CHƯƠNG 10: Ả Phù Dung (1)
Dưới gốc bần già, có mấy cái đàn ông mình trần trùng trục, da dẻ ám khói đen nhẻm đang ngồi quây lại. Gió từ sông Cổ Chiên thổi vô lồng lộng, làm mấy tàu lá chuối đựng cá nướng cứ run bần bật.
Thằng Đực, một gã trai có bộ ngực vạm vỡ nhưng cặp mắt lúc nào cũng láo liên, hắn hớp một ngụm rượu đế khà lên một tiếng rõ kêu, rồi nhìn Thìn:
“Nè Thìn, tính ra mày sướng nhứt đám nghen. Vợ mới đẻ thằng cu Cò kháu khỉnh, mà tính làm gì kiếm tiền lo bú mớm, sắm sửa cho nó chưa mậy?”
Thìn xoay xoay cái chén mẻ trong tay, nhìn bọt rượu sủi tăm: “Sướng ích gì mày ơi. Ngặt nỗi vợ tao nó ốm yếu, tao thì trong túi hổng còn một đồng dính túi. Nhìn tụi nó đói khổ, tao thấy mình làm đàn ông mà tệ quá.”
Thằng Chín ngồi kế bên, tay đang gỡ miếng da cá cháy khét, bỗng hạ giọng ra vẻ bí hiểm: “Nói tới chuyện tiền bạc mới nhớ. Tụi bây nghe tin gì chưa? Cái bãi mả lạng bìa rừng phía trên kìa, có ông lái buôn tên Trạch ở đâu tuốt trên Chợ Lớn xuống mua đứt rồi.”
Cả đám đang nhậu bỗng im bặt. Thằng Đực trợn mắt: “Gì? Cái bãi đó ma quỷ nhiều, đêm đêm ma trơi bay lập lòe như đom đóm, ổng mua làm cái giống gì? Bộ định xây nhà trên đầu người chết sao?”
“Thì đó mới là chuyện lạ!” Thằng Chín tiếp lời, giọng càng nhỏ dần. “Nghe đâu ổng đang tuyển thợ phát hoang, san lấp mặt bằng để cất nhà. Trả tiền công hậu hĩnh lắm, một ngày làm là bằng tụi mình đi cày thuê cấy mướn cả tuần lễ chớ hổng chơi. Mà ngặt nỗi... hổng ai dám nhận.”
Thìn nãy giờ im lặng, bỗng ngước lên. Cái chữ "tiền công hậu hĩnh" nó đâm thẳng vô lòng Thìn như một cái dằm. Anh nghĩ tới cảnh vợ nằm ổ thiếu trước hụt sau, nghĩ tới thằng Cò tối tối khóc ngằn ngặt vì khát sữa.
Anh khẽ hỏi, giọng trầm xuống: “Thiệt hông Chín? Đất đó... bộ đáng sợ lắm sao?”
Thằng Chín chép miệng, đưa ngón tay cáu bẩn quẹt miệng chén cho khô rồi hạ giọng xuống, nghe liêu trai vô cùng: “Mày mới tới nên không biết thôi. Đất đó là để chôn người chết trôi, chết đường chết chợ từ hồi xửa hồi xưa. Hễ nước ròng là xương trắng lòi ra trắng nhách hà.”
Hắn chưa nói hết câu đã liếc quanh một hồi, như sợ có cái vong linh nào đứng sau nghe lén. Rồi hắn nghiêng người sát vô giữa mâm nhậu, giọng khàn đặc: “Nghe mấy cha đi giăng câu đêm kể lại, có đêm nước rút mạnh, gió hú lên từng cơn, thấy nguyên một cái bóng người cao nhòng đứng lù lù bên mé sông. Cái bóng đó… hổng có đầu. Chỉ đứng im lìm vậy thôi, mà hễ sáng ra là chỗ đó tanh rình mùi máu, cá tôm chết nổi trắng bụng lềnh bềnh, dòm kinh hãi lắm.”
