả tiền sòng phẳng, mình hổng táy máy đụng vô đồ của ổng thì ma quỷ nào bắt bẻ mình chi cho cực?”

Thìn quay lưng đi lầm lũi về phía bờ sông, tự dằn lòng mình rằng số tiền công hậu hĩnh này chính là chiếc phao cứu mạng duy nhất cho vợ con lúc này. Lạ kỳ thay, từ ngày căn dinh cơ của ông Trạch hoàn thành khánh thành, không hề có một hiện tượng ma quái hay trở ngại nào xảy ra như lời đồn đoán. Đám thợ thầy rút đi hết, chỉ còn mình Thìn được ông Trạch giữ lại làm gia nhân trong nhà, bởi anh là đứa siêng năng, cần mẫn nhất trong đám.

Từ một gã thợ hồ tay trắng, Thìn chính thức trở thành người làm ở lại trong dinh cơ nhà ông Trạch. Anh cắm cúi làm việc từ tờ mờ sáng tới tối mịt, lầm lũi như cái bóng, chỉ mong ngày tháng qua mau, tích góp từng đồng lương gửi về nhà cho vợ nuôi thằng Cò. Anh tự nhủ, chắc trời Phật thương tình nên mới cho anh chỗ làm ăn yên ổn, còn mấy lời ông thầy pháp nói ngày hôm đó, có lẽ cũng chỉ là chuyện hù dọa nhà giàu mà thôi.

---

Mười năm trôi qua, căn dinh cơ nhà ông Trạch giờ đây đã sừng sững, khang trang nhất vùng. Ông Trạch sau bao năm lao tâm khổ tứ thì cũng già yếu rồi đổ bệnh nằm một chỗ, mọi quyền hành đều giao lại cho Phước. Thằng Phước giờ đã là một ông chủ trẻ thực thụ, cưới vợ rồi sinh được một mụn con trai đặt tên là Quyền. Đứa nhỏ được bồng bế suốt ngày, tiếng cười đùa trong trẻo của nó lan khắp sân, làm người ta dễ quên đi cái quá khứ hoang lạnh của bãi mả lạng năm nào.

Thìn khi ấy cũng đã cứng tuổi, anh quen việc, quen cả từng tấc đất trên cái bãi sông này. Một chiều nọ, Phước sai anh cùng đám người làm đào thêm cái móng để xây gian nhà phụ. Đất mới xắn xuống chưa được bao lâu, lưỡi cuốc của Thìn bỗng khựng lại khi vấp phải một vật cứng ngắc.

“Keng!”. Tiếng kim loại va vào sành sứ vang lên khô khốc.

Thìn cùng mấy anh em xúm lại, hì hục gạt lớp sình lầy dẻo quánh. Một cái hũ sành lớn lộ ra lù lù dưới hố đất. Đuốc được thắp lên, ánh lửa nhảy múa chập chờn trên những gương mặt dính đầy bùn đất. Khi cái nắp hũ vừa được hé mở, một luồng ánh sáng vàng ròng hắt lên, rực rỡ đến lóa mắt.

“Vàng… Vàng hả trời? Vàng thiệt kìa tụi bây ơi!”. Một người kêu lên, giọng run lẩy bẩy vì kinh ngạc.

Nhưng ngay lập tức, một mùi xú uế tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí xộc thẳng vào mũi làm ai nấy đều buồn nôn. Lẫn giữa những thỏi vàng mười lấp lánh là những mẩu xương người trắng hếu, chồng chéo lên nhau, có mẩu còn nguyên đốt ngón tay nhọn hoắt. Cảnh tượng hãi hùng đó làm cả đám đứng hình, không ai dám thốt thêm lời nào, chỉ còn tiếng thở dồn dập hòa với tiếng côn trùng kêu râm ran ngoài bụi sậy.

“Mau… mau chạy đi báo cho cậu Phước đi!”. Ai đó hớt hải giục giã, rồi tiếng chân chạy thình thịch khuất dần vào nhà lớn.

Thìn đứng gần nhất, ánh vàng phản chiếu vào đôi mắt làm anh chớp liên hồi. Trong đầu anh lúc đó trống rỗng, một nỗi tò mò quyện lẫn sự tham lam mơ hồ kéo ghì lấy đôi tay. Anh vô thức đưa tay ra, chậm chạp, như có một sức mạnh vô hình nào đó điều khiển chứ hổng còn theo ý mình nữa. Anh nghĩ thầm trong bụng: “Vàng này là vàng thiệt hay vàng giả?”

Ngón tay Thìn run rẩy chạm vào. Nhưng cái anh chạm trúng không phải là kim loại lạnh ngắt, mát rượi, mà là một mảnh xương khô nhám sần, mục rỗng.

Ngay khoảnh khắc đó, toàn thân Thìn cứng đờ như bị sét đánh ngang tai. Một luồng khí lạnh buốt như băng giá từ mảnh xương chạy dọc theo cánh tay, xông thẳng lên óc rồi tỏa xuống dọc sống lưng. Tay anh tê rần, không còn chút cảm giác, rơi thõng xuống như một khúc gỗ mục. Thìn bật lùi lại, hai mắt trợn trừng, miệng há hốc ra mà không phát được thành tiếng.

Giữa lúc Thìn đang chơi vơi trong cơn ác mộng, tiếng dép nện rầm rập từ phía nhà lớn vọng lại mỗi lúc một gần. Phước cùng đám gia nhân chạy xồng xộc tới nơi, hơi thở đứt quãng. Đập vào mắt anh ta là cảnh tượng hãi hùng: Thìn ngồi bệt dưới đất, gương mặt thất thần, đôi mắt dại ra nhìn trân trân vào cái hũ sành chứa đầy vàng và xương trắng.

Phước bước tới, hơi nóng từ hơi thở và lòng tham tỏa ra hừng hực. Anh ta định thò tay thẳng vào hũ vàng thì mấy người làm đứng cạnh hoảng hốt can ngăn: “Cậu Phước… cậu đừng đụng vô! Coi chừng bùa ngải, coi chừng quỷ ám đó cậu ơi! Thằng Thìn vừa chạm vô là đứng hình như chết trôi rồi kìa!”

Phước hất tay đám người làm ra, đôi mắt rực lên một vẻ quyết liệt. Anh ta chầm chậm đưa tay vào, lách qua những mảnh xương người sắc lạnh, rồi dứt khoát móc ra một thỏi vàng ròng. Phước đứng lặng một hồi, chờ đợi một cơn lạnh buốt hay một sự trừng phạt nào đó, nhưng tuyệt nhiên không có gì xảy ra. Thỏi vàng trong tay anh ta nặng trịch, mát rượi và lấp lánh dưới ánh đuốc.