Thằng Đực nghe tới đó khẽ rùng mình, bắp thịt trên vai hắn nổi da gà cục cục, nhưng vẫn cố cười hề hề cho đỡ sợ. Hắn châm thêm rượu cho đầy chén, nói lảng sang chuyện khác: “Ờ thì… mấy chuyện miệng bóng gió ấy mà. Nhưng mà thiệt tình, tía tao kể hồi trước có thằng cha nọ gan lỳ, lén ra đó móc sắt tìm đồ cổ, đêm về sốt mê man mấy ngày trời. Ổng cứ trợn mắt, hai tay quào cấu không trung, la hét kêu có con ma vú dài ngồi chồm hổm trên ngực, hai tay bóp cổ đòi lại đồ đã lấy.”
Một người khác nãy giờ chỉ lo nhắm cá, bỗng buông đũa, giọng thấp xuống như tiếng gió lùa qua bờ lau sậy: “Đâu chỉ có vậy. Có mấy người đi soi ếch còn thấy đốm lửa xanh lè, hổng phải đom đóm đâu nghen, nó to bằng cái chén, cứ bay là là mặt đất. Hễ ai yếu bóng vía bước theo là đi lạc vô rừng sậy cả buổi trời, cứ đi vòng vòng tới sáng. Lúc người ta tìm thấy thì mình mẩy dính đầy sình bùn với cỏ lác, mắt trợn trừng, miệng sùi bọt mép.”
Giữa lúc không khí đang trầm xuống vì mấy chuyện ma quỷ, bỗng từ ngoài lộ đất, thằng Lượm chạy xồng xộc vô tới mâm nhậu, mặt mày hớt hải, thở hì hục như trâu vật. Nó chưa kịp đặt đít ngồi xuống đã chống hai tay lên đầu gối, mắt sáng rỡ như bắt được vàng, giọng hổn hển: “Mấy cha… mấy cha nghe tin gì chưa? Ông Trạch… ông lái buôn mới về đó, ổng đang tiếp tục tuyển thợ khai hoang, xây dinh cơ. Ổng tuyên bố trả tiền công hậu hĩnh hơn gấp đôi, gấp ba lần đó tụi bây!”
Cái chữ “gấp ba” vừa lọt vô tai, mấy cái chén rượu đang đưa lên môi bỗng khựng lại giữa chừng. Thằng Chín nheo mắt, gặng hỏi lại cho chắc ăn: “Ổng điên hay sao mà trả tiền dữ vậy?”
Thằng Lượm quẹt mồ hôi trán, gật đầu lia lịa: “Thì bởi đất dữ nên ổng mới trả cao để mua mạng người ta làm liều chớ sao! Tui nghe nói ổng cần người gấp lắm, ai dám nhận làm là ổng phát tiền cọc trước một mớ liền.”
Không khí quanh mâm nhậu bỗng chốc lặng tờ, chùng xuống một cách lạ kỳ. Chữ “tiền” lúc này nó lơ lửng giữa làn khói. Ai nấy cũng đều sợ những bóng ma ngoài mé sông, nhưng cái cảnh nghèo đói, túng thiếu ở nhà nó còn đáng sợ hơn gấp vạn lần.
Thìn lặng lẽ đặt cái chén mẻ xuống tàu lá chuối. Tay anh vô thức xoa xoa lên khớp gối, đầu óc giờ đây không còn những hình ảnh ma quỷ nữa, mà chỉ văng vẳng tiếng khóc oe oe khát sữa của thằng Cò, gương mặt xanh xao của người vợ trẻ đang nằm ổ thiếu hụt đủ đường.
Thìn đứng phắt dậy trước tiên. Anh đưa bàn tay thô ráp phủi sơ lớp đất cát dính trên ống quần lãnh, rồi siết chặt nắm đấm lại trước khi buông ra.
“Thôi tao đi đây, ở đây ngồi bàn ra tán vô hoài, vợ con ở nhà cũng đâu có no bụng được, tụi mày muốn thì theo tao”.
---
Bãi đất ven sông vốn là chỗ hoang vu, nay bị đám thanh niên làng cào xới tới nát bấy. Tiếng lau sậy bị đốn ngã rào rào, tiếng cuốc nện xuống đất nheo nhẻo giữa cái nắng hanh hao của vùng Cổ Chiên. Đám thợ vừa làm vừa hăng hái bàn tán, có đứa mặt mày rạng rỡ hẳn lên vì mới nhận được tiền cọc.
Giữa cái không gian lộn xộn đó, ông Trạch lù lù xuất hiện. Ông ta người gầy nhom, da sạm màu nắng gió nhưng bộ đồ bà ba lụa đen bóng loáng cùng đôi dép đúc đã cho thấy cái danh lái buôn giàu có. Đi bên cạnh là Phước, đứa con trai trẻ măng lúc nào cũng đi hơi khom người, ánh mắt lờ đờ, ít khi nào nhìn thẳng vô mặt đám thợ trai tráng.
Nhưng người làm cho cả đám phải nín thở, lén lút đưa mắt dòm chừng chính là ông thầy pháp. Ông này mặc bộ áo dài sẫm màu đã cũ nhưng sạch sẽ, tay xách cái túi vải nặng chình chịch. Suốt buổi, ông hổng hé môi nói với ai một lời, cứ lầm lũi bước đi trên mảnh đất sình lầy. Cứ đi được một đoạn, ông lại dừng chân, cúi người đặt một cái hộp gỗ nhỏ xuống mấy chỗ đất mới đào lên.
Mỗi lần như vậy, ông thầy lại lầm rầm gì đó trong miệng, rồi mới ra hiệu cho thợ xúc đất lấp lại cho bằng.
Thằng Đực vừa hất một xẻng đất đầy rễ cỏ, vừa cười hỉ hả với Chín: “Nè Chín, mày xài tiền cọc sao rồi? Kiểu này xong việc, tao dư sức cưới con Lụa bên xóm dưới rồi nghen!”
Thằng Chín quệt mồ hôi, cười nhe răng: “Tao mới tạt qua đại lý gạo trả dứt nợ. Chủ quán nó thấy tao cầm tiền, nó đon đả hẳn ra, hổng còn cái mặt sưng sỉa như hồi tuần trước. Có tiền sướng thiệt tụi bây ơi!”
Thìn nãy giờ im lặng cào cỏ, bỗng dừng tay, nhìn về phía ông thầy pháp đang đi đằng xa, rồi hỏi nhỏ: “Tụi bây hổng thấy lạ sao? Làm nhà mà chôn mấy cái hộp gỗ nhỏ xíu đó khắp nơi, rồi ông thầy cứ lầm bầm như tụng kinh... Tao dòm mà thấy gai gai trong người.”
Thằng Đực tặc lưỡi, cười khà khà: “Trời đất, ông Thìn ơi ông Thìn! Nhà giàu người ta kỵ tuổi kỵ tên, cúng kiến là chuyện thường. Mày lo xa quá chi cho mệt xác. Với lại tại cái đất này nó ma cỏ nhiều chứ có gì đâu, ông thầy làm vậy tao còn thấy yên tâm hơn đó. Cứ làm cho lẹ rồi lãnh tiền về nuôi thằng Cò đi cha nội!”
Đang nói chuyện, bỗng tiếng dép đúc nện rầm rập trên nền đất cứng làm cả đám giật mình. Ông Trạch bước tới, theo sau là Phước và ông thầy pháp. Ông Trạch dừng lại ngay chỗ cái hộp gỗ mới chôn nửa chừng, mắt nheo lại nhìn đám thợ: “Tụi bây đang bàn tán cái gì đó? Việc xong hết chưa mà đứng đó tám chuyện?”
Thằng Chín lật đật cúi đầu: “Dạ... dạ tụi tui đang bàn chuyện cất nhà cho ông mau xong thôi mà.”
Ông Trạch hừ một tiếng, rồi chỉ tay xuống cái hộp gỗ nhỏ: “Tao nhắc lại một lần cuối cho tụi bây nghe. Mấy cái hộp này, đứa nào táy máy tay chân, hay tò mò mở ra xem... thì đừng có trách tao ác.”
Thằng Phước, con ông Trạch lúc này mới lên tiếng, giọng run run nhưng nghe lạnh lẽo: “Mấy anh nghe rồi đó, thầy pháp nói rồi, ai đụng vô bùa chú là ma quỷ nó theo tới tận cửa nhà đó. Mấy anh có muốn vợ con ở nhà gặp chuyện hông?”