Phước lẩm bẩm trong miệng, giọng run run vì kinh ngạc: “Vậy là… chuyện ba kể… là thiệt sao? Đúng là vàng của mình… đúng là của nhà mình rồi!”

Phước nhớ lại lời ông Trạch về một bí mật nằm sâu dưới lòng đất, về cái "duyên" mà dòng họ nhà anh ta được hưởng. Anh ta siết chặt thỏi vàng, cười một nụ cười lạnh lẽo, mặc kệ Thìn đang ngồi co rúm đằng sau.

Từ sau hôm đó, Thìn hổng còn là Thìn của ngày xưa nữa. Anh trở nên lầm lì, đôi mắt lúc nào cũng như có một lớp sương mờ che phủ. Đêm đến, khi cả dinh cơ đã chìm trong tĩnh lặng, Thìn bỗng ngồi bật dậy trên sạp gỗ, mắt mở trừng trừng nhìn vào bóng tối mênh mông. Có lúc anh ôm đầu la hét thảm thiết, có lúc lại quỳ sụp xuống đất, chắp tay lạy lục lia lịa vào khoảng không vô định trước mặt.

Phước nhìn Thìn bằng ánh mắt xa lạ, xen lẫn sự ghê tởm và cả chút sợ hãi. Thìn giờ đây như một cái hình ảnh xấu xí trong dinh cơ khang trang này. Sau cùng, Phước gọi vợ của Thìn tới tới, sai đưa anh ta về nhà, kèm theo một bọc tiền bạc trắng nặng trịch. Phước lạnh lùng nói: “Nể tình chú làm cho nhà tui mười năm, số tiền này chú cầm lấy mà làm ăn sinh sống.”

Vợ chồng Thìn cầm bọc tiền, đôi bàn tay từng chạm vào mảnh xương khô ấy vẫn cứ run bần bật. Anh lờ đờ nhìn Phước, rồi nhìn bọc tiền, không nói không rằng, hai người cứ thế lầm lũi bước ra khỏi cổng dinh cơ.

---

Hiếu ngồi đó, những lớp băng trắng quấn quanh người như một cái xác ướp sống, đôi mắt rực lên dưới ánh đèn dầu. "Vậy là... nhà Hội đồng giàu lên từ số vàng xương máu đó sao thầy?"

Thầy Thiện Pháp khẽ gật đầu, chân mày khẽ nhíu lại: "Ông Thìn, ba của ông Cò đây, vì không phải "người được chạm vào" mà cố chấp chạm lấy, nên mới bị cái oán khí của đống của cải đó ám vào thân xác, nửa tỉnh nửa mê suốt mấy chục năm. Vừa nãy, thầy dùng kinh chú để tạm thời khai mở linh đài, giải bớt lời nguyền cho ông ấy, nên ông mới tỉnh táo được đôi chút mà kể lại cái gốc rễ của câu chuyện này..."

Thầy dừng lại một chút rồi nói tiếp: "Theo suy đoán của thầy, cả chục năm trôi qua... bùa trấn thủ của ông thầy pháp năm xưa có lẽ đã hư hỏng, hoặc là oán khí dưới bãi mả lạng kia quá nặng nên bùa chú bắt đầu yếu dần. Bởi vậy, ma quỷ dưới lòng đất mới bắt đầu ngoi lên, quấy phá và làm hại người trên mảnh đất này.

Hiếu khẽ lắc đầu, nụ cười cay đắng ẩn sau lớp băng: "Không đâu thầy... Không cần ma quỷ dưới đất ngoi lên đâu. Bản thân những người trong cái dinh cơ nhà Hội đồng đó, tất cả họ đều là ma quỷ rồi. Có khi, họ còn ác hơn cả ma quỷ dưới mảnh đất đó nữa."

Hai thầy trò lại rơi vào im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hiếu nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay quấn băng của mình, chợt hỏi: "Vậy bây giờ... chúng ta làm gì đây thầy?"

Thầy Thiện Pháp thở dài, nhẹ nhàng đặt tay bàn: "Đi ngủ đi con. Ngày hôm nay dài quá rồi, sức người cũng có hạn. Ngày mai, thầy trò mình sẽ ghé dinh cơ ông bà Hội đồng Quyền để tìm hiểu thêm".

Hai thầy trò nằm xuống giường. Thầy nằm đó, hai tay chắp trước ngực, mắt nhắm nghiền nhưng tâm trí chẳng được một giây yên ổn.

Thầy vốn là người học đạo trên núi cao, nay nhân duyên đưa đẩy mà xuống núi ngao du, ghé qua các cảnh chùa, đem cái sở học để giúp người giúp đời. Với thầy, vạn vật trên đời đều nằm trong một chữ "Duyên". Duyên tới thì thầy nhận, nợ tới thì thầy trả, chẳng cưỡng cầu mà cũng chẳng né tránh.

Thầy khẽ xoay người, lắng nghe tiếng vải băng gạc sột soạt từ phía Hiếu. Thầy không nhìn thấy những vết bỏng trên da thịt anh, nhưng thầy cảm nhận được hơi nóng hừng hực từ một ngọn lửa căm hờn đang cháy âm ỉ trong lồng ngực đứa đệ tử này. Thầy vẫn chưa rõ thực sự Hiếu, đứa đệ tử bị phỏng nặng đến mức quấn băng khắp người có mối liên hệ sâu xa gì với nhà Hội đồng Quyền. Thầy biết, việc Hiếu dẫn thầy đến đây, gặp cha con ông Thìn, ông Cò và nghe về hũ vàng nhà Hội đồng, tất thảy đều là những mắt xích của một định mệnh đã được sắp đặt từ trước.

Thầy khẽ thở dài, thầm nghĩ: “Thầy với con, hay cả nhà Hội đồng kia, cũng giống như những hòn sỏi nhỏ dưới đáy dòng sông Cổ Chiên này vậy. Dòng nước đã chảy, sỏi đá cứ thế mà bị cuốn đi. Sỏi không quyết định được mình sẽ tấp vào bờ hay chìm xuống vực sâu, tất cả đều theo dòng mà định đoạt. Chỉ mong sao, cái vòng oan nghiệt này đến đời này là có thể chấm dứt....”
 