Đám thợ nghe tới "vợ con" thì im phăng phắc, mặt mày đứa nào cũng tái đi. Ông thầy pháp đứng kế bên vẫn không nói một lời, chỉ đưa đôi mắt sâu hoắm nhìn lướt qua Thìn. Thìn lạnh sống lưng, vội vàng cúi xuống tiếp tục cào đất.
---
Một buổi trưa nọ, nắng đứng bóng gắt gao. Đám thanh niên thợ thầy sau buổi làm mệt lả đã kéo nhau ra bụi bần hóng gió sông mà ngủ gà ngủ gật, chỉ còn mình Thìn cố nán lại khuân mấy bao vôi cho gọn vô gian nhà tạm.
Đang lúc lúi húi, Thìn bỗng khựng lại khi nghe tiếng rì rầm phát ra từ sau tấm liếp rách của căn chòi lá. Giọng ông Trạch nghe đầy vẻ nôn nóng: “Thầy coi kỹ dùm tui, đất này yểm vậy đã chắc chưa? Tốn bao nhiêu tiền của tui hổng tiếc, miễn sao lấy cho được tiền vàng dưới đất này.”
Tiếng lạch cạch của chén sành va vào nhau, rồi giọng ông thầy pháp vang lên, trầm trầm: “Ông Trạch à, vàng này là vàng bị yểm từ xưa, không phải thứ lộc trời cho muốn lấy là lấy đâu. Đất này vốn dĩ là bãi mả lạng, oán khí tích tụ đời này sang đời nọ. Tôi đã cho chôn mấy cái hộp gỗ trấn thủ khắp nơi thực chất là để làm cái 'bùa bình an', tạm thời ngăn chặn đám hồn ma nó quấy phá gia đình ông khi xây nhà trên xương máu tụi nó.”
Ông thầy ngưng một nhịp, tiếng gõ lên mặt bàn gỗ nghe cọc cọc khô khốc: “Còn chuyện tìm được vàng hay không, nó còn tùy vô cái 'duyên' và cái 'phước' của gia đình ông tới đâu. Phải đúng người, đúng lúc mới tìm thấy, mới chạm vô được. Bằng không, vàng đâu chưa thấy, chỉ thấy tai ương chết chóc về ám quẻ cả dòng họ nhà ông thôi. Nhớ cho kỹ, đừng có táy máy!”
Thìn đứng chết trân sau cột nhà, hai tay vẫn còn ôm khư khư bao vôi nặng trịch. Mồ hôi hột chảy dọc sống lưng, thấm đẫm cái áo bà ba rách vai, lạnh toát dù ngoài kia nắng đang đổ lửa. Tai anh ù đi, đầu óc quay cuồng với mấy chữ “yểm mạng”, “vàng của người chết”.
Anh lén lút đặt bao vôi xuống, bước chân run rẩy lùi xa dần gian nhà tạm. Đầu óc anh rối bời những suy nghĩ: “Trời đất ơi, vàng bạc gì mà nghe ghê rợn vậy? Liệu mình làm ở đây có bị quỷ ám theo về tới nhà hông?”
Nhưng rồi Thìn đưa tay quệt mồ hôi trán, tặc lưỡi tự nhủ trong bụng:“Thôi kệ mẹ nó đi Thìn ơi! Chuyện nhà giàu tranh quyền đoạt lợi, yểm bùa yểm phép gì đó là chuyện của người ta. Mình phận nghèo, tay dính phèn, dính mồ hôi là để đổi lấy miếng cơm manh áo. Miễn ổng trả tiền sòng phẳng, mình hổng táy máy đụng vô đồ của ổng thì ma quỷ nào bắt bẻ mình chi cho cực?”
Thìn quay lưng đi lầm lũi về phía bờ sông, tự dằn lòng mình rằng số tiền công hậu hĩnh này chính là chiếc phao cứu mạng duy nhất cho vợ con lúc này. Lạ kỳ thay, từ ngày căn dinh cơ của ông Trạch hoàn thành khánh thành, không hề có một hiện tượng ma quái hay trở ngại nào xảy ra như lời đồn đoán. Đám thợ thầy rút đi hết, chỉ còn mình Thìn được ông Trạch giữ lại làm gia nhân trong nhà, bởi anh là đứa siêng năng, cần mẫn nhất trong đám.