Sửa lần cuối:
Chú thích cho tên Mả Lạng: Cái tên Mả Lạng được giải thích theo 2 cách: Trước kia ở đây là nghĩa địa, khi giải tỏa nghĩa trang, người ta chỉ dời phần bia mộ, còn di cốt thì vẫn còn sót lại, lặn xuống dưới, gọi là mả lặn, dân Nam đọc chệch thành Mả Lạng. Có người lại giải thích rằng, tên gọi khu này khởi nguyên là “Mả loạn”, nghĩa là mồ mả bị bỏ hoang, không người coi sóc. Cách nào thì, chắc chắn ở đây có nhiều… mả.
 
chưa phê cơn nghiện thớt ơi :choler: thớt muốn con nghiện này đưa thớt xuống mả loạn đó luôn không :choler:
 
vốn từ chủ thớt rộng quá, cơ mà ra nhanh lên thớt :beat_brick: giá vàng hôm nay đang đạt đỉnh, ra tiếp ta cùng kiếm ít vàng đem bán
 
Mả Lạng có thể hiểu là khu nghĩa địa cũ kỹ, bia mộ hư hỏng thất lạc theo thời gian, mồ đất dần dần hoang hóa bị phẳng đi ko còn dấu tích của mộ nữa, xương vẫn nằm đó...Đúng là rất nhiều mồ mả nhưng ko biết chính xác chỗ nào
Chú thích cho tên Mả Lạng: Cái tên Mả Lạng được giải thích theo 2 cách: Trước kia ở đây là nghĩa địa, khi giải tỏa nghĩa trang, người ta chỉ dời phần bia mộ, còn di cốt thì vẫn còn sót lại, lặn xuống dưới, gọi là mả lặn, dân Nam đọc chệch thành Mả Lạng. Có người lại giải thích rằng, tên gọi khu này khởi nguyên là “Mả loạn”, nghĩa là mồ mả bị bỏ hoang, không người coi sóc. Cách nào thì, chắc chắn ở đây có nhiều… mả.
 

CHƯƠNG 10: Ả Phù Dung (2)


Sáng hôm sau, trời chưa kịp sáng hẳn. Ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm mai len lỏi qua khe cửa sổ gỗ, rơi thành từng vệt dài dờ dại trên nền gạch cũ lạnh ngắt của quán Năm Cò.

Thầy Thiện Pháp thức dậy trước tiên. Dù đôi mắt không nhìn thấy ánh sáng, nhưng đôi tai và tâm thức của người tu hành trên đỉnh Linh Sơn nhiều năm đã giúp thầy "cảm nhận" được sự chuyển mình của vạn vật. Thầy ngồi dậy chậm rãi, hai bàn chân vừa chạm xuống nền gạch đã dừng lại một nhịp, khẽ cau mày vì cảm giác mặt đất bỗng lạnh lẽo hơn tối hôm qua. Thầy kéo lại vạt áo cho ngay ngắn, ngồi yên lặng như một pho tượng, hít một hơi thật sâu.

Phải một lúc sau, thầy mới với tay cầm lấy cây gậy trúc dựng sát vách, chống xuống nền gạch để đứng dậy.

Ở chiếc giường đối diện, Hiếu nghe tiếng động liền trở mình. Trong ánh sáng mờ mờ của buổi sớm, dáng thầy Thiện Pháp hiện ra lặng lẽ bên mép giường.

Hiếu vội xỏ chân vô đôi dép, bước nhanh tới gần, hạ giọng: “Thầy… thầy thấy trong người sao không? Hay là đêm qua chỗ này lạ chỗ quá, thầy ngủ không được?”

Thầy Thiện Pháp không đáp ngay. Thầy khẽ nghiêng đầu, đôi mắt mù lòa nhắm nghiền nhưng gương mặt hướng về phía gian sảnh dưới nhà, nơi đang toả ra cái mùi hăng hắc mà thầy cảm giác rất khó chịu. Thầy đưa một bàn tay khô gầy ra phía Hiếu như ra hiệu bảo rằng hãy yên tâm. Hiếu hiểu ý, liền bước xuống trước nửa bậc, khom mình đỡ lấy khuỷu tay thầy, dắt thầy bước xuống từng nấc thang gỗ của nhà trọ.

Trong lúc hai thầy trò cùng xuống cầu thang gỗ, thầy Thiện Pháp bỗng dừng lại hỏi nhỏ: "Con có ngửi thấy cái mùi gì lạ không Hiếu?"

Hiếu khựng lại, hít một hơi thật sâu nhưng lồng ngực chỉ toàn cảm giác khô khốc. Hiếu lắc đầu, lòng dâng lên một nỗi chua chát. Từ sau cái đêm rực lửa ấy, hơi nóng của đám cháy hường như đã thiêu rụi luôn cả khứu giác của Hiếu, mọi hương vị trên đời giờ đây đối với Hiếu đều nhạt nhẽo.

Xuống tới tầng dưới, Hiếu cố hít thêm hơi nữa, chân mày chau lại: "Con… con hổng ngửi ra cái gì hết thầy ơi."

Thầy Thiện Pháp khẽ thở dài: “Đi theo thầy.”

Thầy bước đi chậm lại, gậy trúc gõ nhẹ lên nền gạch. Thầy nghiêng đầu, dáng vẻ như một con thú già đang cẩn trọng lần theo dấu mùi trong rừng sâu. Tới gần dãy phòng phía sau, thầy dừng chân, đưa bàn tay khô gầy ra hiệu cho Hiếu đứng nép lại. Gió buổi sớm lùa qua hành lang hẹp, mang theo những sợi khói mỏng manh, ngòn ngọt thoát ra từ khe cửa khép hờ.

Hiếu ghé sát mắt nhìn qua khe cửa khép hờ. Bên trong, Ngọ không có nằm ngay ngắn mà nằm nghiêng vẹo vọ trên chiếc giường cũ. Thân hình gã rũ rượi, tong teo như một cái xác khô. Một tay gã buông thõng xuống mép giường, mấy ngón tay ám nhựa thuốc đen xì, vàng khè như móng chân gà, vẫn còn giữ khư khư cái tẩu thuốc bằng tre già dài ngoằng.

Cạnh đầu gã, ngọn đèn dầu trên khay gỗ vẫn còn cháy leo lét, tỏa ra hơi nóng âm ỉ để hơ chỗ nhựa thuốc đen quánh còn sót lại trong nọc tẩu. Khói thuốc trắng đục, đặc quánh lờ lững bay lên trần nhà thấp, đọng lại thành từng cụm mờ ảo.

Ngọ khẽ nhúc nhích cái đầu trên chiếc gối sứ lạnh ngắt, đôi mắt mở trừng trừng nhưng đồng tử dại ra, không còn thần sắc. Gã cười hì hì, đôi môi khô nứt nẻ, thâm tím lại vì bã thuốc mấp máy liên hồi, như thể gã đang rót lời đường mật vào tai một bóng ma nào đó đang ngồi chễm chệ ngay trên ngực mình.

Hiếu cảm thấy một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng, Hiếu thì thào: "Cái này… là thuốc phiện hả thầy?"

Thầy đứng lặng một nhịp, giọng đều đều như nước chảy: "Đúng, người ta gọi nó là Ả Phù Dung. Tên đẹp thì có đẹp, nhưng nó ăn mòn tới tận tủy cốt con người ta, và cũng là thứ mà ta ghét nhất".

Hiếu liếc nhìn thầy. Trong ánh sáng lờ mờ, Hiếu thấy khóe mắt thầy khẽ động. Hiếu chợt tự hỏi, liệu trong cái bóng tối vĩnh viễn của thầy, mùi khói này có đang gợi lại một ký ức nào từ thời thầy còn ngao du sơn thủy hay hông?

Ngay lúc đó, tiếng bước chân nặng nề từ phía trước nhà vọng lại. Tiếng dép kéo lẹt xẹt trên nền gạch nghe đầy mệt mỏi. Ông Cò xuất hiện ở đầu hành lang, thấy hai thầy trò đứng tụm lại, ông khựng lại, rồi lầm lũi bước tới. "Ủa, hai thầy trò dậy sớm vậy? Có chuyện gì vậy thầy?"

Thầy Thiện Pháp im lặng nghiêng người nhường chỗ. Ông Cò cúi nhìn qua khe cửa, vừa thấy cảnh đứa con trai duy nhất đang chìm trong cơn mê dại, vai ông bỗng chùng xuống.

Ông Cò đứng lặng một hồi, rồi bỗng nhiên như không chịu nổi cái mùi hăng hắc đó thêm giây nào nữa, ông giơ chân đạp mạnh vào cánh cửa khép hờ.

Rầm!

Cánh cửa va vào vách gỗ kêu chát chúa, nhưng người nằm trên giường vẫn không hề giật mình, đôi mắt vẫn đờ đẫn dại ra. Ông Cò xông vào, nhìn thấy cảnh tượng đứa con mình đang đắm mình trong làn khói độc thì máu nóng bốc lên đầu. Ông giật phắt cái tẩu thuốc dài trên tay Ngọ, quăng mạnh xuống nền gạch nghe một tiếng cộp khô khốc, rồi tiện chân đá văng cái khay đèn dầu leo lét sang một bên.

Dầu đèn đổ lênh láng, ngọn lửa nhỏ xíu phụt tắt, để lại một làn khói khét lẹt. Ông Cò gào lên, giọng lạc đi vì uất ức và nhục nhã: "Thằng Ngọ! Mày mở mắt ra nhìn tao coi! Mới sáng sớm mà mày đã nằm thây ra đây như xác chết trôi vậy hả? Tao cực khổ bao nhiêu năm, định bụng để lại cái quán này cho mày làm ăn, chớ hổng phải để mày đắm chìm vô cái thứ quỷ ám này!"

Ngọ khẽ cựa mình, đôi mắt lờ đờ hé mở nhưng không hề nhìn vào ông Ngọ. Gã cười hì hì, ánh mắt vẫn đóng đinh vào một khoảng không vô định trên trần nhà. Đôi môi gã mấp máy như cố gắng nói nhưng lại như người hụt hơi.

Gã lại chìm vào cơn mê, tay quờ quạng như muốn tìm lại làn khói vừa tan biến. Ông Cò đứng chết trân, cánh tay giơ lên định tát đứa con một cái nhưng rồi lại buông thõng xuống, run bần bật. Sự giận dữ ban nãy bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại nỗi cay đắng tràn trề.

Ông lầm lũi bước ra ngoài hành lang, khép hờ cánh cửa lại như muốn che giấu đi sự nhục nhã của gia đình. Nhìn thấy hai thầy trò vẫn đứng đó, ông Cò lúng túng quệt mồ hôi trên trán, giọng hạ thấp đầy vẻ ngại ngần: "Thiệt... thiệt ngại quá. Để hai thầy trò thấy cái cảnh chướng tai gai mắt này... Con dạy thằng Ngọ hổng nghiêm".

Ông thở dài, ánh mắt đục ngầu nhìn ra sân nắng: "Nhà con hồi xưa thì nó hiền khô hà. Vậy mà từ hồi có chút của dư của để, tiền bạc rủng rỉnh trong tay là nó bắt đầu hư hỏng, đổ đốn ra vậy đó. Đúng là tiền của thiên thì cũng trả địa, mà nó trả kiểu này... ác quá thầy ơi".

Thầy Thiện Pháp đứng yên, thầy không nhìn thấy được vẻ mặt nhục nhã của ông Cò, nhưng thầy nghe rõ sự rệu rã trong giọng nói của ông. Thầy nhẹ nhàng nói: "Tiền bạc vốn không có lỗi, lỗi là ở lòng người chưa đủ vững để giữ lấy nó. Ông Cò đừng quá tự trách, nhân duyên mỗi người mỗi khác".

Hiếu khẽ chạm vào tay thầy, cúi đầu sát lại, nói nhỏ đủ hai người nghe: "Thôi… mình đi thôi thầy. Ở đây thêm chút nữa, hơi thuốc này ám vô người con thấy khó chịu quá".

Ông Cò đang đứng tựa lưng vào cây cột gỗ, nghe vậy thì giật mình quay lại, vẻ mặt đầy hối lỗi: "Ủa? Đi đâu mà sớm dữ vậy thầy? Ở lại ăn sáng với con cho vui. Bữa nay con biểu dưới bếp nấu cháo cá lóc rau đắng, cá mới tát dưới mương lên còn nhảy xoi xói, thầy trò ăn cho ấm bụng rồi đi đâu thì đi."

Thầy Thiện Pháp mỉm cười: "Thôi, cám ơn tấm lòng của ông Cò. Thầy trò tôi vốn quen cảnh sương gió, sáng ra đi dạo một vòng cho giãn gân cốt, sẵn tiện ghé qua chỗ người quen cũ thăm hỏi chút việc rồi mới về".

Ông Cò nhíu mày, vẻ tò mò hiện rõ trên khuôn mặt sạm nắng: "Người quen nào vậy thầy? Con sống ở cái đất này từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ, quen biết trong làng này cũng nhiều lắm. Thầy cứ nói tên đi, nếu hổng phải chỗ khó tìm, để con kêu thằng làm lấy xe ngựa đưa thầy đi cho lẹ".