Từ một gã thợ hồ tay trắng, Thìn chính thức trở thành người làm ở lại trong dinh cơ nhà ông Trạch. Anh cắm cúi làm việc từ tờ mờ sáng tới tối mịt, lầm lũi như cái bóng, chỉ mong ngày tháng qua mau, tích góp từng đồng lương gửi về nhà cho vợ nuôi thằng Cò. Anh tự nhủ, chắc trời Phật thương tình nên mới cho anh chỗ làm ăn yên ổn, còn mấy lời ông thầy pháp nói ngày hôm đó, có lẽ cũng chỉ là chuyện hù dọa nhà giàu mà thôi.
---
Mười năm trôi qua, căn dinh cơ nhà ông Trạch giờ đây đã sừng sững, khang trang nhất vùng. Ông Trạch sau bao năm lao tâm khổ tứ thì cũng già yếu rồi đổ bệnh nằm một chỗ, mọi quyền hành đều giao lại cho Phước. Thằng Phước giờ đã là một ông chủ trẻ thực thụ, cưới vợ rồi sinh được một mụn con trai đặt tên là Quyền. Đứa nhỏ được bồng bế suốt ngày, tiếng cười đùa trong trẻo của nó lan khắp sân, làm người ta dễ quên đi cái quá khứ hoang lạnh của bãi mả lạng năm nào.
Thìn khi ấy cũng đã cứng tuổi, anh quen việc, quen cả từng tấc đất trên cái bãi sông này. Một chiều nọ, Phước sai anh cùng đám người làm đào thêm cái móng để xây gian nhà phụ. Đất mới xắn xuống chưa được bao lâu, lưỡi cuốc của Thìn bỗng khựng lại khi vấp phải một vật cứng ngắc.
“Keng!”. Tiếng kim loại va vào sành sứ vang lên khô khốc.
Thìn cùng mấy anh em xúm lại, hì hục gạt lớp sình lầy dẻo quánh. Một cái hũ sành lớn lộ ra lù lù dưới hố đất. Đuốc được thắp lên, ánh lửa nhảy múa chập chờn trên những gương mặt dính đầy bùn đất. Khi cái nắp hũ vừa được hé mở, một luồng ánh sáng vàng ròng hắt lên, rực rỡ đến lóa mắt.
“Vàng… Vàng hả trời? Vàng thiệt kìa tụi bây ơi!”. Một người kêu lên, giọng run lẩy bẩy vì kinh ngạc.
Nhưng ngay lập tức, một mùi xú uế tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí xộc thẳng vào mũi làm ai nấy đều buồn nôn. Lẫn giữa những thỏi vàng mười lấp lánh là những mẩu xương người trắng hếu, chồng chéo lên nhau, có mẩu còn nguyên đốt ngón tay nhọn hoắt. Cảnh tượng hãi hùng đó làm cả đám đứng hình, không ai dám thốt thêm lời nào, chỉ còn tiếng thở dồn dập hòa với tiếng côn trùng kêu râm ran ngoài bụi sậy.
“Mau… mau chạy đi báo cho cậu Phước đi!”. Ai đó hớt hải giục giã, rồi tiếng chân chạy thình thịch khuất dần vào nhà lớn.
Thìn đứng gần nhất, ánh vàng phản chiếu vào đôi mắt làm anh chớp liên hồi. Trong đầu anh lúc đó trống rỗng, một nỗi tò mò quyện lẫn sự tham lam mơ hồ kéo ghì lấy đôi tay. Anh vô thức đưa tay ra, chậm chạp, như có một sức mạnh vô hình nào đó điều khiển chứ hổng còn theo ý mình nữa. Anh nghĩ thầm trong bụng: “Vàng này là vàng thiệt hay vàng giả?”
Ngón tay Thìn run rẩy chạm vào. Nhưng cái anh chạm trúng không phải là kim loại lạnh ngắt, mát rượi, mà là một mảnh xương khô nhám sần, mục rỗng.