Hai thầy trò nhìn nhau một thoáng trong im lặng. Hiếu khẽ hít một hơi sâu, bàn tay đặt trên khuỷu tay thầy siết lại rất nhẹ, một ám hiệu cho thấy anh đang căng thẳng. Thầy Thiện Pháp vẫn giữ nụ cười hiền hậu, đôi mắt mù lòa của thầy hướng về phía con lộ trước nhà như đang lắng nghe một âm thanh nào đó từ xa xăm.

Đúng lúc đó, từ trong gian phòng phía trong, tiếng ông Thìn khàn khàn, run rẩy vang ra: "Cò ơi… Cò… tao đói… Mày đâu rồi Cò?"

Ông Cò giật mình, quay phắt người lại nhìn về phía buồng tối, vẻ lo lắng hiện rõ: "Trời đất ơi… tía con dậy rồi. Chắc đêm qua nói chuyện nhiều nên sáng nay ổng mau đói".

Ông quay sang hai thầy trò, tay chân quýnh quáng, vội vàng nói: "Thôi, để con chạy vô coi tía con ra sao đã. Ông già tui hễ đói là hay chóng mặt lắm. Thầy với cậu Hiếu thông cảm cho con nghen".

Thầy Thiện Pháp chắp tay nhẹ trước ngực, gật đầu vẻ thấu hiểu: "Chuyện hiếu nghĩa là trên hết, ông cứ lo cho ông cụ đi. Sẵn cho tôi gửi lời chào sức khỏe tới ông Thìn. Thầy trò tôi chắc đi cũng cả buổi mới về, không dám làm phiền gia đình ông thêm nữa".

Ông Cò đứng lưỡng lự một chút, nhìn đứa con đang say thuốc trong phòng rồi lại nhìn về phía buồng ông Thìn, cuối cùng gật đầu: "Dạ… vậy thầy với cậu đi đường cẩn thận nghen. Có gì trưa về ghé lại đây nghỉ chân, con đãi bữa cơm trưa".

Hai thầy trò khẽ cúi đầu chào, rồi lặng lẽ bước ra khỏi quán trọ Năm Cò. Bước chân của thầy Thiện Pháp vẫn vững chãi trên nền đất đỏ, còn Hiếu thì bước đi lầm lũi, đôi mắt dưới lớp băng gạc dán chặt về phía những rặng tre xa xa, nơi thấp thoáng mái ngói đỏ âu của dinh cơ nhà Hội đồng Quyền.
 
Sửa lần cuối:
Chương 10: Ả Phù Dung (3)

Cái nắng miền Tây bắt đầu gắt hơn, con đường đất đỏ hun hút như dài thêm ra dưới bước chân của hai thầy trò. Sau rặng bần xum xuê, dinh cơ của ông bà Hội đồng Quyền dần hiện ra. Căn nhà ngói ba gian bề thế, uy nghi với những hàng cột sưa to sừng sững, tách biệt hẳn với những mái lá nghèo nàn xơ xác xung quanh. Cái cổng sắt nặng trịch khép hờ, im lìm một cách đáng sợ.

Đối diện dinh cơ, sát mé bờ sông Cổ Chiên, cái lò gạch cũ sập nửa căn đứng trơ trọi như một cái xác không hồn. Vách gạch nghiêng vẹo, mái xệ xuống, gạch vỡ ngổn ngang lẫn trong đám cỏ dại khô cháy vàng vọt.

Ngay trước cửa lò cũ, ai đó đã lập một cái bàn thờ nhỏ. Tuy lò bỏ hoang đã lâu nhưng nhang khói nơi đây lúc nào cũng đủ đầy. Bát nhang gốm xanh sứt mẻ cắm chi chít chân nhang cũ mới, tro còn nóng hổi. Bên cạnh là đĩa trái cây tươi héo xen lẫn, mấy chén nước châm đầy và đặc biệt là mấy lá bùa giấy vàng dán vội, mép đã cong queo vì nắng gió.

Thầy Thiện Pháp dừng bước, đầu hơi nghiêng, cây gậy trúc gõ khẽ xuống mặt đất khô khốc. Thầy hỏi nhỏ: “Tới rồi phải không Hiếu?”

Một luồng khí lạnh buốt lướt qua sống lưng, Hiếu chậm rãi quay sang thầy, giọng hơi run: “Dạ… tới rồi thầy. Đằng trước là nhà ông Hội đồng, còn chỗ này là cái lò gạch cũ.”

Hiếu đưa cằm khẽ hất về phía cái bàn thờ bên trong: "Hồi hôm thầy trò mình nghe mấy người ở đây nói… thằng Dũng, con mợ Hai Sinh, chết đuối ngay khúc sông này. Con thấy có cái bàn thờ dán bùa chú tùm lum, không biết có phải của nó không thầy?”

Thầy Thiện Pháp đứng yên, tai hơi vểnh lên như thể đang lắng nghe một thứ gì đó thì thầm giữa thinh không. Một lúc sau, thầy khẽ gật đầu, giọng trầm mặc: “Thằng nhỏ này chết oan, cái chết của nó không chỉ đơn thuần là một tai nạn đâu con.”

Hiếu dẫn thầy bước lại gần thêm vài bước, thầy khịt khịt mũi lại tiếp: “Cái mùi nhang khói này không có sự thành tâm, nó mang đậm mùi của sự sợ hãi. Người ta lập ra bàn thờ này không phải để tưởng nhớ, mà là để cầu xin sự bình yên cho tội lỗi của mình.”



Đúng lúc đó, một bóng người gầy guộc, mặc bộ đồ bà ba đen cũ sờn từ trong hiên nhà Hội đồng đi ra. Thấy hai kẻ lạ mặt, một ông già mù lòa, một người trẻ quấn băng kín mít như xác chết đang đứng tần ngần trước lò gạch cũ, gã người làm liếc mắt khinh khỉnh. Gã cầm cái chổi rễ quơ quơ xuống đất, bụi bay mù mịt, giọng hách dịch: "Ê! Hai đứa kia làm cái giống gì ở đó vậy? Đây không phải chỗ cho đám ăn mày ăn xin tới lảng vảng nghe chưa! Coi chừng tao thả chó ra đuổi bây giờ, đi mau!"

Thầy Thiện Pháp vẫn đứng yên, cây gậy trúc đặt nhẹ trên nền đất đỏ. Thầy không giận, chỉ ôn tồn đáp lại: "Cậu em bớt nóng. Thầy trò tôi đi ngang qua, thấy nơi này có cái bàn thờ lạnh lẽo nên mới dừng chân lạy chút đỉnh. Sẵn tiện tôi có chút việc cũ, cậu vào thưa với bà Hội đồng có người quen ghé thăm được không?"