Ngay khoảnh khắc đó, toàn thân Thìn cứng đờ như bị sét đánh ngang tai. Một luồng khí lạnh buốt như băng giá từ mảnh xương chạy dọc theo cánh tay, xông thẳng lên óc rồi tỏa xuống dọc sống lưng. Tay anh tê rần, không còn chút cảm giác, rơi thõng xuống như một khúc gỗ mục. Thìn bật lùi lại, hai mắt trợn trừng, miệng há hốc ra mà không phát được thành tiếng.
Giữa lúc Thìn đang chơi vơi trong cơn ác mộng, tiếng dép nện rầm rập từ phía nhà lớn vọng lại mỗi lúc một gần. Phước cùng đám gia nhân chạy xồng xộc tới nơi, hơi thở đứt quãng. Đập vào mắt anh ta là cảnh tượng hãi hùng: Thìn ngồi bệt dưới đất, gương mặt thất thần, đôi mắt dại ra nhìn trân trân vào cái hũ sành chứa đầy vàng và xương trắng.
Phước bước tới, hơi nóng từ hơi thở và lòng tham tỏa ra hừng hực. Anh ta định thò tay thẳng vào hũ vàng thì mấy người làm đứng cạnh hoảng hốt can ngăn: “Cậu Phước… cậu đừng đụng vô! Coi chừng bùa ngải, coi chừng quỷ ám đó cậu ơi! Thằng Thìn vừa chạm vô là đứng hình như chết trôi rồi kìa!”
Phước hất tay đám người làm ra, đôi mắt rực lên một vẻ quyết liệt. Anh ta chầm chậm đưa tay vào, lách qua những mảnh xương người sắc lạnh, rồi dứt khoát móc ra một thỏi vàng ròng. Phước đứng lặng một hồi, chờ đợi một cơn lạnh buốt hay một sự trừng phạt nào đó, nhưng tuyệt nhiên không có gì xảy ra. Thỏi vàng trong tay anh ta nặng trịch, mát rượi và lấp lánh dưới ánh đuốc.
Phước lẩm bẩm trong miệng, giọng run run vì kinh ngạc: “Vậy là… chuyện ba kể… là thiệt sao? Đúng là vàng của mình… đúng là của nhà mình rồi!”
Phước nhớ lại lời ông Trạch về một bí mật nằm sâu dưới lòng đất, về cái "duyên" mà dòng họ nhà anh ta được hưởng. Anh ta siết chặt thỏi vàng, cười một nụ cười lạnh lẽo, mặc kệ Thìn đang ngồi co rúm đằng sau.
Từ sau hôm đó, Thìn hổng còn là Thìn của ngày xưa nữa. Anh trở nên lầm lì, đôi mắt lúc nào cũng như có một lớp sương mờ che phủ. Đêm đến, khi cả dinh cơ đã chìm trong tĩnh lặng, Thìn bỗng ngồi bật dậy trên sạp gỗ, mắt mở trừng trừng nhìn vào bóng tối mênh mông. Có lúc anh ôm đầu la hét thảm thiết, có lúc lại quỳ sụp xuống đất, chắp tay lạy lục lia lịa vào khoảng không vô định trước mặt.
Phước nhìn Thìn bằng ánh mắt xa lạ, xen lẫn sự ghê tởm và cả chút sợ hãi. Thìn giờ đây như một cái hình ảnh xấu xí trong dinh cơ khang trang này. Sau cùng, Phước gọi vợ của Thìn tới tới, sai đưa anh ta về nhà, kèm theo một bọc tiền bạc trắng nặng trịch. Phước lạnh lùng nói: “Nể tình chú làm cho nhà tui mười năm, số tiền này chú cầm lấy mà làm ăn sinh sống.”
Vợ chồng Thìn cầm bọc tiền, đôi bàn tay từng chạm vào mảnh xương khô ấy vẫn cứ run bần bật. Anh lờ đờ nhìn Phước, rồi nhìn bọc tiền, không nói không rằng, hai người cứ thế lầm lũi bước ra khỏi cổng dinh cơ.