Tên người làm nghe nhắc tới bà Hội đồng, lại nghe cái giọng đầy ẩn ý thì khựng lại. Mặt gã hơi biến sắc, nhưng vẫn cố giữ vẻ hung hăng để che đậy sự lúng túng: "Người quen là sao? Bà Hội đồng.. bả đang bệnh nằm trong buồng, hổng có rảnh đâu mà tiếp mấy hạng người như mấy ông!"

Thầy Thiện Pháp khẽ thở dài: "Cậu em cứ vào thưa, nói là có thầy bói Thiện Pháp, năm xưa từng gặp bà Hội đồng ở chùa!"

Tên người làm chống cán chổi xuống đất, con mắt liếc xéo sang Hiếu rồi dừng lại thật lâu nơi khuôn mặt quấn băng kín mít. Hơi thở gã bỗng khựng lại một nhịp, giọng gã bớt đi phần choe choét nhưng lại gằn xuống: “Sao mà mấy lì lợm quá vậy? Đã nói bà Hội đồng hổng có rảnh. Nhà này là chỗ tôn nghiêm, đâu phải cái chợ mà muốn vô là vô? Đám thầy bói thầy pháp mấy người, tui lạ gì, toàn một lũ gạt gẫm kiếm cơm!”

Thầy Thiện Pháp khẽ lắc đầu: “Cậu em hiểu lầm rồi. Thầy trò tôi tới đây không phải để bày trò cúng vái hay nói chuyện quỷ ma gì đâu. Chỉ là có chút chuyện cũ, muốn thưa lại với bà Hội đồng đôi lời. Gặp được thì là cái duyên, bằng như không được thì thầy trò tui cũng xin đi, không dám làm phiền tới ai.”

Tên người làm cười khẩy một tiếng, nhưng bàn tay cầm chổi lại siết chặt tới nổi gân xanh. Ánh mắt gã đảo nhanh về phía dãy hành lang vắng ngắt bên trong, rồi quay ra hạ thấp giọng: “Thôi thôi, chuyện cũ chuyện mới gì cũng dẹp qua một bên đi. Đã nói là bà đang lâm trọng bệnh, hổng tiếp khách khứa gì hết. Hai người đừng có đứng đây ám quẻ nữa, đi mau cho tui nhờ!”

Gã vừa dứt lời, định bồi thêm mấy câu đuổi khéo thì từ phía ngoài cổng vang lên tiếng bánh xe nghiến trèo trẹo trên mặt đất khô khốc. Tiếng kẽo kẹt quen thuộc kéo dài, nghe nhức cả tai, mỗi lúc một gần.

Cả ba cùng ngoái đầu lại. Thằng Sửu đang gò lưng kéo chiếc xe bò lọc cọc đi vào. Trên xe, cậu Ba Nghĩa ngồi ngả lưng hờ hững, bộ đồ đắt tiền đã xộc xệch, miệng còn phảng phất mùi rượu nồng nặc. Đi lom khom bên cạnh là thằng Mạnh, ánh mắt láo liêng nhìn quanh như đang dè chừng điều gì đó.

Vừa thấy bóng dáng hai thầy trò đứng lù lù gần cái lò gạch cũ, thằng Mạnh đang lom khom bỗng khựng lại một nhịp. Nó nheo nheo mắt láo liêng rồi bỗng bật cười hằn học, giọng xéo xắt: “Trời đất! Tưởng ai, té ra lại là hai thầy trò tụi bây. Hết chỗ kiếm ăn rồi hay sao mà ám tới tận cửa nhà ông Hội đồng vậy hả?”

Cậu Ba Nghĩa đang lờ đờ vì men rượu, nghe thằng Mạnh nói vậy thì nheo mắt, tay che nắng nhìn theo hướng nó chỉ. Cậu loạng choạng bước xuống xe bò, giọng nhừa nhựa: “Ai vậy? Mày quen biết gì mấy hạng người này hả Mạnh?”

Thằng Mạnh nhanh nhảu tiến tới đỡ tay cậu Ba, miệng cười nịnh bợ: “Dạ thưa cậu Ba, quen chớ! Hồi hôm con thấy tụi nó ở quán nhậu bà Tư Mập. Bả nói là thằng thầy bói già thì mù, thằng đệ tử thì quấn băng như xác chết, thiệt là xúi quẩy!”

Thầy Thiện Pháp vẫn đứng đó, gậy trúc tì nhẹ xuống đất. Thầy không nhìn bằng mắt, nhưng lại như thấu hết mọi sự. Thầy khẽ nghiêng đầu nghe ngóng rồi đột ngột cất giọng: “Tưởng ai, hóa ra là cậu Ba. Thầy trò tôi đi ngang đây là do duyên nợ dẫn lối. Có lời chào cậu Ba, mong cậu rộng lòng cho thầy trò tôi thưa chuyện ít phút.”

Cậu Ba Nghĩa nghe nhắc mình thì hơi khựng lại, hất hàm hỏi: “Ông già biết tao sao? Mà thôi, dẹp đi! Tao không có dư tiền cho ăn mày đâu, đi chỗ khác chơi!”

Thầy Thiện Pháp vẫn điềm nhiên, giọng thầy bỗng hạ thấp xuống một tông: “Tiền bạc là vật ngoại thân, tôi không dám cầu. Chỉ là cảm nhận cậu Ba hôm nay khí sắc suy yếu, trong người có luồng khí đen u uất không yên. Dạo này cậu dễ vướng chuyện dữ, tai bay vạ gió, đêm nằm có khi còn mơ thấy chết đuối...”

Nghe tới đó, mặt cậu Ba Nghĩa đang đỏ vì rượu bỗng tái mét lại trong tích tắc, nhưng rồi cái kiêu ngạo của một công tử nhà giàu trỗi dậy. Cậu cười lớn, tiếng cười khô khốc: “Thôi đi! Mấy cái trò hù con nít đó tao nghe mòn tai rồi. Thầy Bảy, thầy Bủng gì cũng một giuộc lừa đảo với chúng mày hết! Đừng có đem cái thói bùa chú đó vô đây mà gạt tiền tao.”

Cậu quay sang thằng Mạnh, gương mặt sa sầm, đôi mắt vằn tia máu: “Mạnh! Đuổi tụi nó đi! Để đứng trước nhà tao sủa bậy sủa bạ làm chướng mắt quá. Coi chừng nó ám cái huông xui xẻo vô nhà tao bây giờ!”

Trong cái không khí căng thẳng đó, thầy Thiện Pháp vẫn giữ thái độ nhũn nhặn, thầy chắp tay, giọng ôn tồn hết mức: “Cậu Ba à, tôi nói đây là lời thiệt lòng. Hồi trước tui với bà Hội đồng cũng có chút quen biết. Nghe tin bà dạo này lâm trọng bệnh, tôi cũng có biết chút ít về thuật trị bệnh cứu người, nên mới đường đột ghé qua xem thử coi giúp...”

Thầy chưa kịp dứt câu, thằng Mạnh đã bước tới với gương mặt hung ác. Nó chẳng để thầy phân trần thêm nửa lời, cánh tay vung lên, một cú đấm khô khốc giáng thẳng vào mặt người thầy già mù lòa. Thân hình gầy guộc của thầy Thiện Pháp ngã nhào về phía sau, chiếc gậy trúc văng ra xa, máu mũi bắt đầu rỉ ra qua kẽ tay thầy.

Thằng Mạnh đứng nhìn, tay phủi phủi như vừa chạm vào thứ gì bẩn thỉu, nó cười hề hề, giọng giễu cợt: “Sao hả ông thầy bói? Ông nói biết chuyện trời đất, biết chuyện tương lai, vậy ông có bói ra được là hôm nay ông bị ăn đấm hông?”

Hiếu đứng bên cạnh ngăn không kịp, hoảng hốt lao tới đỡ lấy thầy. Nhìn những giọt máu đỏ tươi thấm xuống lớp đất bụi bặm, Hiếu ngẩng đầu lên, đôi mắt ẩn sau lớp băng quấn run lên vì phẫn nộ.

“Lũ lưu manh… Ông già tóc bạc trắng, lại mù lòa không thấy đường, mà tụi bây cũng dám ra tay đánh sao?”

Nghe giọng nói của Hiếu, cả bọn thằng Mạnh, thằng Sửu lẫn cậu Ba đều khựng lại một nhịp. Cái giọng nói kỳ quái, vừa rè vừa đặc, không ra giọng nam mà cũng chẳng rõ giọng nữ làm tụi nó thấy lạnh sống lưng.

Cậu Ba Nghĩa nhổ toẹt bãi nước miếng xuống đất, gạt đi cái cảm giác bất an, cậu hất hàm đầy vẻ khinh bạc: “Bây giờ là thời buổi nào rồi mà còn bói với toán, bùa với chú? Tao nói cho tụi bây biết, mẹ tao có bệnh thì tao mời bác sĩ bên Tây về chữa, kim tiêm thuốc ngoại thiếu gì, cần gì hạng thầy bùa hôi hám như tụi bây?!”

Cậu Ba chỉ tay thẳng vào mặt hai người, gằn giọng: “Biến đi! Trước khi tao đổi ý cho tụi nó bẻ gãy gậy của thằng thầy mù luôn!”

Thằng Mạnh và thằng Sửu lại dấn bước lên, miệng hò hét đuổi như đuổi tà. Hiếu cắn chặt môi, tay siết chặt lấy bả vai thầy Thiện Pháp. Thầy Thiện Pháp lảo đảo đứng dậy, đưa tay lau vệt máu trên môi, thầy không nói một lời nào, chỉ khẽ thở dài một tiếng u uất.

Hai thầy trò lầm lũi quay lưng, những bước chân thất thểu in trên con đường đất đỏ. Phía sau lưng họ, tiếng cười ngạo nghễ của cậu Ba và đám gia nhân vẫn vang lên.

Đi được một đoạn xa, khi tiếng chửi rủa của đám người làm đã lùi lại phía sau rặng cây, Hiếu mới dừng chân, đỡ thầy ngồi xuống một gốc cây gáo bên đường. Hiếu vừa lôi chiếc khăn tay cũ ra lau vệt máu còn dính trên môi thầy, vừa hằn học nói: “Thầy ơi là thầy, sao thầy nhún nhường quá vậy? Để con đánh lại tụi nó! Con không cam tâm nhìn thầy bị một thằng tiểu nhân như vậy ra tay. Không đánh lại được ba thằng thì con cũng phải dằn mặt được một thằng chớ!”

Thầy Thiện Pháp khẽ xua tay, gương mặt già nua của thầy không hiện chút giận dữ, chỉ có một nỗi u buồn sâu thẳm. Thầy thở dài: “Con khờ quá Hiếu ơi. Ở đó… thầy cảm nhận được có thứ gì đó rất nguy hiểm. Hơn cả nắm đấm của thằng người làm kia nhiều.”

Hiếu khựng tay lại, đôi mắt sau lớp băng quấn nheo lại: “Nguy hiểm? Ý thầy là sao? Thầy thấy thứ gì trong cái dinh cơ đó hả?”

Thầy Thiện Pháp giải thích: “Bãi đất đó đúng như lời ông Thìn nói hồi đêm qua, nó là một bãi mã lạng. Nhà Hội đồng cậy thế cậy tiền, dám san lấp mã lạng để xây dinh cơ bề thế, đè lên xương máu của biết bao nhiêu người. Oan nghiệp chất chồng như núi, âm khí nặng tới mức mặt trời đứng bóng mà thầy vẫn thấy lạnh thấu xương. Thầy chỉ có ý muốn cảnh báo cho họ một tiếng để tìm đường giải nghiệp, nhưng mà… đúng là thiên định. Chúng ta không có duyên cứu họ, mà họ cũng không có phước để được cứu.”

Hiếu nghe mà rùng mình, anh hỏi dồn: “Vậy ý thầy là… nếu cứ để lâu dài mà không làm gì hết, nhà ông Hội đồng sẽ chết hết hả thầy?”

Thầy Thiện Pháp chậm rãi gật đầu, cây gậy trúc trong tay thầy khẽ run lên: “Không chỉ là chết đâu con. Với cái thế đất đó, lại thêm những việc thất đức họ làm, nhà này sẽ tuyệt tự tuyệt tôn. Cái chết của thằng nhỏ Dũng... nó chỉ là cái khởi đầu cho một chuỗi tang thương thôi.”

Nhắc tới thằng Dũng, thầy Thiện Pháp sực nhớ ra điều gì, thầy quay sang phía Hiếu: “Mà Hiếu, con miêu tả kỹ lại cho thầy nghe, mấy lá bùa trên bàn thờ ngoài lò gạch cũ đó, hình dáng nó ra sao? Cách người ta dán như thế nào?”

Hiếu hồi tưởng lại rồi chậm rãi kể: “Dạ, đó là loại bùa giấy vàng, mực đỏ đã hơi phai. Con thấy người ta dán không phải dán ngay ngắn, mà dán chéo theo hình chữ thập ngay miệng lò gạch. Có mấy lá bùa nhìn lạ lắm thầy, nét vẽ ngoằn ngoèo như hình một người bị trói tay trói chân, bốn góc còn có bốn dấu chấm đen lớn.”