---
Hiếu ngồi đó, những lớp băng trắng quấn quanh người như một cái xác ướp sống, đôi mắt rực lên dưới ánh đèn dầu. "Vậy là... nhà Hội đồng giàu lên từ số vàng xương máu đó sao thầy?"
Thầy Thiện Pháp khẽ gật đầu, chân mày khẽ nhíu lại: "Ông Thìn, ba của ông Cò đây, vì không phải "người được chạm vào" mà cố chấp chạm lấy, nên mới bị cái oán khí của đống của cải đó ám vào thân xác, nửa tỉnh nửa mê suốt mấy chục năm. Vừa nãy, thầy dùng kinh chú để tạm thời khai mở linh đài, giải bớt lời nguyền cho ông ấy, nên ông mới tỉnh táo được đôi chút mà kể lại cái gốc rễ của câu chuyện này..."
Thầy dừng lại một chút rồi nói tiếp: "Theo suy đoán của thầy, cả chục năm trôi qua... bùa trấn thủ của ông thầy pháp năm xưa có lẽ đã hư hỏng, hoặc là oán khí dưới bãi mả lạng kia quá nặng nên bùa chú bắt đầu yếu dần. Bởi vậy, ma quỷ dưới lòng đất mới bắt đầu ngoi lên, quấy phá và làm hại người trên mảnh đất này.
Hiếu khẽ lắc đầu, nụ cười cay đắng ẩn sau lớp băng: "Không đâu thầy... Không cần ma quỷ dưới đất ngoi lên đâu. Bản thân những người trong cái dinh cơ nhà Hội đồng đó, tất cả họ đều là ma quỷ rồi. Có khi, họ còn ác hơn cả ma quỷ dưới mảnh đất đó nữa."
Hai thầy trò lại rơi vào im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hiếu nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay quấn băng của mình, chợt hỏi: "Vậy bây giờ... chúng ta làm gì đây thầy?"
Thầy Thiện Pháp thở dài, nhẹ nhàng đặt tay bàn: "Đi ngủ đi con. Ngày hôm nay dài quá rồi, sức người cũng có hạn. Ngày mai, thầy trò mình sẽ ghé dinh cơ ông bà Hội đồng Quyền để tìm hiểu thêm".
Hai thầy trò nằm xuống giường. Thầy nằm đó, hai tay chắp trước ngực, mắt nhắm nghiền nhưng tâm trí chẳng được một giây yên ổn.
Thầy vốn là người học đạo trên núi cao, nay nhân duyên đưa đẩy mà xuống núi ngao du, ghé qua các cảnh chùa, đem cái sở học để giúp người giúp đời. Với thầy, vạn vật trên đời đều nằm trong một chữ "Duyên". Duyên tới thì thầy nhận, nợ tới thì thầy trả, chẳng cưỡng cầu mà cũng chẳng né tránh.
Thầy khẽ xoay người, lắng nghe tiếng vải băng gạc sột soạt từ phía Hiếu. Thầy không nhìn thấy những vết bỏng trên da thịt anh, nhưng thầy cảm nhận được hơi nóng hừng hực từ một ngọn lửa căm hờn đang cháy âm ỉ trong lồng ngực đứa đệ tử này. Thầy vẫn chưa rõ thực sự Hiếu, đứa đệ tử bị phỏng nặng đến mức quấn băng khắp người có mối liên hệ sâu xa gì với nhà Hội đồng Quyền. Thầy biết, việc Hiếu dẫn thầy đến đây, gặp cha con ông Thìn, ông Cò và nghe về hũ vàng nhà Hội đồng, tất thảy đều là những mắt xích của một định mệnh đã được sắp đặt từ trước.
Thầy khẽ thở dài, thầm nghĩ: “Thầy với con, hay cả nhà Hội đồng kia, cũng giống như những hòn sỏi nhỏ dưới đáy dòng sông Cổ Chiên này vậy. Dòng nước đã chảy, sỏi đá cứ thế mà bị cuốn đi. Sỏi không quyết định được mình sẽ tấp vào bờ hay chìm xuống vực sâu, tất cả đều theo dòng mà định đoạt. Chỉ mong sao, cái vòng oan nghiệt này đến đời này là có thể chấm dứt....”