Thầy Thiện Pháp nghe tới đó thì khẽ gật đầu, miệng lẩm bẩm: “Ra là thế… Đúng là thằng Dũng sau khi chết hồn không siêu thoát được. Nhà Hội đồng lập cái bàn thờ đó, dán bùa trấn yểm ngay miệng lò là để nhốt hồn nó lại, không cho nó bước vô cửa nhà. Thật là thất đức, giam cầm vong linh một đứa trẻ ngay nơi nó bỏ mạng.”

Hai thầy trò vừa đi vừa mải miết nói chuyện mà không nhìn kỹ đường. Con đường đất quanh co dẫn họ đi vòng ra phía sau dinh cơ nhà Hội đồng lúc nào hổng hay. Tại đây, có mấy cô người làm đang cặm cụi dọn dẹp, đổ rác bên cổng sau. Thấy hai bóng người hình thù kỳ dị đứng đó, một cô liền đứng dậy, cầm cây chổi quơ quơ, giọng lảnh lót: “Nè! Hai ông ăn mày kia đi chỗ khác nghe hông! Chỗ này là cổng sau nhà ông Hội đồng, hổng có cơm thừa canh cặn gì đâu mà đứng đó đợi. Đi mau kẻo lính lệ ra đuổi bây giờ!”

Thầy Thiện Pháp khẽ thở dài, thầy bảo Hiếu: “Thôi, mình quay về nhà trọ ông Hai Cò đi con. Giờ này mặt trời đứng bóng rồi, cái nắng này không tốt cho vết thương bỏng của con đâu.”

Hai thầy trò lầm lũi quay đi. Thầy Thiện Pháp bước từng bước nặng nề, thầy hiểu rằng có một thế lực vô hình nào đó, hoặc giả là chính cái oan nghiệp của nhà này, đang ngăn cản không cho thầy trò thầy lại gần dinh cơ.



Sau khi dìu thầy nghỉ ngơi trên giường, Hiếu lẳng lặng đi xuống bếp tìm chút gì lót dạ cho hai thầy trò. Đang đi ngang qua gian nhà chính, bỗng những tiếng thì thầm to nhỏ từ phía sảnh vọng vào tai khiến Hiếu khựng bước. Hiếu khéo léo nép mình sau hàng cột gỗ lớn, nín thở nghe ngóng.

Bên ngoài, Ngọ đang ngồi vắt vẻo trên bộ trường kỷ, tay mân mê cái tẩu thuốc, đối diện là một tên nhìn dáng vẻ khá lưu manh, Hiếu nhận ra đó cũng là một trong những tên đàn em của Mạnh..

Tên kia vừa liếc mắt nhìn quanh vừa hối thúc: "Nè Ngọ, tao nói trước cho mày hay, chuyện tối nay hổng được có chút sơ sót nghe chưa. Anh Mạnh dặn cha con tụi bây chuẩn bị 'hàng' cho kỹ vào."

Ngọ nhếch mép cười, cái điệu cười nửa miệng đắc ý: "Mày khỏi lo hão. Tía tao đi chuẩn bị từ sớm rồi, còn tao thì lo liệu sẵn bên gian phụ. 'Hàng' lần này bao bảo đảm, chưa ai than phiền cha con ông Cò này nửa câu."

Gã gật gù, hạ thấp giọng hơn nữa: "Tốt! Anh Mạnh nói tối nay ảnh sẽ ghé sớm. Đặc biệt là lần này ảnh có dẫn theo cậu Ba Nghĩa tới chơi chung. Cậu Ba mà hài lòng thì tiền thưởng cho cha con mày hổng thiếu đâu."

Ngọ nghe nhắc tới tiền thì mắt sáng rỡ, gõ gõ cái tẩu xuống bàn cái cộp: "Cậu Ba mà chịu hạ mình tới đây thì thiệt là vinh hạnh cho tao quá. Mà nè, cho tao xin một chân vào chơi chung với nghe? Để mình tao ngồi ngoài canh cửa thì buồn chết."

Thằng kia cười hắc hắc, vỗ đùi bôm bốp: "Trời đất, mày mà cũng đòi 'chơi chung' sao Ngọ? Thôi được, anh Mạnh nói rồi, tối nay ai cũng có phần, miễn là tụi mày lo liệu cho cậu Ba thật êm xuôi. Nhớ dọn dẹp mấy đứa ăn mày ăn xin hay đám khách lạ đi chỗ khác, đừng để cậu thấy chướng mắt."

Ngọ gật đầu lia lịa: "Cái đó thì tao rành quá mà. Yên tâm đi!"

Đứng sau cột, Hiếu nghe từng lời mà lòng bàn tay siết chặt lại, móng tay đâm sâu vào da thịt. Một cảm giác lạnh lẽo nhưng đầy thỏa mãn chạy dọc sống lưng anh. Thì ra là vậy... Thằng Mạnh, tối nay sẽ dẫn xác tới đây.

Hiếu khẽ nhắm mắt, những hình ảnh máu me, tiếng la hét, ngọn lửa cháy hiện lên rõ mồn một. Hiếu hiểu rằng, thầy mình nói đúng, oán nghiệp của nhà Hội đồng đã quá nặng, không ai cứu nổi bọn họ nữa. Nhưng riêng thằng Mạnh... món nợ máu phải tính ngay tối nay.
 
Sửa lần cuối:
Vây hiện giờ, thông tin bác đã nắm được là gì rồi nè
chủ yếu là em vẫn hóng mục đích nhà ô Hội Đồng đang luyện món gì, chắc như mấy bác ở trên bảo thì khả năng cao là "thiên linh cái".
Mà có 1 chi tiết là cái cục đá đeo ở cổ mợ cả, rốt cục nó có nguồn gốc từ đâu đây:amazed:
 
chủ yếu là em vẫn hóng mục đích nhà ô Hội Đồng đang luyện món gì, chắc như mấy bác ở trên bảo thì khả năng cao là "thiên linh cái".
Mà có 1 chi tiết là cái cục đá đeo ở cổ mợ cả, rốt cục nó có nguồn gốc từ đâu đây:amazed:
Để em xong thằng Mạnh đã mới tới nhà Hội đồng, bác đợi nhé
 

Thống kê chủ đề

Ngày tạo
appler,
Người trả lời cuối
Harukukenly,
Trả lời
345
Lượt xem
35.238
Quay lại
Lên đầu trang